Bài tổng quan
Tài mà không gặp thời: Thiên Mã, Lộc Tồn và nhóm sao tài năng
Có người tài giỏi hơn người mà cả đời không được trọng dụng, có kẻ bất tài vẫn ngồi vững một chỗ quyền cao — khoảng cách ấy chính là ranh giới giữa tài năng và quyền hành trong khoa Lý số học. Thiên Mã xông pha, Lộc Tồn tổ chức, Thiên Khôi Thiên Việt âm thầm hậu thuẫn, còn Bạch Hổ đắc địa lại biến một hung tinh thành người hùng biện xuất chúng. Nhưng muốn biết tài năng ấy có nở thành công danh hay không, còn phải chờ thêm một yếu tố nữa...
Tài năng: yếu tố đi bên quyền hành nhưng chẳng đồng nhất với nó
Tài năng là một thành phần của quyền hành, nhưng không phải bao giờ cũng gắn liền với quyền hành. Có kẻ giỏi mà không có quyền; có kẻ bất tài mà nắm quyền. Các phụ tinh chỉ tài năng, khi đóng ở cung Quan hoặc cung Mệnh, Thân, luôn luôn rất tốt. Chúng không bảo đảm chắc chắn cho chức cao quyền trọng, nhưng ít ra cũng cho thấy đương số có vốn liếng thật để nương tựa, khỏi phải trông cậy hoàn toàn vào vận may của thời thế hay lòng ưu ái của bậc trên. Tài năng ấy có thể mang tính tổng quát, đa diện, hoặc mang tính chuyên môn. Về tài chuyên môn, cần tra thêm ở cách khoa bảng, đoạn nói đến các ngành học trong khoa Lý số học. Tại đây chỉ kê những sao chỉ tài năng tổng quát.
Nhóm phụ tinh này phải được tách bạch khỏi nhóm phụ tinh chỉ quyền uy, chức phận. Quyền uy là thứ do nhà nước và cấp trên công nhận rồi ban xuống dưới dạng chức tước, sắc phong. Tài năng thì là vốn tự thân, không ai xác nhận vẫn cứ tồn tại. Có người rất giỏi mà suốt đời chẳng được cất nhắc, chỉ vì thiếu cơ duyên hoặc thiếu người tiến cử. Ngược lại, cũng có kẻ nhờ may mắn hay quan hệ mà cầm quyền dù năng lực tầm thường. Chính khoảng cách giữa tài và quyền ấy buộc khoa Lý số học phải chia thành hai nhóm sao riêng thay vì gộp làm một. Khi luận một lá số cụ thể, người xem số nên đặt một câu hỏi kép: đương số có tài không, và nếu có thì tài ấy có được đặt đúng chỗ, đúng thời để hóa thành quyền hành không. Hai câu hỏi này không thể trả lời gộp, bởi trong đời thực rất nhiều trường hợp cho thấy hai đáp án hoàn toàn ngược nhau.
Thiên Mã và Lộc Tồn: hai lối tài năng, một bên xông pha, một bên tổ chức
Chữ Mã nghĩa là ngựa, gợi sự nhanh nhẹn, mau lẹ, và cũng ngụ ý người nhiều tài, giỏi thao lược, quen xông pha. Kẻ nào có Mã tại Quan hay Mệnh thì phần nhiều lanh lợi, từng trải. Với đường công danh, đây là bộ sao rất cần thiết, đem lại nhiều lợi thế cho những nghề phải đi lại luôn, như liên lạc viên, giao liên, tùy viên sứ quán, đại sứ hay thanh tra.
