Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Lộc Tồn gặp xung, gặp Không Vong và con ngựa Thiên Mã theo Phan Tử Ngư

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Lộc Tồn gặp xung, gặp Không Vong và con ngựa Thiên Mã theo Phan Tử Ngư

Có người sinh năm Giáp Thân, giờ Canh Dần, hai Lộc đạp lên nhau mà giàu sang đáng trông đợi. Có người Lộc rơi Không Vong, chỉ buôn bán nhỏ cũng đủ sống. Còn Thiên Mã thì có lời than của con ngựa ngàn dặm đi tìm Bá Nhạc...


Lộc Tồn: khi Lộc dựa vào tài, bị xung, bị bỏ rơi

Lộc thượng đới tài, danh dương bốn bể

Mệnh có Lộc dựa vào Tài thì thanh vọng cao, hợp nghiên cứu học thuật. Nữ mệnh càng cát, được chồng sủng ái sâu đậm, tài phú đủ đầy. Theo năm sinh Giáp đến Quý, trụ khác cần có lần lượt là Mậu Dần, Kỷ Mão, Tân Tỵ, Canh Ngọ, Quý Tỵ, Nhâm Ngọ, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Dần, Bính Tý.

Người sa cơ: Lộc ngồi sau giờ

Theo năm sinh Giáp đến Quý, giờ sinh gặp lần lượt Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi thì Lộc nằm sau giờ. Ví dụ năm Bính Ngọ, giờ Thìn: người Bính có Thìn là mệnh đi xa; người Ngọ có Thìn thì phạm cô tú. Cả đời bôn ba bên ngoài, cô độc khốn cùng lại sa cơ.

Mệnh nghèo: thai Lộc rơi vào Tiệt lộ Không vong

Một lá số có năm Nhâm Dần, thai Giáp Thìn. Lộc của Giáp ở Dần, vốn cát và chủ phú. Nhưng Nhâm Dần lại rơi vào Tiệt lộ Không vong, mà Không vong của Nhâm Dần lại nằm ở Thìn.

Tân lao bôn ba thả bất thuyết,
Do khủng nhất sinh khổ ha ha.

Nghĩa là vất vả bôn ba còn chưa kể, e rằng cả đời còn khổ nữa.

Người thiếu tiền: chi của thai xung Lộc

Lộc không thể bị xung, không thể bị hình, không thể rơi Không Vong, nếu không đều chủ nghèo khốn. Ví dụ năm Canh Ngọ, thai Dần: lộc của Canh ở Thân, Dần xung nó và hình nó, nên mệnh này thiếu tiền.

Phá lộc

Lộc bị xung thì khí tán không tụ, tiền của nhiều hao phá, người thường thì cơm áo không đủ, làm quan thì mất chức bãi quan, kinh thương thì đóng cửa tiệm. Theo năm sinh Giáp đến Quý, năm chi có lần lượt Thân, Dậu, Hợi, Tý, Hợi, Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ là phạm phá lộc.

Lộc gặp Kiếp

Một lá số có năm Mậu Tý, ngày Tỵ. Lộc của Mậu ở Tỵ, người tuổi Tý có Kiếp sát cũng ở Tỵ. Lộc gặp Kiếp thì chỉ hợp buôn bán nhỏ.

Lộc rơi Không Vong

Năm sinh và chi ngồi trong năm chi của những người có Lộc rơi Không Vong: Nhâm Thân – Hợi; Canh Thìn – Thân; Tân Tỵ – Dậu; Đinh Hợi – Ngọ; Kỷ Sửu – Ngọ; Bính Thân – Tỵ; Mậu Tuất – Tỵ; Giáp Thìn – Dần; Ất Tỵ – Mão; Quý Hợi – Tý.

Có một lá số năm Nhâm Thân, giờ Hợi. Chỉ cần xem ba chữ là biết mệnh này nghèo túng:

Thân nhân hữu Hợi phạm Vong thần,
Vong thần, Cô thần lại đồng thần.
Nhâm Lộc tại Hợi, Hợi Hợi hình,
Nhâm Thân Không vong cũng tại Hợi.
Lộc lạc Không vong vô phú quý,
Thử mệnh bất nghi quan hoặc thương.
Như phi công giáo hoặc quân nhân,
Chỉ hảo chích thân nhập không môn.
Cổ thư tái tam hữu giao đại:
Giá phu mạc giá Lộc không nhân.

Ý của các câu: người tuổi Thân có Hợi là phạm Vong thần; Lộc của Nhâm ở Hợi, Hợi hình Hợi; Không vong của Nhâm Thân cũng ở Hợi. Lộc rơi Không Vong thì không giàu sang, mệnh này không hợp làm quan hay buôn bán; nếu không là giáo viên công lập hoặc quân nhân thì chỉ đành một thân vào cửa Không. Cổ thư dặn đi dặn lại: gả chồng chớ gả người Lộc không.

