Bài tổng quan
Họa sát con, con hư đốn và cảnh cha mẹ chết sớm
Bộ sao Thai đứng cạnh Hình, Kiếp báo một cuộc sinh nở khó khăn, có khi phải mổ để lấy đứa trẻ ra ngoài. Còn đứa con lớn lên lành lặn nhưng đêm đêm bỏ nhà đi bụi đời lại là một nỗi đau thuộc loại khác…
Tình trạng sát con
Sát con ở đây không có nghĩa là cha mẹ giết con hoặc phá thai mà chỉ có nghĩa là hữu sinh vô dưỡng, có đứa chết sớm, đứa chết chậm, sinh nhiều nuôi ít.
Về mặt này, sao hoặc bộ sao nói về họa cho cơ thể, tính mạng lại được ứng dụng lại ở cung Tử. Gặp các bộ sao đó, con cái sẽ gặp họa dành cho người lớn, bất luận sao trong bộ đắc địa hay hãm địa.
Ngoài ra, xin bổ túc dưới đây tình trạng yểu tử của bào thai, hoặc tình trạng con sinh ra chết ngay. Cả hai gần giống nhau.
Thai, Không hay Kiếp
Không hoặc Kiếp hội với Thai có nghĩa là bào thai bị chết, hoặc con vừa sinh thì chết ngay. Mặc dù bộ sao này cũng có nghĩa là phá thai, song việc phá thai không kể là họa. Họa ở đây là họa mất con, xẩy thai ngoài ý muốn của cha mẹ.
Nếu hội đủ Kiếp Không hoặc đồng cung hoặc hội chiếu thì ít ra phải hư thai hai lần hoặc chết con hai lần. Nếu chỉ hư một lần thì sẽ có một đứa con sau này bị yểu. Càng thêm sát tinh khác, số lượng con dễ chết càng nhiều thêm.
Thai, Hình hay Kiếp sát
Đây là trường hợp bào thai bị thương, nói theo danh từ thông thường là động thai. Bộ sao này báo hiệu sự xảy thai có thể có hoặc việc sinh đẻ khó khăn, hoặc lúc sinh hài nhi bị chết và thường xó mổ xẻ để lấy con ra ngoài (césarienne).
Sở dĩ có nhiều hình thái trên là vì Thiên hình ở đây có nhiều nghĩa :
- Ý nghĩa thương tích, chấn động (Hình là vết thương);
- Ý nghĩa mổ xẻ (Hình là con dao mổ);
- Ý nghĩa chết trong tử cung (Hình chỉ tác họa của sự giam cầm, mắc kẹt);
- Ý nghĩa đẻ ngược vì hàm ý có mổ xẻ.
Thông thường bộ sao này xét ra cũng khá nặng, dễ gây cái chết. Nếu thêm sao xấu nữa thì càng chắc chắn.
Thai, Ky
Hóa Ky là ám tinh, chỉ sự trục trặc lúc có mang hoặc lúc sinh nở. Thông thường, hài nhi yếu đuối, hoặc nằm nghịch thế khiến cho khó sinh nở. Nếu hãm địa Hóa Ky có thể báo hiệu sự hư thai.
Mặt khác, vì Hoá Ky chỉ là hóa chất, thuốc ky thai hoặc một món ăn nào đó ky thai.
Thai, Hỏa hay Thất Sát
Bộ này có thể bao hàm nhiều hình thái :
- Hoặc xẩy thai;
- Hoặc sinh ra rồi chết;
- Hoặc thai có hình thái quái dị; trường hợp có quái thai (riêng có bộ sao Thai, Hỏa).
Linh tinh cũng đồng nghĩa với Hỏa tinh khi kết hợp với sao Thai.
Thai, Tang, Hổ
Nhẹ nhất là thai hành hạ người mẹ từ lúc đầu đến lúc sinh. Đây là trường hợp “mang nặng đẻ đau” theo ý nghĩa nặng nề nhất của danh từ.
Nặng là con chết trong bụng mẹ hoặc lúc mới sinh. Vì Tang hổ chỉ máu huyết cho nên bộ sao này báo hiệu sự băng huyết khi sinh hay trong lúc có mang.
Thai, Khốc, Hư hay Song Hao
Đây cũng là tình trạng thai hành hạ người mẹ quá đáng, cũng là trường hợp đẻ khó hay đẻ con ra khó nuôi vì èo uột, phải dinh dưỡng hết sức khó khăn, phải nuôi bằng mồ hôi nước mắt của cha mẹ(nếu có Song hao).
