Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Nguyên lý sáu mươi Hoa Giáp và năm bậc thang tốt xấu của tuổi

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp26/09/202613 phút đọc5 lượt đọc
Nguyên lý sáu mươi Hoa Giáp và năm bậc thang tốt xấu của tuổi

Trương Lương và Hàn Tín cùng tuổi Giáp, cùng phò một vị vua, cùng được hưởng Thiên Lộc, vậy mà một người nhàn du sơn thuỷ, một người đi đến chỗ bi thương. Cụ Thiên Lương chỉ ra chỗ khác nhau nằm ngay trong hai chữ tên tuổi: một đằng gốc nuôi ngọn, một đằng gốc chặt ngọn. Cái tiểu gia đình gồm Can và Chi ấy hoà hay khắc…


Luật âm dương chi phối vũ trụ và cái lý dư ra hai hành Thổ

Mọi sinh vật sống trong vũ trụ đã được nhận định theo luật âm dương. Cây cỏ cũng có hoa đực hoa cái, côn trùng con kiến cũng có con cái con đực, cho đến vật dụng hàng ngày hầu như cũng dị biệt giữa đực và cái. Luật âm dương chi phối vũ trụ mọi sự sinh hoạt. Không gian đã có thiên là phải có địa. Thời gian càng chịu ảnh hưởng nhiều hơn.

Đã có mùa đông giá lạnh, phải có mùa hạ nóng hầm, mùa xuân ấm tươi, phải có mùa thu dịu tàn.

Âm dương là tinh thần, phần vật chất là ngũ hành, Thiên can là dương, Địa chi là âm. Thiên can có ngũ hành của Can, Địa chi có ngũ hành của Chi. Ngũ hành của Can có cái dương và cái âm. Địa chi cũng vậy. Âm dương ngũ hành của Can có 10 chữ rất rành mạch. Nhưng địa chi sao lại 12, thấy trội dư 2 cái Thổ, một dương và một âm.

Thấy rằng thời gian của 4 thời tiết từ cái xanh tươi (xuân) đến nắng gắt (hạ) lần theo mát dịu (thu) kế tiếp lạnh lẽo (đông) rồi lại nối đến xanh tươi, thời gian cứ quanh quẩn như thế phải mất trên 365 khoảng mặt trời đồng thời gian đêm tối.

Căn cứ theo đó đặt tên là 1 năm có 365 ngày trung bình. Khoảng thời gian này cứ cách 2 lần lại phải điều chỉnh thêm chút ít cho đúng như thời tiết luân lưu. Đó là năm nhuận dầu rằng âm lịch hay dương lịch cũng vậy. Một đằng tính 29 hay 30 ngày làm một tháng (âm lịch), một đằng lấy 30 hay 31 ngày là một tháng (trừ tháng 2 có 28 ngày), thì đến năm nhuận, một đằng lấy thêm một tháng, một đằng lấy thêm một ngày cho vào tháng 2 là 29 ngày.

Khoảng 365 ngày căn cứ theo 4 mùa, nếu cũng lấy 10 địa chi như bên can thì chia nó lệch lạc, phải lấy thêm 2 cái thổ để ấn định thêm 2 tháng, mỗi tháng khoảng chừng 30 ngày, tức mỗi mùa 3 tháng tròn, cứ như thế luân lưu lấy 4 mùa làm một khoảng thời gian chủ đích làm 1 năm.

Mười can ghép mười hai chi, vì sao chỉ còn lại sáu mươi

Bốn mùa đã chia xong thì đến lượt hai hàng chữ trên dưới tìm nhau, và chính ở chỗ tìm nhau ấy mới lộ ra cái lý của con số sáu mươi.

Đáng lý 10 hoa giáp vào với 12 chi sẽ thành 120, nhưng xếp dương vào với dương, âm đứng với âm (can và chi) nên chỉ còn con số 60 gọi là 60 hoa giáp.