Hướng Lộc thì chậm mà giàu, bội Lộc thì dần dần nghèo

Theo năm sinh, Lộc nằm ở đâu và vị trí hướng Lộc, bội Lộc ở đâu:

  • Năm Giáp: Lộc Dần, hướng Lộc Sửu, bội Lộc Mão.
  • Năm Ất: Lộc Mão, hướng Lộc Dần, bội Lộc Thìn.
  • Năm Bính: Lộc Tỵ, hướng Lộc Thìn, bội Lộc Ngọ.
  • Năm Đinh: Lộc Ngọ, hướng Lộc Tỵ, bội Lộc Mùi.
  • Năm Mậu: Lộc Tỵ, hướng Lộc Thìn, bội Lộc Ngọ.
  • Năm Kỷ: Lộc Ngọ, hướng Lộc Tỵ, bội Lộc Mùi.
  • Năm Canh: Lộc Thân, hướng Lộc Mùi, bội Lộc Dậu.
  • Năm Tân: Lộc Dậu, hướng Lộc Thân, bội Lộc Tuất.
  • Năm Nhâm: Lộc Hợi, hướng Lộc Tuất, bội Lộc Tý.
  • Năm Quý: Lộc Tý, hướng Lộc Hợi, bội Lộc Sửu.

Người sinh năm Giáp có Lộc ở Dần: thập tự có Sửu gọi là hướng Lộc, cả đời giàu có; thập tự có Mão gọi là bội Lộc, cả đời thiếu tiền.

Bội Lộc

Lộc là duyên nuôi mệnh, Mã là gốc nâng thân. Lộc ngại bị xung phá, Mã kỵ Không Vong; Lộc cũng ngại bị quay lưng, Mã kỵ bị đuổi theo. Phàm mệnh có Lộc ở trước ba “thìn” gọi là bội Lộc, như người sinh năm Quý, Lộc Quý ở Tý, năm chi có Dần là bội Lộc. Mệnh phạm bội Lộc thì cả đời thiếu tiền, cả đời vì tiền mà bôn ba, tuổi già sa cơ. Theo năm sinh Giáp đến Quý, năm chi có lần lượt Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Mùi, Thân, Tuất, Hợi, Sửu, Dần.

Lộc bị lửa thiêu

Một lá số năm Giáp, giờ Bính Dần. Người sinh năm Giáp có Lộc ở Dần, giờ sinh ngồi Lộc của năm, giàu sang đáng trông đợi. Tiếc là Bính Dần là lửa trong lò, lửa này thiêu Lộc, cả đời gập ghềnh, mọi việc chậm trễ trái ý, thường gặp trắc trở, trải qua gian tân.

Người sinh năm Tân, Lộc ở Dậu; ngồi Đinh Dậu là lửa dưới núi, Lộc bị lửa thiêu, một đời gập ghềnh.

Giàu sang đáng trông đợi: hoán đổi hai Lộc

Một lá số năm Giáp Thân, giờ Canh Dần. Lộc Giáp ở Dần, Lộc Canh ở Thân, hai Lộc đạp nhau, giàu sang đáng trông đợi. Theo kiểm chứng của Phan Tử Ngư, năm trụ hoán đổi vị trí cho nhau thì luận như nhau.

Lộc rơi Không Vong nhưng vẫn đủ sống

Một lá số năm Bính Thìn, giờ Tỵ (ngày cũng Tỵ). Lộc của Bính ở Tỵ, giờ ngồi Lộc của năm hoặc ngày ngồi Lộc của năm đều luận cát. Đáng tiếc Lộc rơi Không Vong, đại phú đại quý thì không có, làm chút buôn bán nhỏ vẫn còn đủ sống.

Thiên Mã: con ngựa của Lộc và của đời người

Nỗi than của ngựa: Bá Nhạc ở đâu?
Ta là một con ngựa ngàn dặm, nhưng ai nhận ra ta đây?

Rất nhiều chuyên gia, hay nói là rất nhiều đại sư, tiểu sư, hiểu về Mã chưa đủ tường tận. Nguyên nhân là người xưa gọi Chính tài cũng là Mã, thế là Mã ấy bị trộn lẫn, rối loạn với Thiên Mã của Tử Vi Đẩu Số.

  • Mã gặp Trường sinh: áo trắng đổi áo bào tím.
  • Mã rơi Không Vong: lao mà vô công, bôn ba lao lục.
  • Mã rơi tuyệt địa: tâm tình bi thương chua xót.
  • Mã ngồi nhật chi: cưỡi ngựa sẽ té chết, như đại thần Đa Nhĩ Cổn đầu đời Thanh. Ngày nay ít người cưỡi ngựa, nên mã ngồi nhật chi thì phòng ngã xe máy, ngã từ trên cây xuống.
  • Đại tiểu hạn gặp Thiên Mã thì có cát có hung, phải xem nó đồng cung với sao nào. Nếu không có cát tinh cũng không có hung tinh thì luận là cát; nếu có cát tinh thì gấm thêm hoa. Nếu là cát thì có thư tín của cấp trên, mệnh lệnh, công văn, cát tường cát lợi; lợi cho điều động, thăng chức, du lịch, dọn nhà, di dân… Nếu có hung tinh thì lao mà vô công.
  • Mã ngồi nhật chi, tức là Chính tài ngồi nhật chi, chủ vợ hiền thục. Ví dụ một lá số năm Canh, ngày Ất: Canh lấy Ất làm Tài, mệnh này vợ hiền thục. Nếu là nữ mệnh thì chồng ưu tú, hiền lương.

Bội Lộc đuổi Mã, nghèo khó hoảng hốt

Một lá số năm Quý Hợi, tháng Giáp Dần. Lộc của Quý ở Tý, Dần quay lưng với nó; Mã của Hợi ở Tỵ, Dần đuổi theo nó. Mệnh này nghèo khổ.

Vị trí của Thiên Mã

Người tuổi Dần, Ngọ, Tuất có Thiên Mã ở Thân; tuổi Hợi, Mão, Mùi ở Tỵ; tuổi Thân, Tý, Thìn ở Dần; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu ở Hợi.

Bốn cung của Mã

Thiên Mã đóng ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi gọi là tứ mã địa. Xét theo từng cung:

  • Tọa Mệnh, Thân: phải khổ não vì hai việc.
  • Tọa Tài Bạch: có hai con đường sinh tài.
  • Tọa Huynh Đệ: có khả năng có anh chị em song sinh.
  • Tọa Tật Ách: sẽ mắc hai thứ bệnh.
  • Tọa Tử Nữ: có khả năng sinh đôi.
  • Tọa Phu Thê: hôn nhân có khả năng hai lần.
  • Tọa Quan Lộc: hợp kiêm chức hoặc làm thêm nghề phụ.
  • Tọa Thiên Di: cùng một việc phải chạy hai chuyến.
  • Tọa Phụ Mẫu: hợp làm con nuôi, hoặc bái cha mẹ nuôi.

Cửu đại mã

Phàm năm chi có Mã rồi hai “thìn” phía sau thì là người giàu sang. Theo năm sinh Tý đến Hợi, năm chi có lần lượt Sửu, Tuất, Mùi, Thìn, Sửu, Tuất, Mùi, Thìn, Sửu, Tuất, Mùi, Thìn.

Cửu địa mã

Phàm năm chi có Mã rồi ba “thìn” phía sau thì giàu sang đáng trông đợi. Ví dụ người sinh năm Tý, Mã ở Dần, năm chi có Tý. Theo năm sinh, năm chi cần có:

  • Năm Tý – Tý (duyên vợ chồng mỏng); năm Sửu – Dậu; năm Dần – Ngọ; năm Mão – Mão (duyên vợ chồng mỏng).
  • Năm Thìn – Tý; năm Tỵ – Dậu; năm Ngọ – Ngọ (duyên vợ chồng mỏng, phạm hình); năm Mùi – Mão.
  • Năm Thân – Tý; năm Dậu – Dậu (duyên vợ chồng mỏng, phạm hình); năm Tuất – Ngọ; năm Hợi – Mão.

Cột ghi chú của các thế này là “đẹp mà chưa trọn”.

Tam cước mã

Phạm thế này thì lao lục, vất vả. Theo năm sinh, thập tự cần tránh:

  • Năm Tý, Thìn, Thân: Bính Dần và Nhâm Thân.
  • Năm Sửu, Tỵ, Dậu: Ất Hợi và Đinh Tỵ.
  • Năm Dần, Ngọ, Tuất: Nhâm Thân và Bính Dần.
  • Năm Mão, Mùi, Hợi: Kỷ Tỵ và Quý Hợi.

Hợp can mã

Mã hợp, can hợp thì quan cao danh trọng. Ví dụ năm Giáp Thìn, giờ Kỷ Hợi: Mã của Thìn ở Dần, Dần hợp với Hợi; Giáp hợp với Kỷ. Đây gọi là “can hợp Mã hợp”, quan cao danh trọng.

Nữ mệnh đới Mã, e nghèo hèn

Một chị họ Tống có năm Thân, ngày Dần (giờ và thai cũng Dần). Mã của Thân ở Dần, năm chi có Dần, tức là đới Mã. Mệnh này ít nhất cũng “một bình ba chén”. Theo Phan Tử Ngư, mệnh này duyên con cái mỏng, nghèo túng, phòng sảy thai.

Nguyệt mã ăn lộc: người ngóc đầu

Phàm mệnh được Mã của chi tháng, ăn đến Lộc của can thai thì sẽ có ngày ngóc đầu, giàu sang đáng trông đợi, xưa gọi là “hàn môn tướng tướng”. Ví dụ ông Hồ Đại Lực: năm Giáp, ngày Giáp, giờ Giáp, thai Giáp. Mã của Thân ở Dần, can của thai là Giáp, Lộc của Giáp ở Dần: mệnh nguyệt mã ăn lộc, giàu sang đáng trông đợi, nên biết ông Hồ sẽ có ngày ngóc đầu.

Theo chi của tháng, can của năm cần có: Tý – Giáp; Sửu – Nhâm; Mão – Bính hoặc Mậu; Thìn – Giáp; Tỵ – Nhâm; Ngọ – Canh; Mùi – Bính hoặc Mậu; Thân – Giáp; Dậu – Nhâm; Tuất – Canh; Hợi – Bính hoặc Mậu. Phan Tử Ngư kiểm chứng: năm can năm chi luận như nhau, nhưng không bằng Mã của chi tháng ăn đến Lộc của thai là hiển hách nhất.

Giao lộc mã

Phàm thập tự, chi có Mã, ăn đến Lộc, mà lại đạp lên nhau, thì chủ phú. Xã hội ngày nay có giàu mới có quý, nên cũng chủ giàu sang đáng trông đợi. Ví dụ ông Ngô Thiếu Hổ: năm Canh Thân; ngày Giáp Dần; giờ Giáp Dần; thai Giáp Dần. Lộc của Canh ở Thân, Lộc của Giáp ở Dần; Mã của Dần ở Thân ăn đến Lộc của Canh, Mã của Thân ở Dần ăn đến Lộc của Giáp. Mệnh này trước giàu sau quý.

Mã Không Vong

Mã rơi Không Vong thì cả đời bôn ba, lao mà vô công, hợp học một nghề sở trường, không hợp kinh thương, hợp quân đội, công chức, giáo viên. Cổ thư nhấn mạnh: gả chồng chớ gả người Mã Không Vong. Theo năm sinh, Mã Không Vong nằm ở: Giáp Thìn, Mậu Thân, Nhâm Tý – Dần; Ất Sửu, Kỷ Tỵ, Quý Dậu – Hợi; Giáp Tuất, Nhâm Ngọ, Mậu Dần – Thân; Quý Mão, Ất Mùi, Kỷ Hợi – Tỵ.

Mệnh phạm Mã Thìn

Một ông họ Trịnh có thập tự: năm Quý Hợi (nước biển lớn), tháng Đinh Tỵ (đất trong cát), ngày Đinh Dậu (lửa dưới núi), giờ Tân Hợi (vàng trâm xuyến), thai Mậu Thân (đất bến lớn). Có sáu điều:

  • Có Kim thiếu Mộc, không thành tài.
  • Quý Hợi gặp Mậu Thân, thuộc cách thiên quan địa trục, vốn luận là đại phú đại quý; nhưng Thân bị Tỵ hình, thành phá cách.
  • Hai Thổ khắc Thủy, mệnh này cuối cùng ắt sa cơ.
  • Hợi Hợi tự hình, làm việc có đầu không có cuối.
  • Tỵ Thân phạm hình, dễ gặp tai họa.
  • Mệnh này kỵ nhất là người tuổi Hợi, Mão, Mùi phạm Mã Thìn.

Hợi Mão Mùi nhân phạm Mã Thìn,
Nam mệnh nhân sắc nhi bại, vãn niên liêu đảo.

Nghĩa là người tuổi Hợi, Mão, Mùi phạm Mã Thìn, nam mệnh vì sắc mà bại, tuổi già sa cơ. Người tuổi heo, thỏ, dê mà năm chi có Tỵ thì gọi là “Hợi Mão Mùi phạm Mã Thìn”, “cuối cùng sa cơ nơi đầu đường”. Luận mệnh một mũi kim thấy máu, chính là chỗ này.

Cách bổ mệnh

  • Đừng tự cho mình là đa tình, đừng đâu cũng gieo hoa chọc cỏ.
  • Giữ thân tự trọng, tâm thanh quả dục.
  • Dồn thời gian, tinh thần, tiền bạc vào sự nghiệp, nỗ lực phấn đấu.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Bổ Mệnh Thư, quyển 2.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề