Bài tổng quan
Kình Đà: dàn dựng, phô bày, vật dụng và những bộ đi cùng
Có người treo tấm tranh để che vết nứt của bức tường, có người để tóc dài che vết sẹo cũ, có người khoe giàu để giấu nỗi lo. Hai ngôi sao, một lộ một ẩn, luôn chia nhau phần phô bày và phần che giấu. Người ta tưởng đã nhìn thấy hết, nhưng phần chìm mới là phần quyết định...
Mục lục · 8 phần
- 01Dàn dựng: nghệ thuật dựng lên một câu chuyện
- 02Trưng bày, phô bày, và cái được che giấu
- 03Kình Đà trong thân thể và nỗi thiếu hụt tình cảm
- 04Kình Đà và những vật dụng
- 05Những câu phú về Kình Dương
- 06Vũ Khúc Kình: tranh công và tranh tài sản
- 07Đà La Hóa Kỵ: nhị ám, tam ám và con kỳ đà cản mũi
- 08Diêu Đà Kỵ và Kình Dương Hóa Kỵ
Dàn dựng: nghệ thuật dựng lên một câu chuyện
Làm một bài văn, ta từng học cách dàn dựng: mở bài, thân bài, kết luận. Dàn dựng là yếu tố không thể thiếu khi viết văn, khi đạo diễn một chương trình nghệ thuật; trong quân sự là dàn binh bố trận cho hợp lý. Cùng chừng ấy con chữ, nhà thơ xào qua xào lại thành thi ca, còn ta thì không; nhà văn cũng vậy. Kỹ sư dàn dựng trên bản vẽ trước khi dựng lên thật; họa sĩ phác thảo, bôi bôi bệt bệt, rồi thành bức tranh.
Dàn dựng tốt đưa đến thành công. Nhưng cũng có kiểu dàn dựng xấu: đặt điều, dựng đứng những câu chuyện có đầu có đuôi để bôi bẩn người khác. Ở vị trí này hay gặp Đường Phù thổi phồng cho to; nếu có Hồng Loan thì loan báo thật lớn, khiến câu chuyện thoạt tiên không có gì thành câu chuyện như thật. Ví dụ ai đó khen: cái giếng nước này ngon quá, uống vào như bao bệnh tật tiêu tan. Một tiếng ngợi khen vô tội vạ, nhưng gặp tay khéo dựng chuyện thì thành cái giếng thần. Vậy dàn dựng là yếu tố rất cần để thành công; xấu tốt tùy Hung Cát.
Dựng lên thì phải trưng ra, và trưng ra là bản tính của Kình.
Trưng bày, phô bày, và cái được che giấu
Có người nói "chưng bày", có người nói "trưng bày". Nói trưng bày đúng hơn, nhưng do cách phát âm từng nơi mà có người nói chưng bày, chưng diện. Trưng bày, trình bày, khoe ra là đặc điểm của Kình: ưa dương ra, bày ra, khoe ra. Có người khoe đẹp, có kẻ khoe giàu, người khoe con cái, cha mẹ; có người khoe xe cộ, nhà cửa; có người khoe hình thức ăn mặc, đôi khi để giấu đi những dốt nát bên trong. Kình chủ dương ra, còn Đà là cái người ta làm ẩn đi.
Có khi người ta treo tấm tranh để che lỗi của bức tường. Có người để mái tóc dài để che cái sẹo do đánh lộn năm xưa. Có kẻ cười vui để che nỗi lo trong lòng. Nếu có người khoe vui, sướng, đẹp, giàu sang, thì cũng có người khoe cái nghèo, cái khổ, cái xấu để được cảm thông, để được tìm thấy sự đồng tình của kẻ khác. Nói không xa: nhìn các trang mạng cá nhân, ai thay hình đại diện, hình nền liên tục, ta cũng đoán được tâm trạng và tính cách của họ. Dạo qua phố, ta gặp những phòng trưng bày xe cộ, đồ gỗ: đó là Kình Dương. Từ đó cũng đoán được một số nghề nghiệp liên quan đến Kình, là những công việc mà thực chất là dương dương hàng hóa. Nếu có người khoe cả thân thể, đó là do có Kình tại cung an Thân.
Kình thuộc nhóm sao lộ. Đà thuộc nhóm sao ẩn. Kình thuộc nhóm lộ nên hợp với Thiên Lương (phơi bày) và Triệt vốn ưa lộ ra, nhưng gặp Thái Dương lại gây xung đột mâu thuẫn, hai sao khoe nhau xung nhau, kiểu "ê, nhìn gì dữ vậy mày?". Đà thuộc nhóm ẩn nên hợp với Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Âm, Tuần. Việc phân loại này giúp luận chính xác hơn về tính đắc dụng của sao tại Mệnh và tại hạn.
Kình Đà trong thân thể và nỗi thiếu hụt tình cảm
Trong thân thể, Kình Dương là phần của người đàn ông đang đi tìm điều người đàn bà có mà mình không có; Đà La là phần của người đàn bà đang đi tìm điều người đàn ông có mà mình không có. Cái có đi tìm cái không có. Hai câu phú liên quan:
Dương Cự Hao thật không lành, chồng con phối hợp bất thành hôn nghi.
Âm phùng Hao tú một phương, thành hôn chẳng lọ là đường cưới xin.
Câu đầu nói về nữ, câu sau nói về nam; cả hai đều chỉ cách "phi lễ thành hôn". Đây là vấn đề giới tính, không nên quan trọng hóa, nhưng đã nghiên cứu thì cần biết để có cơ sở luận các tình huống bệnh lý như lãnh cảm hay thái quá. Đi với bộ Nhật Nguyệt, nhẹ nhàng nhất chỉ là lời tán tỉnh, tỏ tình.
Kình Đà và những vật dụng
Những đồ vật có hình dáng giương lên cao, cứng, sắc nhọn, thẳng: chông, gai, bẫy đinh, cái chày, cây gậy, vũ khí, đều là Kình. Những đồ vật gây vướng víu, dây nhợ, lưới, bẫy dây, mềm mại, là Đà La, và sao này còn có nghĩa cái bẫy đang kéo rê, cái lưới quét. Đi với văn tinh, Kình là cây bút, Đà là nghiên mực. Đi với hung sát tinh, Kình là khí cụ tấn công như gươm đao, Đà La là trang bị phòng thủ như giáp, trụ, khiên.
Vật thấy được, nổi lên, ở phía trước là Kình; phần không thấy được, ở sau, ở dưới, là Đà La. Đà là lực đẩy giúp ta tiến về phía trước, tức là Kình. Đà La là tiếng hò kéo lưới, hò giã gạo trong đêm; Kình là sự khuyến khích để xong công việc. Kình Đà là nghiên bút, là cách phòng chống điều xấu xa; là nỗi niềm vui buồn cũng có mà cay đắng cũng đây; là chông gai cản bước ta đi.
Một nửa số người có bộ sao này tại Mệnh đã quen với khó khăn trên đường đời, đã tập huấn trong gian khổ. Một nửa còn lại dễ choáng váng khi hạn gặp Kình Đà, nhất là thứ Kình Đà không đương cự nổi. Thấy bộ sao này, mặt mũi tối tăm. Và qua tất cả những gì đã bàn, Kình Đà không phải là sát tinh.
Những câu phú về Kình Dương
Kình Dương phùng Lực Sĩ, Lý Quảng nan phong. Bạch Hổ kiến Tướng Quân, Đào Tiềm kiêm ấn.
Vị tướng trong câu đầu đắc ý, tự mãn, kiêu ngạo mà bị người ta ghét, chỉ có thế thôi. Vị trong câu sau khéo bày tỏ (Bạch Hổ) và biết thương yêu, chăm sóc người (Tướng Quân), nên xứng đáng làm tướng lãnh.
Dương Nhẫn hãm tu bì thiết, miếu vượng tu nhi hào kiệt dương danh. Cơ Lương lâm thủ thiện đàm binh, Tuất cung tị nhi văn chương quán thế.
Kình hãm có màu da xanh tái như sắt; Kình miếu vượng thì râu mày nam tử oai hùng, dễ nổi danh hơn. Hãm hay vượng là do Cát tinh tụ tập vào đó nhiều hay ít.
Chích Hỏa phận Thiên Mã bất nghi viễn hành. Thốn Kim ám Kình Dương phản hiềm tao khốn.
Chích Hỏa là cung Tỵ, nơi đốt cháy phương tiện, nên Thiên Mã ở đó không nên đi xa. Kình ở Dậu dễ gặp nguy hiểm, nhất là tuổi Canh; kinh nghiệm cho thấy đại hạn đến cung Dậu rất xấu, kể cả không phải tuổi Canh nhưng năm Canh có lưu Kình thì đã thấy xấu.
Kình Hình cư Ngọ đồng gia, Sát Kiếp lai chiếu ắt là ngục trung.
"Sát" ở đây là Thất Sát, "Kiếp" là Địa Kiếp, chứ không phải sao Kiếp Sát, vì Kình ở Ngọ không bao giờ gặp Kiếp Sát. Bộ Kình Hình bên hăm dọa, bên chống; Sát Kiếp chủ cướp đoạt. Chừng ấy yếu tố cũng thấy tai họa ngập đầu; trường hợp này tương đối ít gặp.
Kình Dương Tý Ngọ Mão Dậu, phi yêu chiết nhi hình thương.
Đây là câu phú nói quá khiến nhiều người lo lắng, trừ trường hợp có thêm nhiều hung sát tinh mới gây yểu hoặc bị thương tật.
Kình Dương cư Ngọ, mã đầu đới kiếm, trấn ngự biên cương.
Cách Kình ở Ngọ có mã đầu chỉ hay ở các tuổi Bính (Tý, Thìn, Thân), thực chất nhờ sao Phượng Các; các tuổi Bính còn lại không được.
Kình tứ mộ Mã triều lai, biên cương ắt hẳn ra tài võ công.
Câu này có giá trị khi có Thiên Mã hội họp, như tuổi Kỷ (Tỵ, Dậu, Sửu). Đồng nghĩa với thời bình ở vùng sâu, vùng xa.
Kình Dương nhập miếu, phú quý thanh dương.
Dĩ nhiên một Kình tốt đẹp là đắc ý toại lòng, danh vang khắp nơi.
Kình Đà Linh Hỏa phùng cát phát tài, phùng hung tắc kỵ.
Câu này minh chứng cho luận thuyết: mọi sao đều có thể tốt đẹp khi gặp Cát tinh; cả bốn sao này thực chất không phải sát tinh.
Kình Đà Linh Hỏa thủ Thân Mệnh, yểu đà bối khúc, trận trung vong.
Câu này nhuốm màu bi quan cho người có nó. Ít nhất phải có thêm Không Kiếp hoặc Kỵ Hình thì mới dẫn đến gãy lưng, thương tật ở lưng như gù lưng, và chết trận.
Kình Dương Hỏa Tinh uy quyền xuất chúng, đồng hành Tham Vũ uy yêm biên di.
Bộ Kình Hỏa, nếu Hỏa Tinh đắc, là ngọn đuốc soi đường đưa lên cao để mọi người đi theo, đồng thời là dấu hiệu của chiến thắng.
Kình Đà xâm chiếm Mệnh viên, nói năng loạn thuyết những phường điêu ngoa.
Câu này dễ gây bất mãn cho người có Kình Đà tại Mệnh, và chắc do người mặc cảm với bộ sao này viết ra. Bởi Kình chống đối, Đà hướng dẫn lôi kéo. Câu này nêu ra chỉ để thấy quan niệm của người xưa, chứ không phải ý đồng tình.
Phủ Đà Tuế đóng Tỵ cung, thiềm ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày.
Câu này nghe có lý hơn. Vì Thiên Phủ khi xấu là cả vú lấp miệng em, lại có Thái Tuế giỏi ngôn ngữ, thêm Đà La khéo dẫn dắt câu chuyện, thành ra tha hồ nói.
Vũ Khúc Kình: tranh công và tranh tài sản
Bộ Vũ Khúc Kình chủ tranh công, còn chủ tranh giành tài sản. Đi với Cát tinh, hỉ tinh thì kinh tế, tài chính đi lên và phát triển; khoe của, sớm có của; là bước ngoặt đi lên, lên hương. Nếu có thêm Cô Quả thì ứng với câu:
Vũ Khúc Dương Đà kiêm Quả Tú, vị tiền nhi nguy.
Vì tiền mang họa: đó là hậu quả của việc tranh chấp tài sản. Bộ này còn là vũ lực, chống nhau bằng vũ lực, nhất là có Kiếp Sát; là thượng võ, lên võ đài hoặc tinh thần thượng võ nếu có Linh Hỏa. Có câu "Vũ Khúc Kiếp Sát hội Kình Dương, nhân tài trì đao", người có tài dùng gươm dao; cũng có câu "Vũ Khúc Kiếp Sát hội Kình Dương, sát nhân bất biếm nhãn", giết người không chớp mắt. Đi với bại tinh như cách Kình Hư thì là khó khăn tài chính. Đây chỉ là gợi ý để luận cụ thể; bộ Vũ Tướng rất ngại gặp Kình Dương.
Đà La Hóa Kỵ: nhị ám, tam ám và con kỳ đà cản mũi
Bộ Nhị Ám, nếu thấy Thiên Diêu thì tạo thành bộ Tam Ám. Ta thường nghe "kỳ đà cản mũi" và lo không dám đi tiếp. Ngoài đời thấy con kỳ đà thì nên bắt, là đặc sản quán nhậu; nhưng thấy Kỵ Đà trong Tử Vi thì bắt không được, nó bắt ta thì có. Cách Kỵ Đà nổi tiếng đến nỗi gây ngộ nhận trút lên đầu con kỳ đà; thôi thì thương nó, vì hoàn cảnh nó như ta vậy. Bộ Đà La Hóa Kỵ chủ các điều sau:
Ngăn cấm, cấm đoán, cản trở. Ngăn sông cấm chợ, cấm vận. Từ đó tài năng khó phát triển. Ví dụ ai đó cho rằng máy tính chẳng tạo ra tiền bạc, chỉ tốn điện, dễ hư, khó dùng, nên chấp nhận thiếu kiến thức về máy tính: một ví dụ nhỏ thôi. Khi hình thành bộ Kỵ Đà tại Mệnh, coi như cuộc đời nhúng chàm. Có thêm Diêu đui mù góp ý nữa thì họa vô đơn chí.
Ghen ghét, nghi ngờ và cản trở. Từ ghen ghét, ganh tị, không muốn người khác hơn mình, tính đa nghi kết hợp với Đà ra sức cản trở, bằng lời nói và bằng hành động. Có đi cũng không đi được; không có phương tiện thì thôi, có thì nó lăn đùng ra cản. Khi đã bị con mắt Kỵ Đà nhìn vào, dù vô tư dưới mắt họ bạn vẫn là kẻ đáng nghi ngờ.
Chê bai sau lưng. Ghen ghét, cản trở, nói xấu sau lưng. Kỵ Đà đáng sợ như vậy có sao nào hóa giải không? Chỉ có duy nhất Hóa Khoa; trường hợp đó có thể gọi là lời khuyên can.
Diêu Đà Kỵ và Kình Dương Hóa Kỵ
Diêu Đà Kỵ kế, giao họa vô đơn chỉ.
Đó là bộ Tam Ám. Ba sao này giao hội hoặc đứng liền nhau thì họa đến liên tiếp. Chúng được mô tả là bộ sao xui xẻo nhất, như bị hớp hồn. Kỵ nhất là gặp bộ Nhật Nguyệt và tất cả chính tinh khác. Tuy nhiên mức tác hại còn tùy Thiên Diêu có đắc địa hay không; nếu có, chủ còn sáng suốt, không mê muội, thì đỡ hung họa, chỉ còn giá trị như Nhị Ám.
Bộ Kình Dương Hóa Kỵ chủ các điều sau: tiếng khen chê (nếu có Cát tinh); chê bai và chống đối, chê trước mặt; cấm và chống đối, nghi ngờ và chống đối, ghét mà chống đối; đố kỵ (nghi ngờ, ghen ghét) và chống, dậy lên nỗi hoài nghi. Kình Kỵ vốn phức tạp, thêm Hỏa Tinh nữa thì thành bộ ba sao:
Kình Dương, Kỵ, Hỏa một loài, hãm mà thủ Mệnh ấy loài ác tinh.
Kỵ Hỏa Kình là vì ghét ghen mà nổi cơn giận làm điều xấu.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Phụ Tinh.