Nhìn vào 60 hoa giáp từ Giáp Tí đến Quí Hợi, 2 chữ Can Chi đứng chung với nhau không khác gì một tiểu gia đình. Can đứng trên làm gốc (chồng), chi tiếp theo là phụ (vợ). Biết rằng mỗi Can hay Chi đều có một tính chất riêng biệt là ngũ hành. Gia đình nào phu thê đầm ấm, sự nghiệp dầu lớn hay nhỏ hẳn là bước đường đời phải cứ sự tươi đẹp tương đối hơn ai, trái ngược vợ chồng xung khắc, ngày tháng trôi nổi trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, tưởng sự bất hạnh phải lâu nhiều hơn người.

Năm tuổi căn cứ vào Can và Chi, từ Giáp đến Quí (Can) vào với Tí đến Hợi (Chi) hẳn có sự luân phiên thay đổi, nhưng thay đổi tốt hay xấu phải phân tích cho ra nguyên lý và cũng là nguyên "ý" của Phục Hy âm thầm chỉ dẫn kín đáo.

Năm bậc thang tốt xấu ẩn trong hai chữ tên tuổi

Cái gia đình nhỏ gồm hai chữ ấy hòa hay khắc, cổ nhân đã xếp sẵn thành năm bậc, từ chỗ phúc đức hơn người xuống đến chỗ chua cay đầy rẫy.

Theo luật ngũ hành cái gì tương sinh là tốt, tương khắc là xấu. Vậy có thể hoạch phát một nguyên tắc như:

  • Tốt nhất: Can sinh Chi, ví dụ tuổi Giáp Ngọ, Can Giáp (Mộc) sinh Chi Ngọ (Hoả).
  • Tốt thứ nhì: Can và Chi đồng hành, ví dụ tuổi Giáp Dần, cả 2 đều là Mộc.
  • Tốt thứ ba: Chi sinh Can, ví dụ tuổi Giáp Tí, Chi Tí (Thuỷ) sinh Can Giáp (Mộc).
  • Xấu tương đối: Can khắc Chi, ví dụ tuổi Giáp Thìn, Can Giáp (Mộc) khắc Chi Thìn (Thổ).
  • Nghịch cảnh: Chi khắc Can, ví dụ tuổi Giáp Thân, Chi Thân (Kim) khắc Can Giáp (Mộc).

Năm trường hợp này chỉ là một tấm thu hình rất nhỏ của kiếp nhân sinh. Sự hên xui đã ấn định như thế đó, còn tuỳ định mệnh phác hoạ hạnh phúc (vòng Lộc Tồn) tuỳ vị trí an Mệnh Thân (vòng Thái Tuế bổ khuyết tư thế), nhất là Thân, chính đương số với vòng Tràng Sinh, đã khuôn xử làm được những gì để mua chuộc.

Như tuổi Ất Mùi, Mệnh ở Mùi (Thái Tuế), Thân ở Di (Tuế Phá), biết chữ Ất (Mộc) khắc chữ Mùi (Thổ) là đời tất nhiên gặp nhiều bước khó khăn. Nhưng Hợi Mão Mùi là 3 tuổi được hưởng hạnh phúc (Lộc Tồn của tuổi Ất), Thân ở Di (nghịch cảnh) là cung Sửu cô lập được chữ Thọ cho phụ mẫu, thì định mệnh mới ngăn cản được phần nào, nhiều hay ít là do chữ Tài được mệnh điều động đến ách cung.

Tóm lại vận hạn của từng cá nhân, nguyên lý là do thời tiết. Đã có cái nóng phải có cái lạnh, đã có xanh tươi phải có vàng héo, từng năm xuống đến tháng ngày giờ sinh thì đắc cách, khắc thì tai ương, phần chánh yếu là ở cái gốc, tức hàng can. Gốc được tưới bón hợp thời, cây được xanh tốt; gốc mà bị chặt cắt, dầu cây đương có nhiều hoa nụ tươi thắm, cũng phải úa vàng héo gục.

Mười can, mười hai chi và bốn khối tam hợp cục

Đã biết gốc quan trọng đến thế, phải xem lại cho kỹ từng chữ một trong hai hàng, xem mỗi chữ mang hành gì và đứng vào thế nào.

60 hoa giáp là 60 năm của 6 con giáp (Giáp Tí, Tuất, Thân, Ngọ, Thìn, Dần) nối tiếp nhau diễn chuyển bắt đầu từ Giáp Tí đến Quí Hợi. Mỗi năm mang một tên có 2 chữ. Chữ trên thuộc hàng Can, chữ dưới thuộc hàng Chi. Hai chữ hợp lại gọi là nạp âm có một hành chung khác hẳn, mặc dầu Can và Chi mỗi chữ có một hành riêng biệt.

Can có 10 chữ phân chia rành rẽ âm dương và đầy đủ ngũ hành đều nhau:

  • Sơ khai Mộc: Giáp (dương), Ất (âm)
  • Hoả: Bính, Đinh — Mộc sinh Hoả
  • Thổ: Mậu, Kỷ — Hoả sinh Thổ
  • Kim: Canh, Tân — Thổ sinh Kim
  • Thuỷ: Nhâm, Quí — Kim sinh Thuỷ

Trái lại hàng Chi có 12 chữ cũng đầy đủ âm dương ngũ hành:

  • Thuỷ: Tí (dương), Hợi (âm)
  • Mộc: Dần, Mão
  • Hoả: Ngọ, Tỵ
  • Kim: Thân, Dậu
  • Thổ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

Cái lý dư 2 hành thổ có ý tứ trong vũ trụ bất cứ hành gì dầu là Kim hay Mộc, Thuỷ hay Hoả đều là ở trong đất mà ra. Bốn hành này luôn luôn sinh khắc để trường tồn, bởi thế mới có liên minh tam hợp cục là thế đứng của tứ chính (Tí Ngọ Mão Dậu) để bồi đắp cho nhau củng cố ưu thế.

Vậy 12 Chi có 4 Chính, 4 Sinh, 4 Mộ lập thành 4 tam hợp cục là 4 khối có tôn chỉ riêng:

SinhChínhMộHành
ThânTíThìnThuỷ
DầnNgọTuấtHoả
TỵDậuSửuKim
HợiMãoMùiMộc

Một vòng của 10 can tuần tự ghép vào 12 Chi, mỗi năm thay đổi đáng lý là 10 x 12 = 120, nhưng vì luật âm dương nên chỉ có phân nửa, nghĩa là dương Can chỉ đứng với dương Chi, âm Can phải ghép với âm Chi mới đúng cách.

Đã viết cái nguyên do của 10 Can và 12 Chi, mỗi năm mang một cái tên có 2 chữ kể từ Giáp Tí đến Ất Sửu lần hồi cuối cùng là Quí Hợi. Mỗi tên có một tôn chỉ riêng là hành chung, nhưng cái hành riêng của mỗi chữ Can hay Chi vẫn phải nhìn nhận là quan trọng.

Cùng một hành mệnh, hai tuổi vẫn cách nhau cả một dặm đường

Hai chữ đứng với nhau, người đọc số quen nhìn vào hành chung mà quên mất gốc ngọn, nên mới có chuyện hai người cùng mệnh Mộc mà cảnh ngộ một trời một vực.

Hai chữ Can và Chi đứng với nhau không khác gì tình cảnh của một gia đình, có hoà hợp mới nên sự nghiệp, còn xung khắc nhau làm sao có hưng vượng.

Như 2 tuổi Canh Thân và Canh Dần cùng là Mộc mệnh, thật ra cảnh đề huề của mỗi tuổi một khác. Canh là Kim, Thân là Kim, cũng như cây có gốc (Can) ngọn (Chi) đều nhau hẳn là có 1 căn bản vững chắc, dẫu không hơn người cũng không hề kém ai. Còn Canh Dần thì Can Canh (Kim) khắc Chi Dần (Mộc). Cây mà gốc không tài bồi cho ngọn làm sao mà sinh nở tốt đẹp cho nổi, khác gì gia đình trống đánh xuôi kèn thổi ngược.

Hai tuổi Giáp Tí và Giáp Ngọ thấy cả 2 tuổi cùng tương sinh gốc ngọn, nhưng Giáp Ngọ khác biệt bỏ xa Giáp Tí rất nhiều. Giáp Ngọ có Can Giáp (Mộc) sinh cho Chi Ngọ (Hoả) nghĩa là gốc nuôi ngọn là thuận cảnh. Trái lại Giáp Tí thì Can Giáp (Mộc) được Chi Tí (Thuỷ) sinh lại, tức là ngọn nuôi gốc, tuy cũng là cảnh tượng sinh nhưng ngược chiều, cho biết ngay Giáp Tí không có khả năng vững chắc mà sự đề huề chỉ là may mà có. Huống chi Giáp Ngọ còn tiềm tàng căn bản phồn thịnh là tam hợp Lộc Tồn của tuổi Giáp (Lộc Tồn ở Dần), Thiên Lộc dành riêng cho người Dần Ngọ Tuất. Còn Giáp Tí đứng ngõ ngoài, muốn hưởng Lộc Tồn phải là Canh Tí (Canh Kim sinh Tí Thuỷ và Thân Tí Thìn là tam hợp hưởng Lộc Tồn tuổi Canh ở Thân).

Hai tuổi Giáp Thìn và Giáp Tuất là 2 tuổi đều hàng Can Giáp (Mộc) khắc Chi Thìn Tuất (Thổ). Hai tuổi này cũng cách biệt nhau cả một dặm đường: Giáp Tuất tuy Can khắc Chi, cuộc đời thấy nhiều trở lực, nhưng còn được dự phần tham dự chia sẻ Thiên Lộc tuổi Giáp. Giáp Thìn kể như là khách đi đường không liên quan gì đến, lại còn bị cảnh nghèo túng là Lộc Tồn thường trực có Tuần đóng kín, chỉ còn trông cậy vào bộ sao Sát Phá Tham nếu được thủ mệnh sống theo Hoá Lộc, tay làm hàm nhai. Trường hợp tuổi Giáp Thìn, mệnh đóng ở vị trí tam hợp Hợi Mão Mùi dầu được bộ Sát Phá Tham là nòng cốt cũng chỉ là kiếp nhân sinh được tạo hoá nặn ra để trả nợ đời, không mong gì sự nâng đỡ, vì vị trí của Sát Phá Tham ở Hợi Mão Mùi trường hợp nào cũng là đen tối, cố công xây đắp mấy cũng chỉ là hữu công vô lao (vị trí Thiếu âm Long đức Trực phù của tuổi Giáp Thìn).

Tóm lại tuổi của mỗi cá nhân có thể sắp xếp theo thứ tự tốt xấu có 5 bậc thang như sau:

  • Can sinh Chi: Phúc đức quá lớn, tiềm tàng một căn bản hơn người.
  • Can Chi đều nhau: có năng lực khá đầy đủ vững chắc.
  • Chi sinh Can: đời gặp may nhiều hơn thực lực.
  • Can khắc Chi: đời gặp nhiều trở lực.
  • Chi khắc Can: nghịch cảnh đầy rẫy chua cay.

Trương Lương và Hàn Tín: hai người tuổi Giáp, hai kết cục

Lý lẽ trên giấy chưa đủ sức thuyết phục, cụ Thiên Lương đem ra hai tấm gương mà sử sách còn ghi để cân đo cho người đời sau nhìn rõ.