Công năng của Thiên Mã vốn phong phú, nên sao này kết hợp với vài phụ tinh khác thành nhiều thế đẹp, giúp tài năng có đất dụng võ hơn; có thể kể Thiên Mã đứng cùng Thiên Phủ, Thái Dương, Lộc Tồn, Hỏa Tinh hay Linh Tinh. Song những thế đẹp ấy còn lệ thuộc chỗ đóng của Thiên Mã. Nằm ở Dần (Mộc) hoặc Tỵ (Hỏa), sao càng thêm tươi tốt; nằm ở Thân (Kim), đương số phải lao lực; nằm ở Hợi (Thủy), ánh sáng của sao lu đi. Nguyên do là Thân và Hợi đi ngược với hành Hỏa của Thiên Mã, lại cả hai cung đều thuộc về đêm, khiến Thiên Mã khó phát huy, như con ngựa giữa đêm đen không nhìn ra lối để phi.
Đến bước cuối, muốn kết luận hay dở phải xét hành của Bản Mệnh đang sinh hay đang khắc hành Thiên Mã. Tốt khi Thiên Mã ở Dần (Mộc) và Bản Mệnh thuộc Mộc, Thiên Mã ở Tỵ (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Thiên Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với Thủy Mệnh. Hễ hai hành nghịch khắc nhau thì kém hoặc xấu: tài năng sút giảm, trở ngại tăng thêm, công danh không sáng. Vậy cái hay của Thiên Mã tùy vào hai điều kiện rất linh hoạt. Một là có cát tinh đi kèm, như ngựa hay gặp người cưỡi giỏi, người tài gặp chúa biết trọng dụng. Hai là vị trí hợp với Bản Mệnh và hợp hoàn cảnh, như người tài phải gặp thời mới thuận vận, ngựa phải chạy đúng lúc của nó. Thiếu người đỡ đầu, thiếu thời thế, Thiên Mã hóa vô dụng dù tài năng chẳng thiếu.
Việc chọn con ngựa làm hình tượng cho Thiên Mã hàm chứa nhiều điều để suy ngẫm. Con ngựa quý tự nó đã có thể lực và dáng vóc, nhưng chờ người cưỡi giỏi mới tung hết sức chạy; nó lại phải phi đúng địa thế và đúng lúc mới khỏi hao công vô ích. Lẽ hợp Bản Mệnh, hợp hoàn cảnh mà sách vừa nói, nếu mở rộng ra, cũng chính là lẽ chung của mọi tài năng: giá trị chỉ hiện ra khi gặp được người biết trọng dụng và đúng lúc người ta cần đến. Nếu thiếu cả hai, tài giỏi xuất chúng đến mấy cũng không tự dựng nên thành công.
Về phần Lộc Tồn, đó cũng là một sao của tài năng, thiên về khả năng tổ chức và sự uyển chuyển trước hoàn cảnh. Người mang Lộc Tồn dồi dào sáng kiến, biết nhìn nhu cầu mà ứng biến, tùy thời mà cư xử, khi cứng khi mềm đều có chừng mực. Đặt bên Thiên Mã, Lộc Tồn giống kẻ vỡ hoang mở đường để người khác đi sau; nhờ thế sao này rất hợp với các trọng trách tiên phong, khai phá, dựng cơ sở ban đầu. Vì còn liên quan tới của cải, Lộc Tồn đặc biệt thuận lợi cho giới kinh doanh khai thác tài nguyên hay lo tổ chức sản xuất. Đi cùng Hóa Lộc, Lộc Tồn chuyên đoán, có óc lãnh tụ, độc quyền và tập quyền. Gặp Tuần, Triệt hay Sát Tinh đồng cung, Lộc Tồn mất nhiều cơ hội, hoạt động bị bỏ phí, bị dùng lãng phí, sai chỗ, khiến tài năng mòn đi hoặc bị đem dùng vào việc trái đạo đức. Về tài chính, sao này chỉ sự tiết kiệm, chi tiêu kỹ lưỡng có quy tắc, sự chắt chiu giữ của, hữu ích cho các chức vụ quản trị ngân sách.