Sự hiện của Song hao cho thấy phải tốn kém nhiều lúc dưỡng thai, dưỡng nhi cũng như lúc sinh nở.
Thai, Lưu hà
Bộ sao này chỉ sản tai, tức là tai họa lúc sinh sản, thể hiện dưới hình thái mẹ chết lúc sinh, thường là do băng huyết hay là lúc sinh bị ra máu nhiều. Sở dĩ như vậy vì Lưu hà chỉ máu loãng xuất huyết (hémorragie). Có ý nghĩa tương tự như bộ sao Thai Tang Hổ, nhưng không hành hạ người mẹ lúc mang thai.
Thai, Tuần, Triệt
Không kể trường hợp phá thai, bộ sao này có nghĩa là bào thai yếu tử, nhất là khi gặp cả Tuần lẫn Triệt.
Thai, Quan đới
Quan đới chỉ cái chết bất đắc, không tự nhiên. Đi với Thai thì dễ hư thai hay hài nhi sơ sinh chết bất thần. Cái chết của Đới xảy ra đột nhiên. Gặp thêm sao xấu, nhất là Không Kiếp, có thể báo hiệu cái chết của mẹ lẫn con.
Tình trạng con hư đốn
Có những đứa con còn sống khỏe mạnh mà lại làm cha mẹ đau đớn hơn cả nỗi mất con, bởi vì chúng hư hỏng ngay trước mắt.
Con hư là một họa cho cha mẹ, vì nó tạo nhiều phiền lụy, nợ nần, tranh tụng, ô danh đồng thời nêu gương xấu cho anh chị em trong nhà.
Con trai thì hư kiểu đàn điếm, cờ bạc, hút sách (á phiện, ma tuý), xài phá hoặc nặng hơn nữa là trộm cướp, hiếp dâm, phiến loạn, hình tù, chết dữ.
Con gái thì hư theo kiểu đi hoang, giang hồ, mất trinh, thất tiết, chửa hoang, bỏ gia đình, giựt chồng người, có khi trộm cướp, cờ bạc, hình tù, chết dữ.
Cả hai đều có thể gây nợ tiền hay nợ tình cho cha mẹ, tất cả đều bất hiếu, bất mục.
Nếu con hư vì sắc dục, trinh tiết thì tại cung Tử sẽ có những sao về họa sắc dục, trinh tiết, giang hồ.
Nếu con hư vì cờ bạc, hút sách, trộm cướp thì cung Tử có những sao hao tán tài sản vì cờ bạc, hút sách, trộm cướp ...
Nếu con bị hình tù thì những cách hình tụng nói trong loại họa tù ngục xuất hiện ở cung Tử.
Trường hợp chết dữ thì đã có sao họa cho sinh mạng cơ thể kể ở phần trên tại cung Tử.
Ngoài ra, để bổ túc, có thể kể thêm các sao dưới đây :
Tham ở Thìn, Tuất hay Thất sát
Cung Tử có Tham Lang hay Thất Sát ở Thìn, Tuất thì có con bất mục, bất hiếu, khó dạy, ngỗ ngược. Tuỳ theo sao xấu nào đi kèm thì tính chất bất hiếu sẽ thể hiện rõ rệt thêm.
Lương, Đồng ở Tỵ, Hợi
Ở cung Tử gặp Lương, Đồng thì còn chơi bời, lãng tử, nam thì kết đảng gian phi, nữ thì dâm đãng hoang phí. Có thêm Mã thì thường bỏ nhà đi bụi đời.
Kình, Đà, Không, Kiếp hãm địa
Ở cung Tử, những sao này chỉ con cái du đãng, bất lương, mất dạy.
Binh, Hình, Kiếp, Ky
Bộ sao này cũng đồng nghĩa như trên nhưng nặng nề, xấu xa hơn. Đó là những gian phi hiểu theo nhiều nghĩa côn đồ, trộm cướp, hiếp dâm, phiến loạn, vào tù ra khám nhiều lần. Thông thường đây là cướp có tổ chức, có nhiều bè đảng, lâu la giúp đỡ.
Đẩu quân và nhiều sao xấu
Đây là trường hợp con hoang phí, xài phá hết của cha mẹ.
