Bài tổng quan
Lá số mẫu Đồng Lương hưởng phúc êm đềm và khúc rẽ cuộc đời
Một lá số an bằng tay, đủ Khoa Quyền Lộc, không Không Kiếp nào xâm phạm Thân Mệnh, vậy mà người xem vẫn phải dặn: cẩn thận khúc rẽ ở tuổi ba mươi sáu…
Một lá số lập bằng tay và cách nhìn toàn cục
Tác giả giới thiệu một lá số mẫu mà ông tự an bằng tay, loại trừ những sao dỏm của phần mềm. Ông kể mình mất đến năm năm mới tìm ra bí quyết an lá số chuẩn, và khuyên người học cũng nên tập an lá số bằng tay trước. Sở dĩ ông không lặng lẽ dán tặng lá số mà đem ra phân tích là vì lá số này liên quan đến nhiều bài học gần đây, và chủ nhân của nó đồng ý để vừa phân tích vừa luận đoán, qua đó cho thấy cách đánh giá hay dở của một lá số.
Có người đọc bình luận rằng Tang Môn của lá số nằm ở Tài Bạch, tam hợp về Mệnh, còn Mệnh thì có Thiên Mã, Hóa Lộc, Bát Tọa, Phượng Các, Phong Cáo. Người khác lại cười rằng Đồng Lương thủ Mệnh tại Thân. Tác giả nhắc: muốn đoán Tử Vi không thể chỉ nhìn cục bộ mà cần nhìn toàn cục; nếu chỉ nhìn cục bộ thì ai cũng lập trình được cho máy đoán, còn với người viết thì chừng ấy mới là bước đầu “xây dựng cơ đồ” một lá số. Với dân Tử Vi thì đó không chỉ là kỳ lạ mà còn là kỳ diệu, bởi từ vài dấu hiệu ấy mà ngày sinh, tháng đẻ của chủ nhân lá số bị phơi bày ra một cách dễ dàng.
Còn nhìn toàn cục thì trước hết phải hỏi lá số thuộc cách nào và có sao dữ nào chen vào không.
Cơ Nguyệt Đồng Lương: êm đềm hưởng phúc
Lá số thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương: từ cung Mệnh đếm đủ bốn sao này là tốt. Còn những lá số có hai, ba, năm hay sáu sao thuộc các cách khác, ít hay hơn hoặc phức tạp hơn. Bộ sao này hay ở chỗ êm đềm hưởng phúc, cuộc sống an nhàn ít sóng gió, chẳng lo bệnh tật tai họa. Nhìn kỹ thì thấy không có Không Kiếp Kỵ Hình Hỏa Linh xâm phạm cung Thân Mệnh. Nếu có Đà La thì chỉ có giá trị khi đi với Đà Diêu hoặc Đà Kỵ, nhất là Diêu Đà Kỵ thành bộ Tam ám, hoặc nhị ám; Đà đi với Cự, Sát Phá thì mới rắc rối.
Tang Môn cũng là sao xấu nhưng đi với Phượng Các lại hóa tốt, đi với Thiên Đồng lại hợp cách, ví như có đồng bọn che chở nhau. Từ cung Mệnh có đủ ba sao Tam Hóa Khoa Quyền Lộc, nên các câu phú đều ứng:
Khoa Quyền Lộc hội, phú quý song toàn.
Khoa Quyền Lộc củng, danh dự chiêu dương.
Khoa Quyền Lộc đối củng, được tam cấp ư Vũ Môn.
Khoa Quyền Lộc trùng phùng, phúc tất trùng lai.
Người khác thì phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí; còn lá số này được hưởng phúc tất trùng lai. Thêm Văn Xương bên cạnh Hóa Khoa, có Lực Sĩ, nên đành gọi “nữ sĩ”. Đến một độ tuổi nào đó vớ thêm Văn Khúc nữa là đủ bộ Xương Khúc văn chương nghệ thuật. Xét về tài năng thì rất ngon lành.
So với lá số của một học giả: Kình Khoa và Đà Khoa
Lá số này rất giống lá số mẫu của một học giả thế kỷ hai mươi, sinh năm Mậu Thân, nam, giờ Tý. Đếm sao thì lá số này hơn, nhưng chưa chắc kịp ông vì hai sao Âm Dương sáng, và ông là Kình Khoa còn lá số này là Đà Khoa. Kình chủ trên, thượng, cao; Đà chủ dưới, hạ, thấp. Tác giả cần so sánh để chứng minh một điều: cách Cơ Nguyệt Đồng Lương không phải để làm chính trị mà để làm khoa học. Vị học giả ấy từng làm bộ trưởng do hạn đáo Liêm Trinh; chính trị là trò chơi không phù hợp nhóm sao này nên ông bỏ cuộc chơi. Người ta vẫn nhớ tài năng khoa học của ông, chẳng ai quan tâm đến việc làm bộ trưởng ấy.
Chủ nhân lá số mẫu cũng sẽ bị xô đẩy vào sinh hoạt chính trị do Vũ Khúc lôi kéo, cổ vũ; khi nào thoát ra được là thoát nhanh. Nên viết những điều mình thích, vì chỉ có ham thích mới thành công, còn viết vì tiền thì khó thành công.
Tài lộc, thời cơ và khúc rẽ cuộc đời
Về tài lộc có bộ Minh Lộc Ám Lộc, thấp nhất là không sang cũng giàu, cao nhất là chí công khanh:
Minh Lộc Ám Lộc vị chí công khanh.
Minh Lộc Ám Lộc cẩm thượng thiêm hoa.
Minh Lộc Ám Lộc phi vinh tắc phú.
Cao chót vót thì dễ đổ, nên chọn “phi vinh tắc phú”, không sang cũng giàu cho chắc ăn. Lá số có Thiên Cơ tốt đẹp, ra đời hợp thời cơ: học gì, làm gì cũng hợp thời, hợp thời đại. Đến tuổi hai mươi sáu lại có Cự Môn với bước khởi đầu vững chắc. Tuy nhiên đến ba mươi sáu tuổi là “khúc rẽ cuộc đời” kém đẹp. Trong ba sao quan trọng chiếm ưu thế hai phần ba, chưa ai có ưu thế ba phần ba. Để so sánh, tác giả tự đánh giá mình: Thiên Cơ ngộ Không, sinh bất phùng thời, lại chơi tiếp “khúc rẽ tối tăm” mười năm sau mới gặp “bước khởi đầu”, nhưng gặp ngay ở nghĩa địa; tự chấm là không điểm trên ba.
Đồng Lương tại Mệnh: nghĩa của hạnh phúc
Tác giả vừa viết một loạt bài về cách Cơ Đồng nên nhân đây hỏi một câu: nữ Mệnh Thiên Đồng, phú bảo “tất thị hiền”, có thật không? Chắc phải thật thôi, vì đó là ngôi sao con nít, lấy nhõng nhẽo làm thú vui. Đã là sao con nít thì sợ già nua, mai mốt tốn tiền mua thuốc nhuộm; mà nghe nói thuốc nhuộm có pha chì độc lắm. Ra đường người ta bịt mặt như ninja chống tia cực tím thì nhiều, chống bụi thì ít.
Phú viết “Ám Phúc Mệnh Thân bất phạ tai ương”: Ám là Thiên Lương, Phúc là Thiên Đồng, bất phạ là không sợ tai ương. Cùng lúc có cả hai sao này ở Thân Mệnh thì không sợ bệnh tật, tai ương xâm nhập, đạn bắn không thủng, dao đâm không lủng, vì có ngôi sao “bóng mát cuộc đời” che chắn; nhờ vậy ăn gì cũng ít đau bụng. Tác giả vui miệng bảo muốn thử nghiệm thì nên mua trước thuốc phòng.
Mệnh Đồng Lương có giá trị như từ hạnh phúc. Nết hạnh là sao Thiên Lương, may mắn và có phúc cũng là bộ sao này; phúc lành, duyên may, hạnh thông là toàn những từ tốt đẹp. Người có lá số mừng, người luận đoán tâm tư cũng nhẹ nhàng, không gì khổ tâm bằng những lá số xấu mà ngôn ngữ chạy trốn đâu mất. Muốn có lá số tốt êm đềm hưởng phúc như vậy cũng hiếm. Nhưng chỉ cần hai sao Không Kiếp tại Mệnh là hỏng, thành cách sống chung với giặc; đi với Tam ám là tật nguyền; đi với Hình Diêu tại vị trí Thái Âm là cay đắng. Vì thế kỹ thuật luận đoán cần biết các sao có phối hợp nhịp nhàng với nhau hay không. Có thêm Đại Hao tại đó làm đẹp thêm chữ phúc, ta có quyền gọi là đại phúc, đại may, đại phú. Cũng vậy với vua Quang Trung đại thắng quân Thanh: trên lá số ghi rõ cách Thất Sát cộng Đại, nhưng phải có đuôi chấm com là Quyền Khoa; ai đó có đuôi hung sát tinh thì ta có quyền gọi là đại ác, đại sát. Đại ở Mệnh còn là người tiêu tiền nhiều, tốn kém nhất ở nhà cửa và con cái.
