Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tính lý

Bài tổng quan

Tử Vi thời Lý học qua lời quả quyết của học phái Thiên Lương

Tử Vi Nam Phái - Tính lý26/09/202615 phút đọc5 lượt đọc
Tử Vi thời Lý học qua lời quả quyết của học phái Thiên Lương

Một cặp Liêm Tham hãm địa, một kỹ thuật an sao ổn định theo giờ sinh, rồi cuối cùng là một tuyên ngôn: Tử Vi không phải bùa chú đoán số mà là môn học về cấu trúc thời gian trong đời sống con người. Học phái Thiên Lương nói thẳng lời quả quyết ấy ngay trong bộ Nghiệm Lý Toàn Thư…


Vài quan điểm về Liêm Trinh – Tham Lang

Hai chính diệu Liêm Tham (chỉ ở 2 cung Tị và Hợi) gặp nhau là có ý nghĩa 2 bộ tam giác âm dương Sát Phá Tham gặp Liêm Tử Vũ hội nhập nhau (Tử Phá ở Sửu Mùi, điểm tụ của âm dương, nhưng lại là điểm tán của 2 sao Nhật Nguyệt) mà bộ Sát Phá Tham (dương) gặp Liêm Tử Vũ (âm) thì luôn luôn gây ra hãm địa ở 3 cung có 6 sao này đụng độ nhau. Tất yếu điểm lành thì ít, điểm xấu thì nhiều. Và chẳng cơ cấu chung quanh Liêm Tham cũng xấu: cung Bào là Thái Âm đóng cung dương Thìn Tuất (tệ nhất là Thái Âm ở Thìn), rồi cung Phúc lục hình cung Ách (mà Thân cư Phúc lại càng bá thở!). Cung Tài ôm gọn 2 ông Tử Phá, chán ơi là chán.

Tuy nhiên nếu Liêm Tham lại thuộc tuổi Tị-Dậu-Sửu hay tuổi Hợi-Mão-Mùi (để có vòng Thái Tuế ở cung Mệnh) thì chưa chắc đã xấu gì? Lại trở thành phán quan (nếu ôm vòng Thái Tuế) hay trở thành lực sỹ (hâm mộ thể thao là yếu nhất) một khi Liêm Tham ở mệnh lại thuộc vòng Tuế Phá - Thiên Mã.

Hình ngục nan đào là khi đương số sinh giờ Tý (tức là Ách có Thiên Hình) hay giờ Tỵ (mệnh có Thiên Hình) hoặc giả đương số sinh vào các tháng âm thì Không Kiếp (nhất là Địa Không) luôn bám trụ ở các cung mạnh (ảnh hưởng trực tiếp tới đương số) như: Mệnh - Quan - Tài và Phúc - Di - Phối (nếu như Thân cư ở các cung này Thân cư Phúc, Thân cư Di, Thân cư Phối).

Còn chỉ luận chung mạng Hỏa (hay mạng Thủy nếu Liêm Tham ở Hợi) thì có Liêm Tham ở mệnh (Tị Hợi) không sợ gì mấy về tù tội, điều này mơ hồ lắm. Tất cả phải bám vào cơ cấu của tinh đầu trong lá số (như 1 bàn cờ thế đã bày ra) và luôn luôn quan sát 3 vòng chính: Tràng Sinh – Thái Tuế – Lộc Tồn, được coi như xương sống của lá số Tử Vi. Một khi Liêm Tham đã có đủ 3 vòng này hội nhập (vòng Tràng Sinh chỉ có Kim cục và Mộc cục) thì lo gì hình ngục nan đào?

Việc luận thêm Tuần Triệt và Hóa Kỵ đóng thêm vào cung của Liêm Tham vẫn chỉ là cách coi Tử Vi trên cơ chế "Vocabulary" chứ chưa có cú pháp văn phạm gì cả thì làm sao mà sáng tỏ được.

Vậy chừng nào mà người nghiên cứu Tử Vi quên cái cơ cấu ổn định trong từng lá số thì vai trò của các nhà tử vi gia chuyên coi sao (tinh đầu) còn đất dụng võ và tử vi còn… mơ hồ! Có thêm Tuần Triệt và Hóa Kỵ ở Liêm Tham chỉ là thêm gia vị cho món ăn, còn món ăn này ngon hay dở thì phải luận tới các sự liên hệ vào các cơ cấu tinh đầu trong lá số Tử Vi nữa.

Lê Hồng Đức (Học phái Thiên Lương)

Từ chuyện một cặp sao khó tính, người viết dẫn sang một điều còn nền tảng hơn: muốn hiểu vì sao một sao lại đứng đúng chỗ nó đứng, phải nắm được "kỹ thuật ổn định" xếp đặt ra từng tinh đầu ấy trên lá số — bắt đầu từ hai cái tên quen thuộc, Văn Xương và Tả Phù.

Kỹ thuật ổn định của vài tinh đầu trong khoa Tử Vi

Theo sách vở xưa thì tinh đẩu Văn Xương an theo giờ, còn Tả Phù an theo tháng sinh, độc đáo là ở chỗ ấy.

An sao Văn Xương: sinh tháng giêng, an Văn Xương ở cung Tài Bạch; sinh tháng hai, ở cung Ách; sinh tháng ba, ở cung Di; sinh tháng tư, ở cung Nô; sinh tháng năm, ở cung Quan; sinh tháng sáu, ở cung Điền; sinh tháng bảy, ở cung Phúc; sinh tháng tám, ở cung Phụ Mẫu; sinh tháng chín, ở cung Mệnh; sinh tháng mười, ở cung Bào; sinh tháng mười một, ở cung Phối; sinh tháng mười hai, ở cung Tử Tức.

An sao Tả Phù: sinh giờ Tý, Tả Phù ở cung Phúc Đức; giờ Sửu, ở cung Điền; giờ Dần, ở cung Quan; giờ Mão, ở cung Nô; giờ Thìn, ở cung Di; giờ Tị, ở cung Ách; giờ Ngọ, ở cung Tài; giờ Mùi, ở cung Tử; giờ Thân, ở cung Phối; giờ Dậu, ở cung Bào; giờ Tuất, ở cung Mệnh; giờ Hợi, ở cung Phụ Mẫu.

Sao Văn Khúc thì căn cứ vào vị trí của sao Văn Xương mà di chuyển theo luật tán ở Thìn Tuất, tụ ở Sửu Mùi. Sao Hữu Bật cũng vậy, nghĩa là theo luật tán với Tả Phù ở Thìn Tuất, và tụ với Tả Phù ở Sửu Mùi.

Sự liên quan của sao Thiên Hình với cung an Thân: Thiên Hình với cung an Thân (cùng căn cứ vào giờ sinh) có sự liên quan và rõ ràng đây là dấu ấn của mỗi hành động do ta tạo ra. Như chúng ta đã biết Thân là hành động còn Thiên Hình là sự phán xét, kết cấu với nhau như bóng với hình: Thân cư Mệnh thì Thiên Hình ở Ách hay Phụ Mẫu; Thân cư Quan thì Thiên Hình ở Tử hay Điền; Thân cư Tài thì Thiên Hình ở Bào hay Nô; Thân cư Di thì Thiên Hình ở Phối hay Quan lộc; Thân cư Phúc thì Thiên Hình ở Tài hay Phúc.

Theo sách cổ thì an Thiên Hình theo tháng sinh nhưng nay học phái Thiên Lương lại chỉ căn cứ vào giờ sinh (điều này rõ ràng là nghiệm lý) mà phán xét. Thiên Hình nằm ở cung nào, trong số 12 cung liên hệ chung thân với cuộc đời của đương nhân. Bây giờ lại tìm ra cái liên hệ ổn định giữa cung an Thân với Thiên Hình như vừa nêu, rõ ràng có nhiều điều hay lạ.

Lại nữa, những cung Thiên Hình đóng luôn luôn ở thế xung đối (không bao giờ khác được) như Ách với Phụ Mẫu (khi Thân cư Mệnh), Tài Bạch với Phúc Đức (khi Thân cư Phúc), điều này giờ sinh đóng vai trò quyết định rất quyết liệt, chẳng hạn sinh giờ Sửu thì Thiên Hình ở Tài Bạch, mà sinh giờ Mùi thì Thiên Hình ở Phúc Đức (dù rằng cả hai giờ này đều là Thân cư Phúc). Các mô hình khác cũng vậy cả: sinh giờ Tý thì Thiên Hình ở cung Phụ Mẫu, còn sinh giờ Ngọ thì Thiên Hình chạy sang Ách cung (là cung xung đối) dù cả hai đều ở thế "Mệnh Thân đồng cung".

Đây là nguyên lý nhị nguyên của triết học biện chứng, bao giờ cũng vậy, thời cùng một hiện tượng (Thân cư nào đó) nhưng có hai bản chất trái hẳn nhau (Thiên Hình đóng ở 2 cung xung đối nhau) thế nên cuộc đời con người bao giờ cũng bất ngờ (hay gọi là ngẫu nhiên), ta tưởng như vậy là do một tha (thế) lực chi phối? Không phải vậy đâu! Cái gọi là sự nghiệp đời ta chẳng qua là do cả một quá trình hành động của ta mà thôi! Chúng ta không nên tin có một tha lực (hay còn gọi là thần thánh gì đó) nào, bắt ta làm nô lệ cho một số phận (chung thân bị an bài sắp đặt trước), tất cả không có gì ngẫu nhiên thần bí đâu: chỉ có tất nhiên mà mỗi bản thân ta phải gánh chịu hậu quả mà ta đã làm.

Vậy làm sao mà khám phá ra những dự án phác đồ một đời người? Chỉ có phác đồ trong lá số mà khoa Tử Vi họ nỗ lực kín đáo diễn tả ra. Người này Thân cư Quan mà Thiên Hình ở Điền, còn Thân cư Quan mà Thiên Hình ở Tử Tức? Hẳn nhiên 2 cuộc đời này sẽ không thể giống nhau (dù rằng cùng đồng dạng Thân cư Quan) cái yếu tố thời gian nhỏ bé lúc sinh ra (giờ Dần hay Thân) đã giúp ta dự kiến trước khả năng sẽ phải đương đầu (mất con hay phải chịu thiệt hại nhà đất, chẳng hạn) mà đương nhân tự do chọn lựa cách xử thế trong quá trình làm việc công ích xã hội (Quan Lộc).

Lê Hồng Đức – Học phái Thiên Lương.

Từ những kỹ thuật ổn định của từng tinh đẩu, học phái Thiên Lương rút ra một cách nhìn tổng quát hơn về chính khoa Tử Vi: không phải một thứ bùa chú đoán số, mà là một môn học về cấu trúc thời gian trong đời sống con người.

Tử Vi thời Lý học

Tử Vi là một học khoa cổ đại của triết học phương Đông nhằm giúp cho kẻ sỹ xưa và trí thức ngày nay, biết phép xuất sử ở đời, sống với tha nhân (trong quần thể xã hội) sao êm đẹp và tiến bộ chung. Do đó học phái Thiên Lương chúng tôi mạnh dạn đặt tên cho Tử Vi là "Tử Vi thời Lý học" nghĩa là môn học nghiên cứu thêm chiều thứ tư (trong hình học không gian chỉ có 3 chiều) là thời gian, đã ảnh hưởng đến chuỗi dài sinh sống của sinh vật nói chung và của con người nói riêng như thế nào? Nói cách khác thì khoa "Tử Vi thời Lý học" nhằm xem xét cấu trúc thời gian và các diễn biến sự sống của con người, kể cả các ảnh hưởng của các yếu tố ngoài môi. Chứ tuyệt nhiên, không bao giờ xem Tử Vi là môn thần bí (mê tín dị đoan) để cho một số người lợi dụng hầu cố tình lòe bịp thiên hạ để trục lợi, nói năng bậy bạ, hủ hóa một ngành học có tính nhân văn, đạo đức.

Cụ thể hơn nữa, học thuyết âm dương hình thành một cách sinh động (nhờ yếu tố tác động mà phạm trù âm dương trở thành dịch động uyên áo) nhất trong khoa Tử Vi. Âm và Dương đối lập nhau (là tính thời gian) để sự vật không ngừng vận động (phát sinh, phát triển và tiêu vong). Lý học phương Đông là như vậy đấy và khoa Tử Vi là cố gắng của người xưa (tuy chưa hoàn chỉnh) giải thích dòng sống có quy luật của mỗi con người một cách tổng thể (nghĩa là người xưa tìm hiểu thiên nhiên để sống thuận lý với thiên nhiên). Chứ khoa Tử Vi thời Lý học không tin có định mệnh sắp đặt trước của tha lực thần quyền nào cả. Con người là một vi thể của tạo vật, có những quy luật ràng buộc (một cách tinh diệu phức tạp) như những sinh vật khác nhưng không phải là con người nô lệ cho những quy luật sinh học ấy. Trình độ hiểu Tử Vi của một số lớn người còn nặng nề về vị trí (lợi ích vật chất riêng tư, cầu tài, cầu danh) nên để bị bọn người xấu (buôn Thần bán Thánh lạc hậu) lợi dụng, hốt bạc, chứ đã mấy ai chịu nghiệm lý cái đạo sống đầy nhân bản tính trong lá số?

Thập kỷ cuối của thế kỷ 20 này, do công trình gian khổ của 2 nhà bác học Halberg và Reimberg mà khoa Thời sinh học (chronobiologic) ra đời, nhằm khám phá thêm những qui luật sinh học bấy lâu chi phối sự sống của muôn loài. Bốn thông số toán học trong khoa Thời sinh học là: chu kỳ T, biên độ A, thông số Acrophase và mức điều chỉnh M đã giúp nhân loại hiểu rõ rằng: có thể con người là một hệ thống sinh học tinh diệu, hoạt động theo qui luật của các nhịp sinh học có thể giúp chúng ta xác định những giờ có năng suất cao trong sản xuất cũng như tránh được những giờ dễ bị tai nạn lao động. Tiếc thay, do hoàn cảnh và trình độ non yếu nhiều người lầm lạc về nhịp sinh học trong thiên nhiên là tha lực huyền bí, đã gieo rắc đầu óc mê tín dị đoan!

Ngôn ngữ xưa và nay có khác nhau, nhưng rõ ràng nhân loại luôn chủ động vươn lên làm chủ thiên nhiên (để mưu cầu hạnh phúc chung) thì khoa Tử Vi thời Lý học có những dữ kiện (tinh đẩu hay sao) chia làm 4 nhóm thông số toán học trong thời sinh học hiện đại.

Chu kỳ T: khoa Tử Vi dùng vòng Thái Tuế làm ý niệm thời gian để định mức thuận lợi hay khó khăn (từng đại vận 10 năm, tiểu vận 1 năm, tháng, ngày…). Học phái Thiên Lương nhấn mạnh vào chu kỳ T của vận Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ là thời điểm tối ưu (và nghiệm lý sơ sài đã thấy hiển nhiên trong tam giác Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ luôn có Long Cái Phượng). Chu kỳ T trong Tử Vi như vậy có 4 loại tam giác: tam giác của Thái Tuế, tam giác của Tuế Phá (Mã Hư), tam giác của Thiếu Dương (có Đào Không Sát), tam giác của Thiếu Âm (có Long Đức). Với 4 tam giác vừa nêu, chỉ có 2 tam giác Thái Tuế, Tuế Phá là thuận Âm Dương với tuổi sinh, từ đây rút ra hệ luận: những ai mệnh cung ở kiểu "tiền Cái hậu Mã hay tiền Mã hậu Cái" đều là trái Âm Dương cả (cách đóng của Thiếu Âm) không thể sáng giá vô cớ như sách cổ Tử Vi đã in bấy lâu nay.

Thông số (Acrophase): theo thuật ngữ Hi Lạp thì Akcras có nghĩa là nhiều nhất, cao nhất. Thông số trong Tử Vi là thời điểm có nhiều biến động nhất (hiểu theo nghĩa tốt nhiều hơn), như vậy là xét vòng Tràng Sinh và 4 bộ mặt chuyên đề của 14 chính diệu (tùy theo hàng Can của tuổi sinh) tức Khoa Quyền Lộc Kỵ. Cơ bản vốn là vòng Tràng Sinh trụ ở tam giác Sinh Vượng Mộ diễn tả cái hanh thông suông sẻ của lực phát triển trong mỗi lá số. Chu kỳ T thuận lợi là tam giác Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ nếu hội nhập được tam giác Sinh Vượng Mộ cộng thêm tam giác Bác Sỹ Quốc Ấn Tướng Quân thì chính là thông số ngon lành nhất vậy.

Trong nhãn quan thời Lý học này phải nghiệm lý đã không nhìn nhận công thức: mệnh Vô Chính Diệu đắc Tam Không nhi phú quý khả kỳ. Vì rằng đắc Tam Không (Tuần Không, Địa Không và Thiên Không trong tam hợp) là đã trái âm dương (mất tính chu kỳ T thuận lợi), thì không thể phú quý khả kỳ được. Phải đổi lại dạng thông số: mệnh Vô Chính Diệu đắc tam luân mới phú quý khả kỳ được. Các thông số khác là Khoa Quyền Lộc cũng phải nằm trong cách Mệnh cung thuộc dạng Thái Tuế mới là hữu hảo, tệ lắm thì cung an Thân phải nằm trong khuôn mẫu Thái Tuế có Khoa Quyền Lộc tam hợp.

Một đôi khi nhà nghiên cứu Tử Vi thời Lý học cũng phải xem cả các "lõm tiểu cực" của nhịp sống trong dòng sống của đương nhân, tức là các tụ điểm thời gian có nhiều sự xấu, không may mắn (Suy Tuyệt Mộc Dục có thêm Hóa Kỵ và các hung tinh khác nữa), các "lõm cực tiểu" này là hình thái thông số phản diện trong Tử Vi.

Mức điều chỉnh M: cái hay lạ và cũng phong phú tính đạo đức cao thượng của con người, trong Tử Vi thời Lý học, là mức điều chỉnh M, điều chỉnh cân đối các dạng chu kỳ.

Thí dụ 1: công thức Tuần Triệt tháo gỡ cho nhau (trong đại vận Triệt gỡ cho Tuần).

Thí dụ 2: chu kỳ Thiên Không (bị Đào Sát dằn mặt) thì cũng có quý tinh Thiên Nguyệt Đức hóa giải, nếu đương nhân chọn cái cởi bỏ, cái buộc vào người, tự do tính của đạo đức.

Thí dụ 3: Thiên Quan, Thiên Phúc đóng cung nào thì báo hiệu ở cung đó có sự xấu (đe dọa họa hại) đương nhân cần suy nghĩ mà xử lý với đời.

Thí dụ 4: tuổi Âm vốn dĩ thua sút tuổi Dương (về cái thuận lý, trong sáng, thanh khiết) nên khi gặp chu kỳ Thái Tuế bao giờ cũng gặp đủ Tứ Linh – Phượng Long Cái Hổ, rõ ràng là Phượng Các (có Giải Thần bên cạnh) là mức điều chỉnh M trong lá số vậy. Các tinh đẩu đóng vào thông số M khá nhiều: Thiên Hình, Không Kiếp, Tả Hữu, Xương Khúc… nói chung, chỉ cần một trong số các dữ kiện nêu trên xuất hiện ở cung nào cũng đủ làm lệch đòn cân thuận lợi hay họa nạn rồi.

Thí dụ 5: chỉ cần biết sinh vào giờ Tý là biết ngay cung Ách có Thiên Hình, sinh giờ Tị là mệnh cung có Thiên Hình, làm mệt mỏi đương nhân không ít trong dòng sống của cuộc đời, tất nhiên chỉ về mặt sức khỏe là chính. Trải nghiệm lý lý thú đã tìm ra quy luật: người sinh vào tháng chẵn ở Quan, Tài, Di, Phối, Phúc mà gặp Địa Không phá tán, gây phiền phức (chưa kể Địa Kiếp tam hợp nếu sinh vào giờ lẻ).

Tóm lại khoa Tử Vi thời Lý học là một cách nhìn xứng đáng cho khoa cổ học Tử Vi, nhằm thật sự nghiên cứu về con người trong tạo vật, chủ động đưa ý thức con người vươn lên làm chủ cuộc sống bản thân, đồng thời ích thiện với xã hội.

Hết.

Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tính lý