Đào hay Riêu
Con chơi bời, đĩ điếm, lẳng lơ, hoa nguyệt. Nếu có sao Thai thì con gái có chửa hoang, bỏ nhà theo trai.
Tình trạng con bất hòa
Khi những đứa con cùng lớn lên dưới một mái nhà, tình ruột thịt cũng có thể hóa thành ganh tị và tranh giành.
Tình trạng bất hòa giữa con cái thể hiện dưới nhiều hình thái :
- Anh chị em trong nhà khắc tính nhau, ghen ghét nhau.
- Anh chị em trong nhà tranh ăn, giành của lẫn nhau.
Những vụ kiện tụng, sang đoạt, lường gạt có thể là hậu quả khả hữu.
Trong trường hợp này có những sao biểu diễn sau đây :
Cự Môn
Dù đắc hay hãm địa, sao này chỉ sự nghi ky, đố ky, ganh ghét, nói xấu, chỉ trích giữa con cái hoặc giữa con dòng lớn và con dòng nhỏ.
Phục Binh hay Hoá Ky
Ngoài ý nghĩa của Cự Môn, Binh, Ky còn chỉ sự toa rập, sang đoạt, ám hại lẫn nhau, phá hoại nhau.
Thiên hình, Quan phù, Quan phủ
Con cái có thể kiện tụng nhau, hiềm khích nhau, coi nhau như người dưng nước lã.
Nếu những sao trên đi liền với những bộ sao nói về con dị bào ở cung Tử thì sự chia rẽ, xâu xé thường xảy ra giữa dòng con cả, con lẽ, hay giữa con ruột con nuôi, con ruột con ghẻ.
Ngoài ra có họa cho con cái mà nguyên nhân bắt nguồn nơi cha mẹ như mồ côi, cha mẹ bất hòa, cha mẹ để nợ cho con cái...
Họa cho cha mẹ
Con cái nhìn về phía trước, nhưng gốc rễ nằm ở phía sau: cha mẹ đi sớm hay ở lâu, hòa hay bất hòa, đều để lại dấu trong lá số của con.
Họa này ảnh hưởng đến sự vắn số của cha mẹ, đến hạnh phúc giữa cha mẹ với nhau và với con cái, đến tình trạng tài sản của cha mẹ và con cái. Danh từ cha mẹ ở đây bao gồm cả cha mẹ ruột, cha mẹ ghẻ, cha mẹ nuôi.
Những họa xảy ra cho cá nhân, cho tài sản, cho nghề nghiệp, cho gia đạo... đều có thể xảy ra cho cha mẹ. Nhưng riêng những họa cho cha mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến mình có thể là :
- Cha mẹ chết sớm, tình trạng mồ côi;
- Cha mẹ chia ly;
- Cha mẹ để nợ cho con cái;
- Cha mẹ bệnh hoạn nặng, tàn tật;
Cái nghèo của cha mẹ không kể là tai họa đối với mình.
Những hình thái họa nói trên do những sao ở cung Phụ mẫu mô tả và một phần nào những sao ở Cung Phúc đức. Trong trường hợp hai cung này ở thế nhị hợp lẫn nhau (như Tý, Sửu ở Ngọ Mùi), mối tương quan càng chặt chẽ hơn, kể như có sự liên lạc mật thiết giữa tổ phụ và cha mẹ về nhiều phương diện. Ngoài ra, còn căn cứ vào cung Âm, Dương tọa thủ để giải đoán bổ túc.
Cha mẹ chết sớm
Rất khó xác định thời gian nào là sớm. Thông thường ta có thể căn cứ vào lá số để tiên đoán tình trạng mồ côi sớm, vì sớm hay trễ là đối với mỗi lá số. Được coi là mồ côi sớm khi nào cha mẹ chết khi mình còn nhỏ, chưa lập thân tự túc được. Như vậy, đối với một số anh chị, việc cha mẹ mất sớm không có ý nghĩa mồ côi cho họ, nhưng có ý nghĩa mồ côi cho mình.
Mặt khác, tình trạng mồ côi chỉ mang ý nghĩa sâu sắc khi nào chết xảy ra sớm cho người nào đã cáng đáng gánh nặng gia đình. Nếu cha làm ra tiền để chi dụng cho con cái mà chết sớm thì họa sẽ nặng hơn. Ngược lại, nếu chỉ có mẹ là trụ cột gia đình thì họa mồ côi mẹ nặng hơn.
Nói chung, việc cha mẹ mất sớm thường biểu hiện qua những đặc điểm chính dưới đây :
- Cung Phúc xấu hoặc tầm thường;
- Cung phụ bị Tuần, Triệt đồng cung trấn thủ;
- Cung phụ có Âm, Dương sáng bị Tuần, Triệt;
- Cung phụ, cung mệnh có hao bại tinh, đặc biệt là Tang môn, Bạch hổ;
- Cung có Thái dương (cha), cung có Thái Âm (mẹ), có Tang Hổ, Đại Tiểu Hao gặp sát sinh;
- Số của cha, mẹ có cách yếu.
Sự hiện diện của sát tinh tại cung phụ mẫu tuy cũng có thể hiểu là cha mẹ mất sớm, nhưng cũng có ý nghĩa là cha mẹ bị nạn, không bắt buộc phải bị nạn chết sớm. Cho nên việc mồ côi sớm hay trễ không phải chỉ tham chiếu độc nhất vào sát tinh ở Phụ mẫu mà thôi.
Ta phải cứu xét mức độ tốt xấu của Thái dương, Thái âm, trong những cung có hai sao này tọa thủ với mức độ tốt xấu của các sao đóng ở cung Phụ mẫu, trong đó phải lưu ý đặc biệt đến sát và hao bại tinh cùng Tuần, Triệt.
Vị trí của Âm dương trên 12 cung cùng với giờ sinh có thể giúp đoán được cha hay mẹ mất trước. Có những trường hợp sau đây :
- Âm dương đều sáng sủa : cha mẹ thọ (thông thường).
- Dương sáng, Âm mờ : mẹ mất trước cha.
- Dương mờ, Âm sáng : cha mất trước mẹ.
- Âm Dương cùng sáng : sinh ban ngày : mẹ mất trước; sinh ban đêm : cha mất trước.
- Âm Dương cùng mờ : sinh ban ngày : cha mất trước; sinh ban đêm : mẹ mất trước.
- Âm Dương đồng cung ở Sửu, Mùi, có 2 trường hợp : không có Tuần, Triệt đồng cung : sinh ngày : mẹ mất trước; sinh đêm : cha mất trước. Gặp Tuần hay Triệt đồng cung : sinh ngày : cha mất trước; sinh đêm : mẹ mất trước.
Cần lưu ý rằng sinh từ giờ Dần đến giờ Ngọ thì kể là sinh ngày, từ giờ Thân đến giờ Tý kể là sinh đêm. Nếu sinh vào 2 giờ Sửu hay Mùi là 2 giờ giáp ngày giáp đêm thì tương đối khó đoán : người có áp dụng quy tắc coi giờ Sửu như thuộc ngày, giờ Mùi thuộc đêm.
Cũng cần lưu ý rằng cung có Âm, dương trú đóng không nhất thiết phải là cung Phụ mẫu, có thể là bất luận cung nào. Nếu rơi vào cung phụ mẫu thì càng dễ đoán, và cũng phải áp dụng theo quy luật nêu trên.
Cũng cần lưu ý thêm rằng việc mất trước không bắt buộc là mất sớm. Việc tính sớm, trễ phải dựa vào cung Phụ mẫu, qua những bộ sao dưới đây :
- Tử-Vi, Phá, quân đồng cung.
- Tử-Vi, Tham lang đồng cung.
- Liêm trinh ở Dần, Thân.
- Liêm trinh, Thất sát đồng cung.
- Liêm trinh, Tham lang đồng cung.
- Thiên đồng ở Thìn, Tuất
- Thiên đồng Cự Môn đồng cung.
- Vũ khúc.
- Vũ khúc, Phá quân đồng cung.
- Thái dương ở Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý.
- Thiên cơ, Thái âm ở Dần.
- Thiên cơ, Cự Môn đồng cung.
- Thiên phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu.
- Thái âm ở Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Dần.
- Tham lang.
- Cự Môn ở Tỵ, Thìn, Tuất.
- Thiên lương ở Tỵ, Hợi.
- Thất sát ở Thìn, Tuất
- Phá quân.
- Phá quân ở Thìn, Tuất.
- Hỏa Linh, Linh Tinh, Phá Quân đồng cung.
- Kình Dương, Đà La, Thất sát đồng cung.
- Thiên mã, Đà La và sát tinh.
- Cô thần, Quả tú và sát tinh.
- Tuần, Triệt tại cung Phụ mẫu.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
