Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Năm giờ kỵ của trẻ sơ sinh và cách yểu người lớn

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202615 phút đọc6 lượt đọc
Năm giờ kỵ của trẻ sơ sinh và cách yểu người lớn

Đứa trẻ sinh vào giờ kim sà thì dù có số cũng đau yếu luôn luôn, còn sinh vào giờ dạ đề thì chỉ hay khóc về đêm. Năm giờ kỵ ấy khác nhau xa đến thế, mà cách đếm ra chúng lại phải xoay thuận rồi xoay nghịch quanh mười hai cung. Qua khỏi mười ba tuổi, lá số ngừng xét giờ sinh và bắt đầu đo bằng một thứ thước hoàn toàn khác…


Thế nào là yểu và cách yểu của trẻ con

Ranh giới thọ và yểu

Thông thường, xem như yểu, khi:

  • Trẻ con sinh ra không nuôi được.
  • Người lớn sống không đến 40 tuổi, phải chết lúc thành nhân hay sớm hơn.

Quá 50 tuổi coi như tương đối thọ, đến 60 trở đi là thọ. Cái tuổi trên dưới 60 thông thường là tuổi già, sắp vào cõi thiên thu, ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt. Sở dĩ người ta quy định khoảng tuổi này có lẽ cũng vì tuổi chết trung bình của thời đại bấy giờ liên quan đến hạn đó.

Trước hết, cần bàn về cách yểu của trẻ con.

Trẻ con là ai

Danh từ trẻ con được dùng ở đây để chỉ trẻ sơ sinh, và con nít dưới 13 tuổi.

Hai loại này ít được khoa Tử Vi chú ý là vì cơ thể trẻ con còn ngọt ngào yếu, chưa đủ năng lực tồn tại lâu dài, còn chịu ảnh hưởng mật thiết của thời tiết, của bệnh tật nhiều hơn người lớn, chưa biết phép vệ sinh căn bản, phải tùy thuộc vào sự chăm sóc của cha mẹ. Lá số Tử Vi của trẻ có thể thọ, nhưng nếu thiếu sự chăm sóc chu đáo, trẻ vẫn có thể yểu sớm. Vì vậy, xem số trẻ con phải hết sức cẩn thận, và cho dù có dè dặt khi kết luận thọ yểu, mức độ chính xác cũng không được cao.

Cách yểu của trẻ con bao gồm một số cách căn bản thường được tính theo giờ sinh. Nếu phạm vào những giờ kỵ, trẻ con sẽ khó nuôi hoặc yểu. Vấn đề yểu mạng và khó nuôi thật sự liên quan mật thiết, mặc dù có khi hai việc không đi đôi với nhau. Khoa Tử Vi có liệt kê 5 giờ kỵ:

  • Giờ kim sà thiết tỏa, gọi tắt là giờ kim sà.
  • Giờ quan sát.
  • Giờ tướng quân.
  • Giờ diêm vương.
  • Giờ dạ đề.

Năm giờ kỵ của trẻ sơ sinh

Năm giờ kỵ nằm im trong ngày sinh, và chỉ một cách tính đếm thuận nghịch mới lôi chúng ra ánh sáng.

Giờ kim sà

Phạm giờ kim sà, triển vọng đứa trẻ rất bấp bênh. Cho dù có số cũng hết sức khó nuôi vì đau yếu luôn luôn. Nếu Bản Mệnh đứa trẻ bị ba (hay mẹ) khắc hành, thì càng khó sống.

Cách tính giờ kim sà rất phức tạp, vì quá nhiều giai đoạn:

  • Dùng cung Tuất, kể là năm Tý, đếm theo chiều thuận đến năm sinh.
  • Đến cung nào, kể cung đó là tháng giêng, đếm theo chiều nghịch đến ngày sinh.
  • Đến cung nào kể cung đó là mùng một, đếm theo chiều thuận đến ngày sinh.
  • Đến cung nào, kể cung đó là giờ Tý, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh thì dừng lại ở cung này.

Nếu là trai, mà cung này là cung Thìn hoặc là cung Tuất thì phạm giờ kim sà. Còn nếu cung này là cung Sửu hay cung Mùi thì phạm vào bàng giờ.

Nếu là gái, mà cung này là cung Sửu hoặc cung Mùi thì phạm giờ kim sà còn nếu rơi vào cung Thìn hay Tuất thì chỉ phạm vào bàng giờ.

Trong các trường hợp phạm giờ kim sà, trai hay gái, dễ yểu trước 13 tuổi. Còn nếu chỉ phạm vào bàng giờ thì có cơ may tồn tại, nhưng sẽ hết sức khó nuôi. Tuy nhiên, nếu Bản Mệnh đứa trẻ bị Bản Mệnh người mẹ hoặc người cha khắc (ví dụ như Thủy Mệnh của mẹ khắc Hỏa Mệnh con) thì ít hy vọng, đứa nhỏ sẽ có thể yểu, sau nhiều lần đau yếu. Thông thường, việc Bản Mệnh của mẹ khắc Bản Mệnh đứa trẻ được xem như nguy kịch hơn là Mệnh của cha khắc Mệnh con.

Tuy nhiên, trong trường hợp có hy vọng tồn tại, còn phải xem thêm cát sát tinh thủ Mệnh đứa trẻ quyết đoán cho chắc chắn.

Giờ quan sát

Phạm giờ quan sát, trẻ cơ hoặc hay đau yếu, hoặc hay bị tai nạn bất ngờ đe dọa sinh mệnh. Tai nạn này có thể xảy ra trong lúc sinh hay sau khi sinh.

Cách tính giờ quan sát dễ dàng hơn, chỉ dựa theo giờ, tháng sinh. Như vậy, trẻ sinh tháng 5 giờ Dậu thì phạm, tháng 9 giờ Sửu thì phạm. Cần lưu ý rằng phải tính giờ cho đúng để khỏi hoang mang. Quyển Tử Vi Hàm Số có liệt kê bảng tính giờ ở Việt Nam, kể từ 1-1-1943 bị trồi sụt đến 6 lần, có lần tăng đến 2 tiếng đồng hồ. Hiện nay (1974), giờ Việt Nam Cộng Hòa sớm hơn giờ chính thức và pháp định quốc tế một tiếng đồng hồ.

Cần lưu ý rằng tai nạn sơ sinh có ảnh hưởng sâu rộng đến tính nết đứa trẻ. Thông thường, tai nạn đó khiến đứa trẻ sau này rất ngỗ ngược, liều lĩnh, ngang tàng.

Giờ tướng quân

Phạm giờ này, trẻ hay bị bệnh, đặc biệt là ghẻ lở, và thần kinh không quân bình, thể hiện bằng tính khóc hoài không nín, khóc rất dai. Tuy nhiên, tính mạng đỡ lo, có hy vọng tồn tại nhiều hơn hai giờ kim sà và quan sát.

Cách tính giờ tướng quân dựa theo mùa sinh và giờ sinh, theo bảng:

Mùa sinhGiờ tướng quân
Xuân, từ 1-1 đến 30-3Thìn – Tuất – Dậu
Hạ, từ 1-4 đến 30-6Tý – Mão – Mùi
Thu, từ 1-7 đến 30-9Dần – Ngọ – Sửu
Đông, từ 1-10 đến 30-12Thân – Tỵ – Hợi

Ví dụ trẻ sinh mùa hạ vào giờ Tý hoặc Mão hoặc Mùi thì phạm giờ tướng quân. Cần lưu ý rằng ngày giờ trên đây là ngày giờ âm lịch cần phải tính cho đúng.

Giờ diêm vương

Phạm giờ này, trẻ con thường có nhiều chứng dị kỳ, như hay giật mình, hốt hoảng, trợn mắt, lè lưỡi, hầu như bị một ám ảnh nào lớn lao trong tâm trí mà đứa trẻ cơ hồ như ý thức được.

Cách tính giờ diêm vương căn cứ theo tháng và giờ sinh theo bảng dưới đây:

Mùa sinhGiờ diêm vương
XuânSửu – Mùi
HạThìn – Tuất
ThuTý – Ngọ
ĐôngMão – Dậu

Ví dụ trẻ sinh mùa Thu vào hai giờ Tý hoặc Ngọ thì phạm giờ diêm vương.

Giờ dạ đề

Phạm giờ này, trẻ chỉ hay khóc về đêm. Đây là triệu chứng rất thông thường, không phải là trường hợp khả yểu, nhưng cũng cần ghi để biết.

Cách tính cũng dựa theo tháng và giờ sinh âm lịch:

Mùa sinhGiờ dạ đề
XuânNgọ
HạDậu
ThuTý
ĐôngMão

Ví dụ trẻ sinh mùa Đông (từ 1-10 đến 12) vào giờ Mão thì phạm giờ dạ đề.

Trong số 5 giờ trên, chỉ có giờ kim sà và giờ quan sát là có liên quan nhiều đến việc thọ yểu. Còn các giờ kia không mấy quan trọng. Sở dĩ đặt ra lắm giờ phạm như thế vì ngày trước y học còn thô sơ, trẻ con thường hữu sinh vô dưỡng, chết non, bệnh hoạn nhiều. Hiện nay dưới ánh sáng của y học, những giờ tướng quân, diêm vương hay dạ đề chỉ là trường hợp thông thường, dễ chữa, không tổn mệnh.

Những yếu tố cần xét thêm và các trường hợp Không Kiếp

Giờ sinh chỉ mới là cánh cửa; sau cánh cửa ấy, lá số còn bảy sợi dây nữa quyết định đứa trẻ ở lại hay ra đi.

Dù sao, nhất là đối với hai giờ kim sà và quan sát cần được lưu ý cứu xét thêm những yếu tố sau:

  • Sự thuận lý hay nghịch lý của tuổi âm, dương với âm, dương tính của cung Mệnh.
  • Sự tương khắc, tương sinh về ngũ hành giữa Bản Mệnh và Cục.
  • Vấn đề sinh, vượng, bại, tuyệt địa của cung an Mệnh.
  • Sự sinh khắc giữa cung an Mệnh với chính tinh thủ Mệnh và với Bản Mệnh.
  • Những sát tinh thủ Mệnh, đặc biệt là Địa Không, Địa Kiếp.
  • Sự sinh khắc giữa Bản Mệnh và người mẹ với Bản Mệnh đứa trẻ.
  • Những xung kỵ khác.

Bốn yếu tố đầu đã được đề cập rồi. Đây chỉ bàn đến 3 yếu tố sau mà thôi.

Trường hợp Mệnh Không, Thân Kiếp

Cung Mệnh có Địa Không tọa thủ, cung Thân có Địa Kiếp, cho dù cả hai sao đắc địa cũng nguy kịch đến tính mạng, nhất là cung Thân hoặc cung Thân có Thiên Đồng, Thiên Lương hoặc Phá Quân tọa thủ, cho dù có cát tinh nào để đi cùng cũng vậy. Càng có thêm hung tinh, hao tinh, bại tinh, hình tinh, càng chắc yểu. Như vậy, Không, Kiếp, Đồng hoặc Lương hoặc Phá ở Mệnh hay Thân dù khai tử đứa trẻ.

Cung Phúc Đức ở đâu không quan trọng, vì đối với trẻ mới sinh, 1 tuổi thì được xem cung Mệnh. Dù Phúc có tốt cũng không đỡ nổi vì cung Phúc chỉ ứng vào 5 tuổi.

Trường hợp Mệnh Kiếp, Thân Không

Gặp Thiên Đồng hoặc Thiên Lương hoặc Phá Quân ở Mệnh hay Thân hội với Kiếp, Không như thế thì yểu.

Ngoài ra, nếu Mệnh vô chính diệu mà có Đào, Hồng và sát tinh khác hội tụ cũng chết non hoặc yểu sinh.

Trường hợp xung khắc Bản Mệnh với người mẹ

Nếu Bản Mệnh của mẹ khắc Bản Mệnh của con sơ sinh thì càng nguy kịch cho đứa trẻ. Nếu gặp thêm hai trường hợp trên thì chắc chắn không thọ. Nếu bị Bản Mệnh người cha khắc, không nguy kịch bằng.

Những xung kỵ khác

Quyển Tử Vi Đẩu Số của Thái Thứ Lang còn nêu thêm xung kỵ giữa năm sinh và giờ sinh như sau:

  • Sinh năm Dần, Ngọ, Tỵ, Dậu vào bốn giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì tối độc.
  • Sinh năm Dần, Hợi, Tỵ vào giờ Ngọ, Thân, Dậu, Hợi thì khắc cha, cha chết trước lúc con còn nhỏ tuổi. Nhưng, nếu qua 16 tuổi mà chưa mồ côi cha thì sự hình khắc đó coi như tiêu tán và cha con có thể chung sống lâu dài được.
  • Sinh năm Thìn, Tỵ, Sửu, Mùi vào giờ Tý, Ngọ, Mão, Tỵ, Hợi, Thân, Dậu thì khắc mẹ trước.

Ba loại xung khắc này phải được tính chung với ba cung Mệnh, Phúc và Phụ Mẫu để có thêm yếu tố xét đoán.

Tóm lại, xem số trẻ con chỉ cần xem một điều duy nhất đó là sức khỏe, thọ yểu. Không có quan trường, tài lộc, gia đạo… gì cả, bởi lẽ đứa nhỏ chưa có các sinh hoạt đó. Vì vậy, trong vòng 12 năm đầu, khi xem lần lượt mỗi cung năm đó mang tên gì cũng vậy. Đối với các sao cũng thế, chỉ xét đến ý nghĩa bệnh tật, thọ yểu, cơ thể của sao mà thôi. Phải chú ý đồng thời đến sao giải, sao phúc, sao may mắn.

Cách yểu của người lớn

Qua khỏi chặng mười ba tuổi, lá số thôi xét giờ sinh mà bắt đầu xét đến cả một cấu trúc của cuộc đời.

Qua khỏi chặng 13 tuổi, vấn đề thọ yểu được xét trong khuôn khổ của người lớn. Cần xét các yếu tố dưới đây:

Sự nghịch lý của Âm Dương

Đó là việc tuổi âm mà cung Mệnh đóng ở cung dương hoặc tuổi dương mà Mệnh đóng ở cung âm. Sự nghịch lý âm dương của cung Mệnh lôi kéo theo sự nghịch lý âm dương của cung Thân và của những cung cường.

Tình trạng này gây sự trục trặc căn bản và đa diện, tạo một yếu tố bất lợi cho cuộc đời nói chung và sự yểu nói riêng.

Sự đối khắc giữa Bản Mệnh và Cục

Đó là trường hợp hành của Cục khắc hành của Bản Mệnh. Vì Bản Mệnh là yếu tố căn bản nên sự đối khắc này rất quan trọng, tuy không hẳn là quyết định. Phải cứu xét thêm nhiều bất lợi khác.

Sự đối khắc giữa cung Mệnh và Bản Mệnh

Trong trường hợp Mệnh vô chính diệu, cung an Mệnh có hành khắc được hành của Bản Mệnh thì xấu.

Sự đối khắc giữa cung Mệnh, chính tinh của Mệnh và Bản Mệnh

Nếu cung Mệnh có chính tinh, cung an Mệnh khắc chính tinh đó, rồi chính tinh đó khắc lại Bản Mệnh một lần nữa. Bản Mệnh bị hai hệ cấp đối khắc sẽ bất lợi. Nếu chỉ bị một cấp khắc thì nhẹ hơn. Nhưng cần nhất là chính tinh đừng khắc Bản Mệnh vì hệ cấp này khắc trực tiếp hại cho Bản Mệnh.

Cung Phúc xấu

Phúc xấu làm cho dễ yểu hơn nữa. Cung Phúc xấu khi gặp những trường hợp sau:

  • Có chính tinh tốt, đắc địa mà bị Tuần hay Triệt hoặc bị cả Tuần lẫn Triệt. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất là Âm, Dương đắc địa ở Sửu, Mùi cần gặp Kỵ, Tuần, Triệt mới sáng lại.
  • Có chính tinh (tốt hoặc xấu, nhất là xấu) mà bị sát tinh nghịch cách xâm phạm. Số lượng sát tinh càng nhiều thì càng bất lợi. Nếu gặp hung hao, hình, bại tinh thì đỡ hơn.
  • Không có chính tinh mà thiếu Tuần, Triệt trấn đóng.
  • Không có chính tinh mà thiếu Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không hội chiếu.
  • Không có chính tinh mà bị xung chiếu bởi chính tinh hãm địa.
  • Cung Phúc ở bại địa và tuyệt địa.
  • Chính tinh của Phúc bị hành của cung khắc, chính tinh này lại khắc hành của Bản Mệnh.

Cần lưu ý rằng những bất lợi kể trên đây bổ túc thêm các bất lợi nói trên. Nếu chỉ gặp riêng những trường hợp xấu của cung Phúc thì trước hết là yểu, hoặc là thọ mà nghèo hèn, hoặc là bị bệnh tật và họa nặng, hết sức bất lợi cho sự sống, hoặc có thể vì bệnh, họa, tật và nghèo đói mà phải tự tử. Ý nghĩa của một cung Phúc là xấu là ý nghĩa đa diện. Càng gặp nhiều bất lợi chồng chất thì càng dễ yểu.

Cung Mệnh, cung Thân, cung Hạn cùng xấu

Gặp thêm ba cung này xấu, càng dễ yểu hơn. Cái xấu của ba cung này tương tự như cái xấu của Phúc. Hạn nào xấu nhất thì dễ yểu trong thời gian đó.

Nếu Mệnh tốt, Thân xấu gặp Hạn xấu sẽ yểu trong thời gian của Thân và của Hạn. Nếu Mệnh xấu, Thân tốt gặp Hạn xấu có thể đỡ khổ hơn: nếu không yểu trong thời hạn của Mệnh (trước 30 tuổi) thì có thể qua khỏi và sẽ hanh thông sau 30 tuổi, chỉ hiềm phải hết sức vất vả trong vòng 30 tuổi đầu, đặc biệt là trong vòng hạn xấu (cụ thể như nghèo, thất nghiệp, bệnh họa, tang khó, mồ côi, tự lập…).

Tóm lại Mệnh và Thân xấu là điều kiện tiên quyết về yểu. Còn yểu trong thời gian nào là do hạn quy định.

Cung Tật xấu

Nếu cung Tật tốt, chứa nhiều cát tinh thì có lợi cho sức khỏe và thọ. Nhìn rộng hơn, một cung Tật như thế cũng không mấy lợi vì sao tốt tụ ở Tật sẽ vắng bóng ở các cung cường. Vì vậy, chỉ cần cung Tật tốt vừa phải để cho cát tinh xuất hiện ở các cung cường. Duy nếu cung Tật mà xấu thì cá nhân rất bất hạnh về sức khỏe, về yểu dù có phú, có quý. Trong trường hợp này, ba cung Phúc, Mệnh, Thân phải đặc biệt tốt mới quân bình ít nhiều cái xấu của Tật.

Ba yếu tố quyết định việc yểu

Sau từng cung một, lá số gom lại thành ba sợi dây, và việc của người xem số là biết sợi nào đang siết chặt nhất.

Sự phân tích cho thấy có ba yếu tố quyết định phần lớn việc yểu:

  • Phạm vào những nguyên lý căn bản của lá số Tử Vi.
  • Phạm vào những cung căn bản có nhiều nghĩa yểu một cách trực tiếp như Phúc, Mệnh, Thân, Tật.
  • Sự xâm phạm đó không những nhiều mà còn nặng nề. Nhiều là gặp nhiều bất lợi kể trên. Nặng nề là khi các bất lợi chồng chất với nhau trên một khoảng thời gian nào đó, cụ thể như đại, tiểu hạn xấu trùng phùng thì họa vô đơn chí, dễ kết luận bằng cái chết.

Thông thường người xem số phải cân nhắc rất dè dặt, bởi lẽ ít khi gặp trường hợp hoàn toàn xấu hay hoàn toàn tốt mà có tốt có xấu lẫn lộn.

Nếu nhìn qua các cung dưới nhãn quan thọ yểu thì lúc nào cũng thấy các cung xấu có nghĩa yểu. Đối với các sao cũng thế. Có nhiều sao đa nghĩa, trong đó có nghĩa yểu. Nhưng, phải lưu ý riêng các cung, nhất là Phúc, Mệnh, Thân, có ý nghĩa đa diện: cái xấu có thể liên quan đến nhiều mặt chớ không phải lúc nào cũng chỉ xấu về mặt yểu. Thành thử, ta không nên nhìn lá số dưới một khía cạnh duy nhất mà phải xét trên nhiều phương diện.

Mặt khác, cần chọn lọc hướng luận đoán. Cái xấu có khi nặng về một vài mặt này mà nhẹ về một vài mặt khác. Chẳng hạn như có khi yểu, có khi không yểu mà chỉ bị bệnh, họa liên miên, hoặc có khi thọ, nghèo mà được quý. Ba lãnh vực phú, quý và thọ, hay nói khác đi là bần, hèn và yểu rất dễ lẫn lộn nhau nếu thiếu một hướng đoán thích đáng. Vì vậy, đoán số phải xét nhiều phương diện của cung, của sao đồng thời phải chọn lọc phương diện nào khả chấp nhất, không thể nhất thiết kết luận trên cả ba lãnh vực. Cái khó ở chỗ đó, cái hay cũng từ đó mà ra.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề