Bài tổng quan
Hình tượng quý hiển, tám điều xét mệnh dữ và bốn lá số xưa
Con ngựa hí trong gió, cá chép vượt cổng rồng, hạc kêu giữa chín tầng cao: tuổi nào gặp quẻ nào thì hiện ra bức tranh ấy. Nhưng tám điều xét mệnh dữ nhắc rằng chẳng bức tranh nào thay được việc xem kỹ nguyên khí... Năm lá số được giải đoán dưới đây cho thấy cách làm.
Giải một lá số trọn vẹn: sáu điểm sáng của tuổi Bính Tý
Để thấy các thể cách làm việc ra sao, hãy lấy một lá số cụ thể: người sinh năm Bính Tý, tháng Quý Tị, ngày Bính Ngọ, giờ Tân Mão. Được quẻ Tiên Thiên là Sơn Thủy Mông, biến sang Hậu Thiên là Thủy Địa Tỷ. Quẻ Hỗ Tiên Thiên là Địa Lôi Phục, quẻ Hỗ Hậu Thiên là Sơn Địa Bác. Hóa Công là Chấn, nằm ở quẻ Hỗ Tiên Thiên. Thiên Nguyên Khí là Cấn, có ở quẻ chính Tiên Thiên và quẻ Hỗ Hậu Thiên. Địa Nguyên Khí là Khảm, có ở quẻ chính Tiên Thiên và quẻ chính Hậu Thiên.
Lấy thể cách ra đối chiếu, số này đạt được sáu điểm.
- Tuổi Bính Tý được quẻ Mông là được nạp Giáp, tượng của công danh phú quý.
- Tên quẻ khá tốt: người quân tử giữ nết nuôi đức.
- Tổng số Âm bốn mươi đúng với mùa sinh, mùa xuân tính ôn hòa. Tổng số Dương mười tám tuy ít nhưng đúng con số mười tám, nên được cách thiếu Dương, đắc phúc, lợi cho nam.
- Nguyên Đường tuy không ngồi hào vị tốt, ở hào thượng, nhưng được toàn bộ Thiên Địa Nguyên Khí và Hóa Công, lại có hào ba Âm ứng viện.
- Bính Tý nạp âm Thủy mà Nguyên Đường ngồi quẻ Khảm là hợp lý.
- Quẻ Tỷ ở Hậu Thiên có một hào Dương thống trị năm hào Âm, là được cách chúng tông.
Từ bốn mươi ba tuổi trở ra, người này tất có danh vọng và uy tín hơn trước, dù là công hay tư chức. Được sáu cách trên, số này có thể xếp vào loại mệnh hợp cách bậc trung. Đó là lá số của một kỹ sư đỗ sớm ở trường Bách Khoa ở Pháp, sau đó ở lại làm việc luôn bên ấy.
Đại vận và tuế vận của lá số ấy
Để đoán đại vận, tra lần lượt các hào của quẻ Mông. Đẹp nhất là vận đi qua hào hai và hào năm, thuộc tiên vận ở quẻ Tiên Thiên. Quẻ Hậu Thiên là quẻ Tỷ, thuộc hậu vận, với hào bốn và hào năm rất tốt.
Đoán tuế vận cũng tra các quẻ hào như đại vận. Ví dụ năm mười lăm tuổi, hào sáu Dương quẻ Đồng Nhân biến thành hào sáu Âm quẻ Cách. Tra lời hào sáu Âm quẻ Cách, vì mười lăm tuổi còn đi học nên xem mục dành cho giới sĩ; gặp câu tiến lên, tất là học hành tiến tới.
Những hình tượng quý hiển theo bát quái và theo tuổi
Có tuổi đặt vào quẻ nào thì hiện ra một bức tranh. Con ngựa hí trong gió, con hạc kêu giữa chín tầng, cá chép vượt cổng rồng, mỗi bức là một dáng quý hiển.
Khi tuổi gặp đúng một số quẻ thì lá số hình thành những cách cục quý hiển, mang tên hình tượng. Tổng hợp theo từng cách cục như sau.
Cách cục của tuổi Ngọ và Mùi
Tuổi Ngọ gặp các quẻ Càn, Đỉnh, Độn, Cấu là cách mã tê phong, ngựa hí trong gió. Tuổi Ngọ gặp quẻ Đại Hữu và tuổi Mùi gặp quẻ Đại Hữu là cách Thái Dương đương thiên, mặt trời trên trời. Tuổi Ngọ gặp quẻ Ly là cách Chu Tước hồi quân, phong thơ trở về với chủ.
Cách cục của tuổi Mão, Thìn, Thân
Tuổi Mão gặp quẻ Giải là cách ngọc thố ngoạn thiềm, thỏ ngọc ngắm trăng. Tuổi Nhâm Thìn gặp quẻ Truân và tuổi Thân gặp quẻ Tỷ là cách thố ngoạn ngân thiềm, thỏ ngắm trăng bạc. Tuổi Thìn và tuổi Tị gặp quẻ Ích là cách ngư hóa long môn, cá chép hóa rồng; gặp quẻ Chấn là cách vân tòng long, mây theo rồng.
Cách cục của tuổi Tuất, Hợi, Dậu
Tuổi Tuất và tuổi Hợi gặp quẻ Nhu là cách Thái Âm thăng thiên, Thái Âm lên trời. Tuổi Hợi gặp quẻ Khảm là cách Huyền Vũ đương quyền, rùa đen nắm lệnh. Tuổi Dậu và tuổi Hợi gặp quẻ Quải là cách trạch thừa ân, được ơn trên; tuổi Dậu gặp quẻ Đoài cũng vậy. Tuổi Dậu và tuổi Hợi gặp quẻ Trung Phu là cách hạc minh cửu cao, hạc kêu ở chín tầng cao.
Cách cục của tuổi Dần, Tuất, Tị, Dậu, Sửu
Tuổi Dần và tuổi Tuất gặp quẻ Cổ là cách hổ lộng phong, hùm đùa với gió; gặp quẻ Cấn là cách cẩu hổ tiếu phong, cẩu hổ cười gió; gặp quẻ Mông là cách hổ ẩm thanh tuyền, hùm uống nước suối trong. Tuổi Tị và tuổi Dậu gặp quẻ Tốn là cách phụ phượng thừa phong, bám cánh phượng nhờ gió bay cao. Tuổi Sửu gặp quẻ Khôn hoặc quẻ Quan là cách ngưu bội phong, trâu mát mẻ vì gió.
Những cách ấy chỉ mô tả dáng vẻ; việc quý hiển thật sự vẫn phải đối chiếu với các thể cách khác, và nhất là phải dựa vào Nguyên Đường và hai nguyên khí.
Tám điều để xét mệnh dữ
- Tên quẻ xấu mà không được Thiên Địa Nguyên Khí và Hóa Công thì tức là xấu.
- Ở hào sơ và hào thượng thì dù gặp tai nạn cũng nhẹ thôi. Nếu ở các hào khác, từ hai đến năm, mà số Âm Dương lại không đủ, thêm gặp năm đương niên, nếu có tai nạn thì càng nặng.
- Phạm quẻ chính Tiên Thiên, Hậu Thiên mà không có Nguyên Khí và Hóa Công thì phải tìm ở quẻ Hỗ. Quẻ Hỗ không có nữa thì mới thật là xấu. Tuy xấu, nhưng năm lưu niên nào có thì năm ấy tương đối khá hơn năm không có, nhất là những quẻ thuộc Thủy Hỏa.
- Tuổi Thổ gặp quẻ Tốn, tuổi Kim gặp quẻ Ly, tuổi Thủy gặp quẻ Cấn là tương khắc. Tuy xấu nhưng nếu có Nguyên Khí thì cũng không đến nỗi tai hại quá.
- Tiên Thiên hoặc Hậu Thiên gặp quẻ thuần Ly thì hay đau mắt. Gặp quẻ Cổ, Đại Quá, Minh Di thì cũng hay bệnh tật. Gặp quẻ Phệ Hạp, Vô Vọng, Tụng thì hay tranh chấp kiện tụng. Gặp quẻ Đại Tráng, Khuê, Bác, Truân thì dù làm nên sự nghiệp cũng hay vất vả gian nan.
- Đại vận ở quẻ Hậu Thiên mà thấy ba hay bốn hào xấu liền nhau thì dễ chết; ba năm xấu liền cũng thế.
- Người tư cách tầm thường, vốn nghèo hèn mà gặp quẻ hào rất tốt, bạo phát, thì hẳn vất vả và có tai họa.
- Hào vị tuy đẹp nhưng không bằng quẻ lưu niên đẹp. Hào vị xấu mà lưu niên lại xấu thì là xấu lắm.
Bốn lá số xưa đã được giải đoán
Bốn người sinh cách nhau hàng trăm năm dưới các đời vua, mỗi người đặt vào cùng một cách đọc: nguyệt lệnh, số Âm Dương, Nguyên Đường, nguyên khí, rồi đại vận.
Nam tuổi Canh Ngọ, sinh giờ Dậu tháng bảy đời Thiệu Hưng
Người này sinh sau tiết Xử Thử, nguyệt lệnh là quẻ Thiên Địa Bĩ, ba hào Dương ba hào Âm. Tổng số Dương bốn mươi bốn, đổi ra chín là Ly (Hỏa); tổng số Âm hai mươi tám, đổi ra tám là Cấn (Sơn). Quẻ Tiên Thiên là Hỏa Sơn Lữ, quẻ Hậu Thiên là thuần Ly. Hóa Công là Ly, hiện ở cả quẻ Tiên Thiên và quẻ Hậu Thiên chính; Địa Nguyên Khí là Ly ở cả hai quẻ; còn Thiên Nguyên Khí là Chấn, ứng với can Canh, thì không có.
Bổn mạng có Nguyên Đường ở hào một Âm, lời hào không đẹp, vị ngồi cũng bất đáng. Lại sinh vào mùa thu, tiết khí bình phân, nguyệt lệnh quẻ Bĩ, mà số Dương nhiều, số Âm ít, hai mươi tám là không đủ. Tuy vậy, Nguyên Đường được cách ưu hạng là có bốn hào Dương yểm trợ. Hào bốn Dương lại nằm trong thể Ly, tức Hóa Công, nghĩa là có đại thần chức vị lớn giúp đỡ, nên công danh quý hiển thấy rõ.
Đến đại vận từ hai mươi hai đến ba mươi tuổi, đi vào quẻ Ly, có cả Hóa Công lẫn Địa Nguyên Khí yểm trợ, tốt càng thêm tốt. Đại vận từ bốn mươi sáu đến năm mươi bốn tuổi sang quẻ Hậu Thiên thuần Ly, hào bốn Dương, lời hào khá đẹp, nên được vinh thăng quý hiển, nắm quyền bính. Về sau ông được phong chức Đoan Minh điện đại học sĩ.
Nam âm tuổi Ất Hợi, sinh giờ Thân tháng tám
Người này sinh giờ Thân đúng sau tiết Bạch Lộ, nguyệt lệnh quẻ Bĩ. Tổng số Âm hai mươi sáu, đổi ra sáu là Càn (Thiên); tổng số Dương hai mươi sáu, đổi ra một là Khảm (Thủy). Quẻ Tiên Thiên là Thiên Thủy Tụng, quẻ Hậu Thiên là Trạch Thiên Quải. Hóa Công là Ly, nằm ở quẻ Hỗ Tiên Thiên; Thiên Nguyên Khí là Khôn, không có; Địa Nguyên Khí là Càn, có ở cả hai quẻ Hỗ Hậu Thiên.
Nguyên Đường ở hào một Âm quẻ Tụng, được lời hào tốt: trước có lời, sau cùng được cát. Tuy không được mùa sinh, nhưng tháng tám là mùa thu khí hậu bình phân, mà hai số Âm Dương bằng nhau thì cũng tốt. Hào một Nguyên Đường lại được bốn hào Dương ứng viện; hào bốn Dương vừa có Hóa Công Ly ở quẻ Hỗ, vừa có Địa Nguyên Khí Càn ở quẻ chính, thế là mệnh hợp cách nên quý. Người tuổi Hợi sang Hậu Thiên, đại vận từ bốn mươi chín đến năm mươi bảy tuổi đi vào quẻ Càn, hào bốn Dương gặp Địa Nguyên Khí, nên giữ địa vị đại thần chức lớn. Lại thêm Càn tính cương kiện, nên được giữ chức Tham chính, rất thanh liêm, quang minh chính đại.
Nam tuổi Bính Dần, sinh giờ Hợi tháng mười đời Khai Hy
Người này sinh vào tiết Đại Tuyết, nguyệt lệnh thuần Khôn. Tổng số Dương mười tám, đổi ra tám là Cấn (Sơn); tổng số Âm đổi ra hai là Khôn (Địa). Quẻ Tiên Thiên là Sơn Địa Bác, quẻ Hậu Thiên là thuần Khôn. Nguyên Đường ở hào sáu Dương quẻ Bác; được quẻ này phần nhiều là người làm lớn hay quý nhân, và lời hào nói rằng quân tử được xe.
Đẹp nhất là hai số Âm Dương đều hợp thời: mùa đông số Âm nhiều, trên ba mươi, số Dương ít, dưới hai mươi lăm; nguyệt lệnh lại là quẻ Khôn, Tiên Thiên Bác có năm hào Âm và Hậu Thiên Khôn thuần Âm, nên là số của bậc đại nhân quân tử. Quẻ Bác có tượng một Dương thống trị các Âm, tức cách chúng tông, nên đây là mệnh hợp cách rất quý. Cả hai quẻ Tiên Thiên và Hậu Thiên đều có nguyên khí, gọi là đắc thể hợp thời. Chỉ tiếc không được Hóa Công, nên dù làm lớn cũng chỉ ở chức vị phụ tá, kiểu thị tòng. Sang quẻ Hậu Thiên Khôn, đại vận từ bốn mươi đến bốn mươi lăm tuổi đứng ở cương vị thần đạo, vị bầy tôi cương trực, nên trước sau không đổi dạ thay lòng, xứng đáng bậc danh thần đại nho. Lời quẻ Khôn có câu được thời thì phát huy rực rỡ, thật là đẹp thay.
Nam tuổi Mậu Tý, sinh giờ Hợi tháng mười một đời Thiệu Hưng
Người này sinh sau đông chí, nguyệt lệnh quẻ Phục. Tổng số Dương mười một, đổi ra một là Khảm (Thủy); tổng số Âm ba mươi, đổi ra ba là Chấn (Lôi). Quẻ Tiên Thiên là Thủy Lôi Truân. Hóa Công, Thiên Nguyên Khí và Địa Nguyên Khí đều là Khảm, đều có ở quẻ chính Tiên Thiên và quẻ Hỗ Hậu Thiên.
Nguyên Đường ngồi hào năm Dương quẻ Truân, là đắc vị, được cả trung lẫn chính, nên cứu được cảnh gian truân của quẻ Truân. Đẹp nhất là được trọn cả Thiên Địa Nguyên Khí và Hóa Công, đó là quý cách của người ở nơi triều đình lang miếu. Sinh vào sau đông chí, nguyệt lệnh quẻ Phục, nhất Dương mới sinh, thế là được mùa sinh. Số Dương mười một hợp đúng với nhất Dương lai phục thì không phải yếu, mà số Âm ba mươi cũng không phải bất túc. Khi số Âm Dương được như thế, đó là mệnh của người quý.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