Xếp hai sao song song, có thể thấy Thiên Mã và Lộc Tồn bù trừ cho nhau, cùng thuộc một loại tài năng tổng quát. Bên này là sức xông pha, mau quen cảnh mới, luôn sẵn sàng khởi hành; bên kia là sức tổ chức, dựng nền tảng, giữ gìn và vun đắp bền lâu. Nếu Thiên Mã hợp với hình ảnh người tiên phong mở cõi thì Lộc Tồn hợp với hình ảnh người ở lại canh giữ và khai thác vùng đất vừa mở ra. Một người mở đường, một người giữ đất; cả hai đều cần như nhau để một sự nghiệp vừa khởi phát được, vừa đứng vững được. Trong thực tế xem số, nếu một lá số hội đủ cả Thiên Mã lẫn Lộc Tồn ở vị trí tốt, đương số thường vừa dám xông ra mở cái mới, vừa biết dừng đúng lúc để củng cố và tổ chức lại thành quả. Đó là sự phối hợp lý tưởng mà chẳng phải ai cũng có trong lá số của mình.
Thiên Khôi, Thiên Việt và các bộ sao chỉ năng khiếu hùng biện
Thiên Khôi và Thiên Việt, miễn là không gặp Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ, chỉ tài năng xuất chúng, uy tín và sự hậu thuẫn, phần nhiều do văn học, tư cách mô phạm, tính tình cao thượng thanh khiết, cùng tinh thần cạnh tranh và thi đua.
Đáng để ý là điều kiện then chốt cho Khôi, Việt lại nằm ở phía cấm kỵ: chỉ cần tránh Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, chứ không đòi phải có sao nào khác đứng cạnh. Điều ấy cho thấy cặp sao này giống một tố chất bẩm sinh đã tròn đầy, chỉ việc không bị che khuất hay ngăn trở là tự lộ ra ngoài. Đây là nét riêng so với đa số phụ tinh trong sách, thường phải có thêm trợ duyên mới trọn công dụng.
Khi Bạch Hổ và Tang Môn đắc địa tại Dần, đương số vừa giỏi giang, quyền biến, giàu thao lược, xoay xở được lắm cảnh nghịch, vừa có sức phán đoán, lý luận và tài ăn nói, rất hợp với các vị trí ngoại giao, tư pháp, sư phạm. Ấy là bộ sao của quan tòa, luật sư, chính trị gia và giáo sư. Ngoài ra, Tang Môn và Bạch Hổ đắc địa còn có năng lực về võ, có khí phách lãnh đạo, chỉ huy, nhất là khi có sao võ kèm theo. Cho nên Tang Môn và nhất là Bạch Hổ tạo được nhiều thế phối rất đẹp. Kết với Tấu Thư, Bạch Hổ hóa tài ăn nói, biết khơi động lòng người, giỏi chiến tranh tâm lý và vận động đám đông. Kết với Phi Liêm, Bạch Hổ trở nên nhanh nhạy, tháo vát chẳng khác Thiên Mã gặp lúc thời cơ thuận. Kết với Kình hoặc Hình, Bạch Hổ có khí phách, đủ mưu lược cả đường văn lẫn đường võ. Kết với Long, Phượng, Cái, Bạch Hổ báo hiệu danh vọng, sự nghiệp và khoa giáp hiển đạt.
Có một điểm đáng thú: Bạch Hổ vốn thuộc sát tinh, trong nhiều hoàn cảnh khác của lá số thường mang tiếng hung. Thế nhưng khi đắc địa chính tại Dần, chỗ ở của loài hổ, cái hung ấy đổi thành năng lực phán đoán, tài quyền biến và sức ứng phó với nghịch cảnh. Đây cũng là một quy luật cần nhớ khi luận các sao mang tiếng xấu: vị trí đắc địa đúng chỗ có thể biến hung tinh thành công cụ đắc lực, miễn có tổ hợp phù trợ thích hợp. Nhờ tính lưỡng diện này mà Bạch Hổ mới có nhiều phối cách phong phú đến thế, mỗi phối cách khai thác một khía cạnh khác nhau trong bản chất vừa dữ dằn vừa quyền biến của nó.
