Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Thọ cách của chính tinh, phụ tinh và quan niệm bệnh tật

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202614 phút đọc4 lượt đọc
Thọ cách của chính tinh, phụ tinh và quan niệm bệnh tật

Tử Vi ở cung Ngọ thì thọ, Thái Dương phải đứng ở cung ban ngày mới giữ được tuổi trời. Nhưng khi chuyển sang chuyện bệnh, chính khoa Tử Vi lại thú nhận rằng ông tổ của nó chẳng phải một lương y. Vậy lá số thật sự chẩn được đến đâu, và nên tin đến đâu…


Cát tinh và hung tinh đổi nghĩa theo tuổi già

Giữa cát tinh và hung tinh, ý nghĩa thay đổi nghịch chiều. Cát tinh càng yếu, hung tinh càng mạnh. Dịch lý của các sao một phần nằm trong bối cảnh tuổi tác.

Về phần những giải tinh, phúc tinh, sự phù hợp cũng không còn mạnh như trước.

Vì những lý do đó, người xem số bô lão phải đánh giá lại các sao theo tuổi tác đương số. Phải công nhận rằng sự chuyển hướng này không phải dễ vì tập quán, các thầy số hơi khó sửa, mà dù muốn sửa cũng khó uyển chuyển cho đúng mức được.

Âm dương, ngũ hành trong số người già

Hệ thống giá trị của âm dương, ngũ hành trong số người già cũng cần lưu ý.

Ở đây chỉ lưu ý thêm là qui luật sinh khắc này phải thích nghi theo tuổi tác. Cụ thể như gặp đối khắc âm dương ngũ hành của hạng người già v.v…

Xem thọ cũng tương tự như xem yểu, chỉ hiểu phải đảo ngược luận hướng giải đoán.

Những điều kiện cần và đủ cho cách thọ và có thể được liệt kê như sau:

  • Sự thuận lý của âm dương
  • Sự phù sinh của Cục cho Bản Mệnh
  • Sự tương sinh của cung an Thân cho Bản Mệnh (trường hợp vô chính diệu)
  • Hai trường hợp sinh địa và vượng địa của cung Mệnh
  • Cung Phúc phải thật tốt
  • Cung Mệnh phải tốt: điều này không mấy quan trọng cho người già, vì tuổi già cần đến cung Thân nhiều hơn
  • Cung Thân phải thật tốt
  • Cung Hạn, lớn và nhỏ phải thật tốt: điểm này rất quan trọng vì tuổi già sống theo hạn từng năm càng quan trọng

Các sao thọ

Ở phía bên kia của những sao rút ngắn tuổi đời là những vì sao kéo dài nó — nhưng chúng chỉ giữ được lời hứa khi đứng đúng nơi.

Có thể nói một cách tổng quát rằng cát tinh đắc địa nói chung đều có nghĩa thọ.

Lẽ dĩ nhiên, mức độ thọ càng cao theo trình độ miếu địa, vượng địa hay đắc địa.

Những cát tinh đó phải đóng ở cung Phúc và cung Thân thì càng hay, không cần tốt ở Mệnh. Lý do là vì khi con người quá 30 tuổi thì đã qua giai đoạn Thân. Cung Thân mà tốt thì có điều kiện để thọ. Đó là nói chung.

Đi vào chi tiết, các sao tốt không đứng riêng rẽ mà thường đi chung với nhiều sao xấu. Do đó, ý nghĩa thọ của cát tinh có phần biến đổi. Nếu cát tinh đi cặp song đôi thì ý nghĩa thọ sẽ tăng. Nếu cát tinh trộn với hung tinh thì thọ cách giảm. Trước hết cần điểm qua thọ cách của chính mình.

Tử Vi

Thọ nhất là Tử Vi ở Ngọ và khi Tử Vi đồng cung với Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng.

Tử Vi với Thất Sát thì kém hơn, nghĩa là cũng thọ nhưng phải ở xa quê cha đất tổ.

Liêm Trinh

Liêm thọ ở Dần, Thân hoặc khi nào đồng cung với Thiên Phủ, hoặc Thiên Tướng.

Thiên Đồng

Đồng thọ ở Mão hoặc khi nào đồng cung với Thiên Lương hoặc Thái Âm (ở cung Tý) hay Tràng Sinh.

Vũ Khúc

Vũ thọ ở Thìn, Tuất và khi nào đồng cung với Tham Lang, Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng.

Thái Dương

Sao này chỉ thọ khi tọa thủ ở các cung ban ngày như Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ nhất là đối với người sinh ban ngày và tuổi dương.

Tại Sửu, Mùi, đồng cung với Thái Âm, cần phải có Tuần, Triệt, Hóa, Kỵ đồng cung mới thọ.

Thiên Cơ

Thiên Cơ thọ ở Tý, Ngọ, Mùi và khi đồng cung với Thiên Lương hoặc Thái Âm (ở cung Thân) hoặc Cự Môn.

Thiên Phủ

Phủ thọ ở Tỵ, Hợi hoặc đồng cung với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc.

Thái Âm

Sao này chỉ thọ khi đóng ở cung ban đêm như Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý nhất là đối với người sinh ban đêm, đặc biệt vào giờ có trăng lên và người tuổi âm.

Tại Sửu, Mùi, cần có Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ đồng cung.

Tham Lang

Tham thọ ở Thìn, Tuất hoặc khi đồng cung với Thái Dương ở Dần, với Thiên Cơ ở Mão và Dậu.

Thiên Tướng

Tướng thọ ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc.

Thiên Lương

Lương thọ ở Tý, Ngọ, Sửu, Mùi hoặc khi đồng cung của Thiên Đồng, Thái Dương (ở Mão), và Thiên Cơ.

Thất Sát

Sát chỉ thọ ở Dần, Thân nhưng với điều kiện phải ly hương, hoặc khi đồng cung với Tử Vi.

Phá Quân

Phá thọ ở Tý, Ngọ nhưng phải xa quê.

Thọ cách của chính tinh vẫn bị thay đổi, tăng giảm theo thọ cách của phụ tinh đồng cung. Trong số các phụ tinh này, phải kể những sao có ý nghĩa thọ một cách độc lập không cần có cát tinh khác đi kèm, và những sao thọ cần có phụ tinh tốt đi kèm.

Thọ cách của phụ tinh

Những phụ tinh có thọ cách độc lập gồm có một số các tinh sau: Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Thiên Mã, Long Trì, Phượng Các, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Phúc, Tràng Sinh, Đế Vượng, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Long Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Thiên Thọ.

Có người truy nguyên ý nghĩa những phụ tinh trên để tìm nguyên nhân trường thọ, cụ thể như nói rằng Lộc Tồn, Hóa Lộc là thọ nhờ có tiền bạc, Thiên Quan, Thiên Phúc thọ nhờ tích đức v.v… Nhưng, sự tầm nguyên này không mấy chính xác, dễ rơi vào võ đoán.

Nhưng sao thọ liên đới, tức là cần có sao tốt khác đi kèm gồm có:

Văn Xương, Vũ Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phù, Hữu Bật, Cô Thần, Quả Tú, Đào Hoa, Hồng Loan và Đà La ở Dần Thân vô chính diệu, không có Tuần Triệt đồng cung.

Tất cả sao, vừa chính tinh, vừa phụ tinh kể trên đây muốn toàn nghĩa cần phải có thêm điều kiện sau:

  • Không bị Tuần, Triệt trấn thủ.
  • Không bị sát tinh đồng cung.

Nếu phạm vào những cấm kỵ này, tuổi thọ bị giảm. Đặc biệt ở tại cung hạn của tuổi già – hoặc là cung Thân, hoặc là cung đại hạn, tiểu hạn cách thọ phải vẹn toàn, đông đảo thì mới mong sống lâu được.

Quan niệm bệnh và tật trong khoa Tử Vi

Sống lâu hay chết sớm đã có thước đo; còn giữa hai đầu ấy, thân xác con người còn phải qua bao nhiêu ngưỡng của bệnh và tật.

Bệnh tật là những mối họa cho cơ thể con người, được khoa Tử Vi khảo cứu một cách phong phú. Lá số có dành riêng cung Tật Ách để mô tả những bệnh tật và họa chính yếu. Ngoài ra, mỗi cung khác cũng đều chứa đựng ít nhiều sao bệnh, tật, cần được gộp chung với các sao ở cung Tật để giải đoán. Mỗi lần hạn rơi vào cung nào, các sao tọa thủ tại cung đó đều có ý nghĩa bệnh hay tật khả hữu. Con người có thể bị bệnh tật vào bất luận giai đoạn nào trong mỗi hạn, chứ không phải đợi đến lúc hạn rơi vào cung Tật mới ngã bệnh hay có tật. Do đó, bệnh tật là mối họa trầm kha, vị định chứ không cố định.

Sao chỉ bệnh, tật rất nhiều. Ngoài sát tinh, hình tinh, hao, bại tinh, ám tinh, bất luận chính tinh hãm địa nào cũng báo hiệu bệnh hay tật. Có vài chính tinh miếu, vượng, đắc địa như Thái Âm, Thái Dương mà vẫn có nghĩa bệnh tật. Có phúc tinh như Thiên Đồng, dù đắc địa cũng là sao bệnh.

Về mặt cường độ, sao bệnh tật mạnh theo thời gian. Người có tuổi ngã bệnh dễ hơn tráng niên, mắc một bệnh biến ra hai, ba bệnh và dễ chết hơn. Do đó, khi đoán bệnh cho người già, phải tính thêm hệ số thời gian.

Mặt khác, đối với người bị bệnh nan y từ thuở nhỏ, hoặc bị tật từ lúc sơ sinh, sao bệnh tật của họ đương nhiên mạnh mẽ hơn các người khác. Kỳ dư đối với đa số người có cơ thể và sức khỏe bình thường, sao bệnh tật có hiệu lực giai đoạn mà thôi.

Trong khoa Tử Vi, bệnh tật không được khảo sát rõ ràng lắm. Bệnh được liệt kê trong các sách vở chỉ là bệnh chung, được mô tả bằng những danh từ tổng quát. Ví dụ như có nhiều sao về bệnh của bộ máy tiêu hóa nói chung, mà không có sao chỉ riêng bệnh gan, bệnh ruột, bệnh mật, bệnh lá lách…

Nếu thỉnh thoảng có vài sao nói rõ bộ phận mắc bệnh thì cũng không mô tả căn nguyên. Ví dụ như bộ sao Không, Kiếp, Bệnh, Cơ chỉ bệnh mật một cách tổng quát mà không nói rõ mật đau như thế nào.

Thành thử, ta không thể dùng lá số để chuẩn bệnh cho chính xác được. Tử Vi học dù sao cũng không phải là y học. Khoa Tử Vi chỉ đề cập đến y lý một cách tài tử và đơn giản. Thủy tổ của khoa Tử Vi không phải là một lương y. Vả chăng, vào thời đại nhà Tống bên Tàu, y học Trung Hoa hãy còn đơn sơ và thực nghiệm, chưa được khảo cứu một cách hệ thống và khoa học. Cho nên Tử Vi chỉ kê khai những bệnh thông dụng, tổng quát mà thôi. Đối với kẻ bàng quan thì những bệnh tật mà Tử Vi nói đến thì nhiều, nhưng dưới con mắt của một bác sĩ y khoa ngày nay, số lượng bệnh tật đó quá ít, tính chất bệnh tật lại quá mơ hồ. Vì vậy, ai thử chẩn bệnh trong Tử Vi dùng để biết mà chơi hơn là để điều trị. Cho dù để biết mà chơi thì cái biết này vẫn không chính xác. Ta không nên quá tin vào Tử Vi để rồi bất cập.

Ngoài ra, ta cũng thấy rơi rớt trong khoa Tử Vi một ít tín ngưỡng dị đoan của thời đại nhà Tống. Có vài bộ sao nói lên vài chứng bệnh lạ kỳ. Ví dụ như bộ sao Cơ Hỏa Linh có nghĩa là “bệnh ma làm”, có lẽ là bệnh nhân bị tà ma ám ảnh chăng?

Trong những sách Tử Vi đã có, các tác giả đã không xếp loại bệnh cho có hệ thống, khiến cho việc tra cứu hơi khó khăn. Những tác giả này cứ kể bệnh theo các sao, không chịu khó xếp các sao vào loại bệnh: người học rất khó theo dõi, khó nhớ. Để bổ chính khuyết điểm này, ta thử xếp loại bệnh tật và liệt kê các bộ sao thuộc mỗi loại bệnh.

Trước hết, việc xếp loại sẽ căn cứ vào vị trí của bộ phận bị bệnh (ví dụ như về bộ máy tiêu hóa, bộ máy hô hấp, tứ chi…). Kế đến trong mỗi loại như thế, sẽ phân biệt theo mức độ nặng nhẹ. Những sao chỉ bệnh thuộc mỗi loại sẽ được giải thích rành mạch.

Những bệnh về bộ máy tiêu hóa

Bệnh đầu tiên được kể là bệnh của cái bụng — nơi năm vì sao cùng chia nhau canh giữ.

Thông thường, bộ máy tiêu hóa do 5 sao chỉ định: đó là Thiên Đồng, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Riêu, Hỷ Thần. Chỉ riêng hai sao Thiên Riêu chỉ ruột và Hỷ Thần chỉ hậu môn, kỳ dư ba sao còn lại không chỉ đích danh bộ phận nào trong bộ máy tiêu hóa, từ bao tử, gan mật, lá lách cho đến ruột non, ruột già.

Các bệnh tiêu hóa có khi lại không dùng đến 5 sao. Tuy nhiên, theo nguyên tắc, hễ sao chỉ bộ máy tiêu hóa mà đi chung với sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh thì tất bị bệnh.

Địa Không, Địa Kiếp

Đây là hai sao chỉ bệnh nặng nói chung, trong có bệnh về bộ máy tiêu hóa nếu đi chung với một trong 5 sao chỉ bộ máy tiêu hóa.

Về hình thái của bệnh, có thể là lở bao tử, rách ruột, sạn mật, gan hư, hay có ung thư, kiết máu.

Về cường độ, vì Kiếp Không là sát tinh hạng nặng cho nên bệnh sẽ nặng, nhất là khi hãm địa. Vốn là sao Hỏa, cho nên bệnh bột phát bất ngờ.

Thiên Hình, Kiếp Sát

Một trong hai sao này chỉ về mổ xẻ. Bộ máy tiêu hóa có thể bị giải phẫu. Bệnh sẽ tương đối nặng, nhất là khi gặp cả hai sao.

Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh

Bốn sao này chỉ bệnh, nhưng không rõ tính chất và cường độ, nhưng chắc chắn không nặng bằng Kiếp Không.

Đại Hao, Tiểu Hao

Đúng ra song Hao không chỉ bộ máy tiêu hóa, mà chỉ bệnh đau bụng, tiêu chảy. Ở Mệnh hay Tật, Song Hao chỉ tạng của người hay đi tiêu chảy, không tiêu, kém ăn, trúng thực, thượng thổ hạ tả.

Hóa Kỵ

Chỉ trục trặc nhỏ trong bộ máy tiêu hóa, do sự dùng thuốc quá liều, hay ăn trúng phải chất có hại cho tiêu hóa. (Hóa Kỵ là hóa chất).

Thiên Khốc, Thiên Hư

Chỉ sự lục đục, hao đại ngấm ngầm của bộ máy, không hẳn là bệnh, nhưng gây khó chịu như ăn không tiêu, trục trặc không rõ căn nguyên. Một nguyên do khả hữu là vì bộ răng không tốt, nhai thức ăn không kỹ. Đây cũng là một bệnh kinh niên.

Tất cả sao kể trên hội tụ hoặc riêng lẻ đều gây bệnh. Càng hội tụ nhiều, bệnh càng nặng và lâu khỏi.

Những bộ sao liên quan bệnh tiêu hóa nói chung

Ngoài ra, các sách đã có cũng kể các bộ sao dưới đây liên quan đến bệnh tiêu hóa nói chung:

  • Thái Âm hãm địa
  • Vũ Khúc, Thất Sát
  • Thiên Đồng, Hóa Kỵ
  • Thiên Trù, Đại Hao, Tiểu Hao

Bệnh này do ăn uống quá độ hoặc ăn món lạ bị ngộ độc. Đây là bệnh của người ăn nhiều cao lương mỹ vị, trà dư tửu hậu, thường thấy trong giới ngoại giao, bợm nhậu.

Có những sao chỉ rõ bộ phận bị bệnh như:

  • Riêu, Đà, Kỵ: đau bao tử, đau ruột
  • Không, Kiếp, Bệnh, Cơ: bệnh mật
  • Không, Kiếp, Hỷ, Thần: bệnh trĩ
  • Tham, Đà: bệnh do ăn uống quá độ, bội thực
  • Bệnh Phù: hay đau dạ dày, đầy hơi, kiết lỵ, hoặc thiếu dinh dưỡng sinh ra phù thũng

Những bệnh về bộ máy hô hấp

Từ cái bụng, lá số đi lên lồng ngực — nơi hơi thở ra vào và những vì sao chỉ bệnh cũng ít lời hơn.

Sách Tử Vi không ghi nhận sao nào chỉ riêng bộ máy hô hấp. Chỉ có một số bộ sao chỉ bệnh hô hấp.

Địa Không, Địa Kiếp

Chỉ bệnh đau phổi dưới nhiều hình thái và cường độ khác nhau, từ ho, suyễn, yếu phổi, kém khí cho đến lao, ung thư phổi, sưng phổi.

Những bộ sao chỉ bệnh phổi khác

  • Tang Hổ, Khốc, Hư: ho lao?
  • Thái Âm hãm địa: đau phổi?
  • Thiên Cơ, Khốc, Hư: phong đàm, ho ra máu
  • Thiên Khốc: phổi yếu, hay ho vặt
  • Hình, Bệnh hay Tử: có thể bị lao hay kinh phong

Ngoài ra, những sát tinh, hung tinh, hao bại tinh, kỵ tinh ứng dụng vào bộ máy hô hấp sẽ mô tả thêm rõ hơn hình thái hoặc cường độ của bệnh. Ví dụ như gặp Thiên Hình, Kiếp Sát thì bệnh hô hấp có thể phải mổ, bị Đại, Tiểu Hao thì bệnh phổi hay tái phát nhiều lần gần như trầm kha, gặp Hóa Kỵ thì sinh thêm bệnh tiêu hóa vì dùng quá nhiều thuốc trị phổi, gặp Lưu Hà có thể là phổi có nước v.v…

Vì sự phối trí khá nhiều, chỉ kể vài trường hợp điển hình nói trên mà thôi.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề