Bài tổng quan
Nam mệnh Nhâm Ngọ: sinh phùng bại địa có thật hư hoa
Phú văn xưa nói người an mệnh ở bốn đất đào hoa Tí Ngọ Mão Dậu thì có phát cũng chỉ là phát hão. Đem một lá số an mệnh đúng đất Tứ Bại ra đối chiếu, người ấy lại hai lần làm nghị viên, hai lần làm huyện trưởng, rồi lên tới cấp bộ trưởng hành chính. Câu phú của cổ nhân sai, hay là ta đã đọc thiếu mất điều gì.
THÁI VI PHÚ CÓ MỘT CÂU MÀ NGƯỜI HỌC ĐẨU SỐ NÀO CŨNG TỪNG NGHE QUA. Câu ấy nói về người sinh gặp đất bại, rằng dẫu có phát thì cũng chỉ là cái phát hão. Nguyên văn Hán Việt là sinh phùng bại địa, phát dã hư hoa.
Sinh gặp bại địa, phát cũng chỉ là giả tạo bề ngoài.
Nói sinh phùng bại địa tức là nói người có cung mệnh ở bốn cung vị đào hoa Tí, Ngọ, Mão, Dậu, chủ về dù nỗ lực cũng chỉ được cái cục diện phát mà hão.
Bại Địa Là Gì Và Lấy Gì Làm Chuẩn
Thuật số gia cổ đại chia mười hai địa chi làm ba nhóm: Dần, Thân, Tị, Hợi là Tứ Trường Sinh, cũng gọi là Tứ Vượng Địa; Tí, Ngọ, Mão, Dậu là Tứ Mộc Dục; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Tứ Mộ Khố. Tứ Mộc Dục còn gọi là Tứ Bại Địa, do đó có thể nói bại địa tức là nói Tí, Ngọ, Mão, Dậu. Tí là bại địa của mộc; Ngọ là bại địa của kim; Mão là bại địa của hỏa; Dậu là bại địa của thủy và thổ.
Tại sao gọi là sinh gặp bại địa? Cần phải lấy nạp âm của cung mệnh làm cơ sở. Nếu cung mệnh ở cung Ngọ tức là sinh gặp bại địa. Trong Tử Vi Đẩu Số toàn tập, phần chú đoạn phú văn này nói lấy năm sinh nạp âm làm chuẩn là không đúng; phải lấy cung mệnh nạp âm làm chuẩn.
Vương Đình Chi giải thích rằng không phải cung mệnh chỉ cần ở bại địa thì lập tức phát cũng chỉ là giả tạo bề ngoài. Theo Tử Vi Đẩu Số toàn tập thì còn cần phải có thêm các sao hình, hao, kị, hung thì mới thành ra như vậy. Nói giả tạo bề ngoài tức là có tư thế nhưng không có thực chất, mọi thứ chỉ là hào nhoáng bên ngoài mà thôi. Nếu theo thuyết của Trung Châu phái Vương Đình Chi, các sao chủ về biến động rất sợ gặp bại địa, ví dụ như Thiên Cơ, Cự Môn ở cung Mão; nếu là Đinh Mão, nạp âm Đinh Mão thuộc hỏa, mà Mão là hỏa bại địa, thì mới là sinh gặp bại địa.
Tại sao nói người mộc tam cục cung mệnh ở Tí, người hỏa lục cục cung mệnh ở Mão, người kim tứ cục cung mệnh ở Ngọ, người thủy nhị cục và thổ ngũ cục cung mệnh ở Dậu, thì phú văn lại luận là sinh gặp bại địa, phát cũng chỉ là giả tạo bề ngoài? Người cung mệnh ở bại địa nhất định là phát cũng chỉ là giả tạo bề ngoài thực sao? Hay là như Tử Vi Đẩu Số toàn tập nói, phải phối hợp với các sao chủ về biến động như Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Thiên Cơ, Cự Môn và các sao hình kị, thì mới thuộc phạm vi ứng nghiệm?
Một Mệnh Bàn An Mệnh Ở Đất Tứ Bại
Câu hỏi ấy để nguyên đó, và đem ra một lá số thật để đối chiếu.
Dương nam, sinh giờ Dần, tháng mười, năm Nhâm Ngọ. Cung mệnh an tại Kỷ Dậu, có Hồng Loan, Địa Không, đại vận đầu khởi từ năm tuổi. Cung phụ mẫu ở Canh Tuất có Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thiên Diêu, Đà La. Cung phúc đức ở Tân Hợi có Thái Âm, Lộc Tồn. Cung điền trạch ở Nhâm Tí có Tham Lang, Kình Dương. Cung quan lộc ở Quý Sửu có Thiên Đồng, Cự Môn, Tả Phụ Hóa Khoa, Hữu Bật, Địa Kiếp. Cung nô bộc ở Nhâm Dần có Vũ Khúc Hóa Kị, Thiên Tướng. Cung thiên di ở Mão có Thái Dương, Thiên Lương Hóa Lộc, Thiên Hỉ, Hỏa Tinh, Thiên Khôi. Cung tật ách ở Giáp Thìn có Thất Sát. Cung tài bạch ở Ất Tị có Thiên Cơ, Linh Tinh, Thiên Việt. Cung tử nữ ở Ngọ có Tử Vi Hóa Quyền, Văn Khúc, Thiên Hình. Cung phu thê ở Mùi không có chính diệu. Cung huynh đệ ở Thân có Phá Quân, Văn Xương, Âm Sát.
Mệnh Cách Nhìn Từ Tứ Hóa Năm Sinh
Nam mệnh tạo thuộc thổ ngũ cục, cung mệnh ở Dậu, đúng như Tử Vi Đẩu Số toàn tập và Tử Vi Đẩu Số toàn thư nói là rơi vào đất Tứ Bại. Mệnh vô chính diệu, chỉ có Địa Không, Hồng Loan; đối cung có Thái Dương, Thiên Lương Hóa Lộc năm sinh, Hỏa Tinh, Thiên Khôi; tam phương có Thiên Cơ, Cự Môn, Thiên Đồng, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Khoa năm sinh, Địa Kiếp, Linh Tinh, Thiên Việt. Đúng như Tử Vi Đẩu Số toàn tập nói, các sao chủ về biến động đến hội hợp, mà cát tinh và sát tinh đại khái là ngang nhau.
Can năm sinh là Nhâm; lấy cung có can Nhâm để định tượng thì lai nhân cung ở cung nô bộc, gặp Hóa Kị năm sinh lại tự Hóa Kị. Can Nhâm là nhân của nhân, là ý tượng: người này rất tự phụ. Hóa Kị năm sinh ở cung Dần là Sách Mã Kị, ngoài việc chủ về mắc nợ bạn bè, chúng sinh, lại vì Hóa Kị còn tự Hóa Kị nên mệnh cách tiên thiên là tận tâm tận lực vì bạn bè; tóm lại, cho ra thì nhiều mà được bạn bè trợ giúp thì ít.
Thiên Lương Hóa Lộc năm sinh ở cung thiên di, ở bên ngoài rất có duyên với người. Tả Phụ Hóa Khoa năm sinh ở cung quan lộc, là ý tượng: người này là bậc thầy dạy học; nhưng tọa can Quý, mà Quý chủ về hao tổn tinh thần, dễ có biến động đột ngột. Tử Vi Hóa Quyền năm sinh tọa cung tử nữ, cung tử nữ cũng là cung vị giao tế, chủ về cách ứng xử ở bên ngoài.
Ba Cung Mệnh, Tật Ách, Phúc Đức
Cung mệnh can Kỷ, khiến Hóa Lộc nhập Vũ Khúc ở cung nô bộc gặp Hóa Kị năm sinh, là Lộc nhập hang động không có đáy; phi Hóa Khoa nhập Thiên Lương ở cung thiên di, phi Hóa Kị nhập Văn Khúc ở cung tử nữ, là tượng thường hay bận rộn ở bên ngoài vì công việc và vì chuyện của người khác.
Cung tật ách có Thất Sát tọa thủ, chủ về biến động; can Giáp lại ở cung Thìn, là ý tượng: người này rất độc lập, sống dựa vào bản thân, tính khí chấp trước. Can Giáp khiến Hóa Lộc nhập Liêm Trinh ở cung phụ mẫu, là người trọng sĩ diện; phi Hóa Kị nhập Thái Dương ở cung thiên di và xung cung mệnh, là ý tượng tính khí không tốt.
Cung phúc đức can Tân, khiến Hóa Lộc nhập Cự Môn ở cung quan lộc, là thường lo nghĩ về sự nghiệp; phi Hóa Kị nhập Văn Xương ở cung huynh đệ, là thể của sự nghiệp. Nói cách khác, hao tổn tinh thần vì các sự tình nội bộ trong sự nghiệp; xung cung nô bộc là tượng mệnh tạo có cách suy nghĩ khác với đồng sự, cấp trên.
Cách Cục Tài Quan
Tài cách: can Ất khiến Thiên Cơ tự Hóa Lộc, phi Hóa Quyền nhập Thiên Lương ở cung thiên di, phi Hóa Khoa nhập Tử Vi ở cung tử nữ, phi Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung phúc đức; là ý tượng rất biết kiếm tiền, cũng rất thích hưởng thụ, giao tế ở bên ngoài cũng tiêu xài nhiều tiền.
Quan cách: can Quý khiến Phá Quân Hóa Lộc ở cung huynh đệ, là thể của sự nghiệp, tức muốn làm tốt sự nghiệp; phi Hóa Kị nhập Tham Lang ở cung điền trạch và xung cung tử nữ. Cung tử nữ là cung vị nô bộc của cung sự nghiệp, nên cũng chấp trước công việc của bản thân và dễ có tình trạng không hợp với quan niệm của người khác.
Hành Hạn Qua Từng Đại Vận
Mười lăm đến hai mươi bốn tuổi
Mệnh tạo là vận đi thuận. Đại vận này trùng điệp với cung phụ mẫu của nguyên cục, là đại vận học hành. Hóa Kị năm sinh lại tự Hóa Kị ở cung nô bộc của nguyên cục, tức cung quan lộc của đại vận, là tượng vận học hành không tốt, cũng là tượng khí vận của cha không tốt. Cung mệnh của đại vận là can Canh, phi Hóa Lộc nhập Thái Dương ở cung nô bộc của đại vận, tức cung thiên di của nguyên cục, gặp Hóa Lộc năm sinh là trùng điệp xuất Lộc, chủ về thời kì đi học giao du nhiều bạn bè ở bên ngoài; phi Hóa Kị nhập Thiên Đồng ở cung điền trạch của đại vận, tức cung quan lộc của nguyên cục, là tượng thành tích học tập không cao.
Nguyên cục quản đại vận: trong đại vận thứ hai, cung mệnh của nguyên cục là can Kỷ, phi Hóa Lộc nhập Vũ Khúc ở cung nô bộc của nguyên cục, tức cung quan lộc của đại vận. Vũ Khúc là tài tinh, gặp Hóa Kị năm sinh lại tự Hóa Kị; Văn Khúc Hóa Kị ở cung tử nữ của nguyên cục, tức cung tài bạch của đại vận. Rõ ràng là tượng tâm trí luôn muốn đi ra ngoài với bạn bè để kiếm tiền, không có tinh thần để học lên cao. Chứng nghiệm: học lực của mệnh tạo chỉ tốt nghiệp đại học.
Hai mươi lăm đến ba mươi bốn tuổi
Đại vận này trùng điệp với cung phúc đức của nguyên cục. Cung mệnh của đại vận là can Tân, phi Hóa Lộc nhập Cự Môn ở cung phúc đức của đại vận, tức cung quan lộc của nguyên cục, gặp Tả Phụ Hóa Khoa năm sinh và Cự Môn tự Hóa Quyền; phi Hóa Kị nhập Văn Xương ở cung tử nữ của đại vận, tức cung huynh đệ của nguyên cục. Là ý tượng: trong hạn này về công việc, mệnh tạo khéo tạo mối quan hệ hòa hợp, có tượng thăng tiến, ở bên ngoài dễ được bạn bè trợ giúp. Chứng nghiệm: trong vận này, ngoài việc làm ăn kiếm tiền, mệnh tạo còn luôn tích cực tham gia sinh hoạt đoàn thể ở địa phương.
Ba mươi lăm đến bốn mươi bốn tuổi
Đại vận này trùng điệp với cung điền trạch của nguyên cục. Cung điền trạch chủ về kho tiền, gia vận, và cũng chủ về mệnh tạo, vì là cung vị âm dương của nhau với cung mệnh của nguyên cục. Cung mệnh của đại vận là can Nhâm, phi Hóa Lộc nhập Thiên Lương ở cung điền trạch của đại vận, tức cung thiên di của nguyên cục, và chiếu cung tử nữ của đại vận, tức cung mệnh của nguyên cục; phi Hóa Quyền nhập Tử Vi ở cung thiên di của đại vận, tức cung tử nữ của nguyên cục; phi Hóa Khoa nhập Tả Phụ ở cung phụ mẫu của đại vận, tức cung quan lộc của nguyên cục; phi Hóa Kị nhập Vũ Khúc ở cung phúc đức của đại vận, tức cung nô bộc của nguyên cục. Trong vận này, ở bên ngoài không những có quyền mà còn có danh, nhưng về công việc thì hao tổn tinh thần vì chúng sinh. Chứng nghiệm: trong hạn này liên tiếp hai lần được bầu làm nghị viên của huyện.
Bốn mươi lăm đến năm mươi bốn tuổi
Đại vận này trùng điệp với cung quan lộc, là cung tam hợp của nguyên cục. Cung mệnh của đại vận có Tả Phụ Hóa Khoa năm sinh và Cự Môn tự Hóa Quyền; luận về tượng, Hóa Khoa năm sinh còn gặp tự Hóa Quyền, trong vận này có tượng vừa có danh vừa nắm quyền. Can Quý khiến Hóa Lộc nhập Phá Quân ở cung tật ách của đại vận, tức cung huynh đệ của nguyên cục; phi Hóa Kị nhập Tham Lang ở cung huynh đệ của đại vận, tức cung điền trạch của nguyên cục. Lộc nhập tha cung, Kị nhập ngã cung, tức Lộc đi theo Kị, là ý tượng được bạn bè trợ giúp có lợi ích thực tế. Chứng nghiệm: trong hạn này liên tiếp hai lần được làm huyện trưởng.
Năm mươi lăm đến sáu mươi bốn tuổi
Đại vận này trùng điệp với cung nô bộc của nguyên cục. Cung mệnh của đại vận có Thiên Tướng và Vũ Khúc Hóa Kị năm sinh lại tự Hóa Kị, là ý tượng trong vận này bận rộn vì chuyện của chúng sinh. Thiên Lương Hóa Lộc năm sinh ở cung phụ mẫu của đại vận, tức cung thiên di của nguyên cục, và chiếu cung tật ách của đại vận, tức cung mệnh của nguyên cục; Tử Vi Hóa Quyền năm sinh ở cung quan lộc của đại vận, tức cung tử nữ của nguyên cục, và chiếu cung phu thê của đại vận, tức cung điền trạch của nguyên cục. Là ý tượng: trong vận này không những bận rộn vất vả, đồng thời còn có tượng thăng tiến thêm một bậc. Cung mệnh của đại vận là can Nhâm, Hóa Kị năm sinh lại tự Hóa Kị, chuyển phi Hóa Lộc nhập Thiên Lương ở cung thiên di của nguyên cục và chiếu cung mệnh, tức bận rộn ở bên ngoài nhưng dễ được thăng quan. Chứng nghiệm: năm mươi tám tuổi đảm nhiệm chức vụ ở cấp bộ trưởng hành chính, đồng thời làm tổng giám đốc của một công ty tư nhân.
Sáu mươi lăm đến bảy mươi bốn tuổi
Đại vận này đến cung thiên di của nguyên cục. Cung mệnh của đại vận là can Quý, phi Hóa Lộc nhập Phá Quân ở cung nô bộc của đại vận, tức cung huynh đệ của nguyên cục; phi Hóa Kị nhập Tham Lang ở cung tử nữ của đại vận, tức cung điền trạch của nguyên cục, rồi xung cung điền trạch của đại vận, tức cung tử nữ của nguyên cục. Là ý tượng: không còn bận rộn chuyện của chúng sinh. Hóa Kị nhập cung điền trạch của nguyên cục và xung cung tử nữ của nguyên cục cũng chủ về không còn hoạt động giao tế ở bên ngoài, tức trong hạn này về quê quy ẩn dưỡng già.
Phú Văn Cổ Chỉ Là Tư Liệu Tham Khảo
Đương nhiên, chỉ đưa ra một trường hợp mệnh ở đất Tứ Bại thì không đủ để nhận định tính xác thực của phú văn trong Tử Vi Đẩu Số toàn thư. Nhưng trên thực tế, ngoại trừ cá tính khá chấp ngã, thì năng lực và tài cán của mệnh tạo đều rất tốt; ra làm quan rất được lòng dân, cấp trên cũng xem trọng, rồi đảm nhiệm chức vụ lên đến cấp trung ương. Về nguyên tắc, e rằng không thể nói đó là phát cũng chỉ là giả tạo bề ngoài.
Ví dụ trên đây không có ý chê bai phú văn của cổ nhân, vì đây là những tinh túy truyền đời của người xưa. Nhưng các phú văn cổ thường chỉ nêu ra những cách cục mang tính khái quát rất cao, trong đó không liệt kê đủ các điều kiện phải có, nhất là phương diện phi cung hóa tượng vốn bị cổ nhân giấu kín. Thêm vào đó, dù sao thì những phú văn này cũng là sản vật của một hoàn cảnh thời gian và không gian nhất định; vì thời gian và không gian khác nhau, cuộc sống thì luôn thay đổi, nhất là ở xã hội hiện đại mọi thứ đã thay đổi rất lớn so với thời cổ đại.
Cho nên tuy những phú văn này vẫn là tư liệu quý đáng tham khảo, nhưng tính thực dụng của nội dung đã giảm đi rất nhiều. Các nhà Đẩu Số không thể chỉ ôm khư khư phú văn mà phán như đinh đóng cột; nếu không, sẽ đánh mất cơ hội thâm nhập chỗ sâu kín nhất của Tử Vi Đẩu Số.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 11 "Luận đoán mệnh bàn thực tế", mục "Nam mệnh sinh năm Nhâm Ngọ".