Thiên Khốc và Thiên Hư đắc địa ở Tý, Ngọ chỉ người chí lớn, có văn tài hùng biện cùng năng khiếu hoạt động chính trị, nhất là về hậu vận. Khốc, Hư cũng có vài phối cách hay. Kình Hình Mã thì hiển đạt về võ nghiệp, nhất là ở Dần và Tỵ. Khốc Hư đồng cung với Sát hoặc Phá đắc địa thì quyền cao chức trọng, uy danh lẫy lừng, được thiên hạ nể phục.
Gộp cả nhóm sao thiên về hùng biện này, tức Bạch Hổ, Tang Môn, Thiên Khốc, Thiên Hư, sẽ thấy một điểm chung: tài của chúng sáng nhất lúc đối diện đông người, khi phải thuyết phục, tranh luận, gỡ những tình thế ngặt nghèo đòi hỏi ứng biến ngay tức khắc. Khác với vậy, tài của Thiên Mã và Lộc Tồn nghiêng về xoay xở, tổ chức việc làm hơn là đối đáp với người khác.
Cũng cần thấy rằng cùng là cặp Thiên Khốc, Thiên Hư, nhưng nghĩa lý đổi ngược hoàn toàn khi vị trí thay đổi. Đóng ở Tý, Ngọ đắc địa, cặp sao hiện thành tài hùng biện và năng khiếu chính trị đáng nể; đóng nơi khác, chúng trở về với nghĩa sầu thương, than khóc, tang tóc, đúng như cái tên. Ví dụ này minh họa sống động cho lẽ mà sách nhắc đi nhắc lại: chẳng sao nào tự nó tốt hoặc xấu đến cùng, bản chất ngả về phía nào là do chỗ đứng và bạn đồng hành quyết định.
Phụ tinh chỉ khoa bảng: con đường đã đổi khác theo thời cuộc
Ngày trước, chỉ có khoa bảng mới đưa người ta tới quyền hành, mà xã hội đã quý quyền hành thì tất nhiên quý cả khoa bảng. Bởi thế, các sao khoa bảng gánh nhiều giá trị và hàm ý về quan lộc, đến mức có thể coi ngang với sao quan lộc.
Sang thời nay, Khoa với Quan đã không còn sánh vai như cũ: chẳng phải ai đỗ đạt cũng có dịp cầm quyền theo nghĩa hành chính, chính trị. Sự nảy nở của các nghề tự do và vốn kinh nghiệm thực tế thời nay khiến khoa bảng không còn thuần là nghĩa quan trường. Trong số người đỗ đạt, chỉ một phần theo nghề chính trị, hành chính. Điều đó làm cho quan niệm quan lộc, hiểu theo khía cạnh chính trị và hành chính, trở nên tương đối lỗi thời. Trong quan niệm ấy vẫn còn những sao khoa bảng mang nghĩa quyền hành, quan lộc trực tiếp về văn, về võ và các ngành khác. Tuy vậy, để khỏi trùng lặp, phần chi tiết về các sao khoa bảng và các ngành nghề trong khoa Lý số học sẽ được bàn ở một chỗ riêng.
Sự đổi nghĩa của khoa bảng theo năm tháng còn chứng tỏ khoa Lý số học không phải một khuôn cứng bất biến, người xem số luôn phải đặt nó cạnh bối cảnh xã hội đương thời mà cân nhắc. Cùng một sao khoa bảng, nhưng ý nghĩa quan lộc của nó thời phong kiến, khi đỗ đạt gần như đồng nghĩa với làm quan, sẽ khác hẳn trong xã hội hiện đại, nơi bằng cấp chỉ là một trong nhiều con đường đi tới thành công chứ không còn là lối độc đạo. Bởi vậy, người xem số cần linh động, chớ áp nguyên xi ý nghĩa cổ điển của một sao vào mọi thời đại mà không xét đến bối cảnh xã hội đã sinh ra ý nghĩa ấy.
Ngoài tài năng và khoa bảng, một quan cách còn thiếu một yếu tố nữa mới trọn vẹn, đó là thời thế và hoàn cảnh. Cũng như việc buôn bán, làm quan phải gặp đúng thời thì tài mới thi thố hết mức, sở học mới có ích cho đại chúng.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).