Thiên Đồng là ngôi sao tốt bụng, mang nghĩa làm phúc. Nhưng tác giả nhắc điều từng viết: cần có bộ Khôi Việt mới phát phúc từ tâm, thiếu thì bụng chưa tốt mấy. Có khi cũng tốt, phát từ tâm chẳng qua do lưu Khôi Việt đi ngang Mệnh Thân; qua rồi thì thôi, không khéo tiếc rẻ cái mình đem cho. Ông than cái nông nổi của Thiên Lương, sao lại không sâu dày như Thiên Đồng. Người đọc muốn hiểu thêm gốc gác của sao này có thể xem bài về học phái Thiên Lương.
Thiên Đồng còn là ngôi sao bắt chước, nên lợi cho việc học ngoại ngữ: học ngoại ngữ giỏi chẳng qua là bắt chước giỏi. Tác giả kể một cô người nước ngoài nói tiếng Việt mà đặc sệt giọng Huế, vì sư phụ của cô là người Huế. Hàng nhái, hàng giả cũng từ Thiên Đồng mà ra, nhưng nhớ đừng nhái Tử Vi ứng dụng.
Vầng trăng và sắc đẹp
Thái Âm lấy biểu tượng là vầng trăng, nhưng “xinh” nữa thì chưa thấy: xinh là Đào Hoa, Hoa Cái, mà hai sao ấy không tụ tập ở Thân Mệnh; chừng ấy đã là bắt lỗi cưỡng ép từ ngữ. Nhưng đừng buồn, vì Văn Xương có tên riêng là Hoa, nên cũng là sao chủ vẻ đẹp mà lâu dài, ngon hơn Đào Hoa. Hay nhất là cách Hoa Khôi, và nếu có thêm cách Đồng Âm thì là hoa hậu tương lai.
Về tuổi thọ, thuộc hàng đại thọ; tác giả ghi số đại hạn từ chín mươi sáu tuổi trở lên. Phú có câu:
Lương xung, tọa thủ kiêm thọ toán.
Thiên Lương thủ chiếu, cát tương phùng, bình sinh phúc thọ.
Tai nạn, bệnh lý và những chuyển động
Về tai nạn có cách Cơ Lương Tang Tuế, nhìn từ vị trí cung Tài Bạch. Đây là cách té ngã từ trên cao, leo cây dễ dính nhất, các năm Dần dễ xảy ra nhất. Cần thận với bao lơn, cầu thang kẻo “trăng rụng xuống cầu”, tức răng rụng. Năm nào cần đi máy bay thì kiểm tra cung Tật Ách của năm ấy; nếu có lửa bốc, cộng với cách rơi từ cao thì nên cẩn thận.
Về bệnh lý thì dễ đau răng, đau thận; nhớ chải răng sau khi ăn đồ ngọt. Mệnh có Thiên Hư thì thế nào cũng nói chữ hư: hư răng còn dễ nghe hơn hư thân; trước mắt là mắt hư do Thái Âm hãm ngộ Đà. Đại hạn từ ba mươi sáu đến bốn mươi lăm tuổi là khúc rẽ cuộc đời xấu, xấu về địa vị, thanh danh, do con cái tác động làm những chuyện không ngờ. Nhưng người “bất phạ tai ương” đi ngang đây cũng dễ tổn thương không ít; may có Vũ Khúc là ngôi sao giải quyết tốt, hưởng cách giải pháp, có hướng giải quyết.
Về đi lại thì chuyển động nhiều: Phượng Mã là ngựa cất vó, nên đi xa, xuất ngoại, thậm chí đi nhiều hơn ở. Đại hạn hiện tại có thêm “rồng chuyển” là Long Hà, tức đang uốn éo đây đó, như kiểu đi tam xà hành của các cô người mẫu. Tương lai lại đến Cự Ly, tức khoảng cách càng đi xa nữa. Điều đáng nói là thường đi chung hai người, vì là ngôi sao con nít nên ra ngoài phải có người kèm. Tác giả khẳng định điều này đúng tuyệt đối: dám đi một mình đâu. Về tình yêu, tác giả thú nhận mặt trận này ông không rành mấy, vì còn nhiều mặt trận khác phải nghiên cứu; nhưng đại hạn đang đi qua ngôi sao tình yêu nên người học có lẽ đã nghiên cứu bài ấy kỹ rồi. Tiểu hạn có thế rất hấp dẫn: Tham Lang là trai đứng gần Liêm Trinh là gái. Muốn biết thêm về cung hôn nhân thì có thể tham khảo bài cung Phu Thê từ Tử Vi đến Liêm Trinh.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