Trương Lương, Hàn Tín là 2 người bạn đồng Triều phò trợ Hán Cao Tổ Lưu Bang lên nghiệp đế. Cả 2 người cùng tuổi Giáp:

  • Trương Lương tuổi Giáp Ngọ sinh ngày 6 tháng 5 giờ Thìn.
  • Hàn Tín tuổi Giáp Tuất sinh ngày 5 tháng 11 giờ Ngọ.

Cả 2 người mệnh cùng đóng tại vị trí tam hợp Thái Tuế là người hành động nêu cao chính nghĩa, cùng được bộ Tử Phủ Sát Phá Tham làm nòng cốt (đắc Khoa Quyền Lộc), cùng được hưởng Thiên Lộc là 3 tuổi Dần Ngọ Tuất. Nếu đem so tài thao lược, Hàn Tín còn ở trên Trương Lương một hạng, nên được Hán Cao Tổ phải lập đàn phong tướng, tự tay nâng ấn kiếm nguyên nhung trao cho Hàn Tín trước muôn thủ hạ cho có danh chánh ngôn thuận. Vậy mà cuộc đời Hàn Tín phải hứng chịu biết bao nhiêu thua thiệt kém Trương Lương.

Từ một kẻ thứ dân nương nhờ cơm Phiếu Mẫu, có lần nhẫn nhục luồn trôn thất phu ở kẻ chợ, đành rằng đời vĩ nhân phải trải qua nhiều cơn bĩ cực chờ Thiên Thời mới rõ vàng thau.

Trương Lương thuộc dòng Khanh Sĩ gặp buổi vong quốc cũng phải lang thang nay đây mai đó tìm mặt gửi vàng, đến đâu cũng được trọng đãi.

Phân tách những nét chính của hai lá số, trước nhất Trương Lương hơn Hàn Tín ở cái gốc tuổi Giáp Ngọ được Can sinh Chi, Hàn Tín bị Can khắc Chi (Giáp Tuất). Trương Lương mệnh ở vị trí Quan Phù có ý tứ tính toán kỹ càng dẫn dắt đời sống.

Hàn Tín ở vị trí Bạch Hổ, mỗi khi làm việc thì bất cứ giá nào làm cho kỳ đắc ý, còn tham vọng. Phúc đức của Trương Lương có Tham lang ở Thìn ngộ Tuần, hoà hợp đủ nghĩa với vị trí Mệnh, Quan Phù có thể từ bỏ mọi tham vọng để nhàn du sơn thuỷ. Hàn Tín Phúc Thất Sát triều đẩu bị cả Tuần lẫn Triệt. Phải chăng vì thế cuộc đời đi đến chỗ bi thương.

Ba tuổi Giáp được hưởng Lộc Tồn thì Giáp Ngọ đứng đầu vì Giáp sinh Ngọ, thứ đến Giáp Dần (Giáp và Dần đồng hành), đứng sau chót mới đến Giáp Tuất vì Giáp khắc Tuất. Trương Lương tuổi Giáp Ngọ đương nhiên được hưởng nhiều hạnh phúc hơn Hàn Tín tuổi Giáp Tuất.

Can là gốc là Phúc đức, Chi là ngọn là Thân thế

Hai chữ tưởng như xếp đặt ngẫu nhiên hiện ra đủ mặt: một chữ giữ phần gốc rễ, một chữ mang phần thân thế ra chống đỡ với đời.

Vậy tuổi mỗi cá nhân không phải là đương nhiên Can Chi tuần tự sắp xếp không có nghĩa lý, thật ra tiềm tàng một ý tứ sâu sắc như diễn tả hình bóng cả một cuộc đời.

Can là gốc là Phúc đức, Chi là ngọn là Thân thế. Hạn hành hên xui hàng năm xuống đến hàng tháng hàng ngày do Can của năm tháng ngày chế hoá với Can của Mệnh chiếm phần ưu tiên quan trọng điều khiển.

Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư — Thiên Lương

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp