Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Hình phú Lộc Tồn: Tòa thành tường vây, kho lộc cô độc

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn21/09/202620 phút đọc5 lượt đọc
Hình phú Lộc Tồn: Tòa thành tường vây, kho lộc cô độc

Người có Lộc Tồn ở cung tài bạch thường kiếm tiền chậm hơn thiên hạ, vậy mà cứ lúc túng thiếu lại có tiền rơi vào tay. Kình Dương, Đà La kẹp hai bên như tường đồng vách sắt, che chở được chuyện lành thì cũng giam giữ luôn chuyện dữ. Chỉ có điều, người ngồi trong tòa thành ấy lâu dần cũng khó bước ra…


Ý tượng cơ bản của Lộc Tồn

Lộc Tồn mang hành thổ, chủ về sự cô độc, về chức tước và về tài lộc.

Lộc Tồn và Hóa Lộc là hai chuyện khác nhau

Điều đầu tiên cần nắm cho chắc: Lộc Tồn thuộc thổ, còn Hóa Lộc thuộc kim. Thổ thì tĩnh, đứng yên một chỗ, vững chãi và trầm ổn. Hóa Lộc thì ngược lại, là dục vọng, là lí tưởng, là khát khao, là nhiệt tình và cả lòng tham. Hai khái niệm ấy tuyệt nhiên không thể đem gộp làm một. Người đọc sách cổ gặp câu kiểu "thấy Lộc thì thế này thế kia" thì phải dừng lại mà phân định cho rõ chữ "Lộc" ở đó là Lộc Tồn hay Hóa Lộc.

Tòa thành có tường vây hai bên

Lộc Tồn bao giờ cũng bị Kình Dương và Đà La kẹp hai cung bên cạnh, hình dung như một người ở trong thành, tách hẳn khỏi cảnh vật bên ngoài. Sự tách ấy là xa cách chứ chưa phải cắt đứt hoàn toàn. Cảnh gió lặng sóng yên vốn là tính của thổ; vì có cái "xa cách" ấy nên mới sinh ra tính "cô độc", và cũng vì vậy mà Lộc Tồn đóng ở các cung lục thân thì không hay. Trái lại, ở cung tài bạch, cung điền trạch, cung thiên di hay cung quan lộc thì lại chủ về giàu có, bởi bản chất của Lộc Tồn là lợi lộc và chức tước.

Dựng cho đúng quan niệm về Lộc Tồn

Lộc Tồn là sao thứ ba của chòm Bắc Đẩu, còn có tên là Thiên Lộc tinh, chủ về tài lộc, chức tước và phúc thọ. Tuy là một đại cát tinh, Lộc Tồn lại không thuận cho chuyện nhân sự, vì nó lấy hai hung tinh Kình Dương và Đà La làm vệ binh; thành ra khi rơi vào cung lục thân thì hiện tượng "cô độc" hay xuất hiện, và người ấy thường khó hòa vào chỗ đông người.

Hình tượng của Lộc Tồn là một khuôn mặt vui vẻ, dễ gần, tấm lòng nhân hậu; song bên trong lại nặng lòng đề phòng, nên cũng chủ về tính bảo thủ. Lộc Tồn một mình ngồi ở cung mệnh thì dễ có khuynh hướng "hẹp hòi". Đàn ông có Lộc Tồn ở cung phu thê thường bị đoán là "sợ vợ"; thật ra trong đó có ý "quý trọng", có điều ít nhiều cũng mang cách nghĩ coi vợ như một thứ tài sản của mình.

Kình Dương, Lộc Tồn, Đà La là một nhóm ba sao đứng ở ba cung nối liền nhau. Tách riêng từng sao mà luận thì dễ sinh ra chỗ trước sau chẳng khớp, thậm chí vênh nhau. Chính vì Lộc Tồn lúc nào cũng bị hai sao kia kẹp hai bên, nên ý tượng gốc của nó tuy là giải trừ tai ách mà lại không phát huy được hết. Nhìn từ phía khác, đó là cảnh Lộc Tồn bị Kình Dương, Đà La kìm giữ: giống như tránh gió trong một bến cảng, hoặc sống lặng lẽ sau bức tường đồng vách sắt, có cảm giác an toàn, không bị ai quấy phá, một đời yên ổn chẳng tranh chấp với ai. Cũng có thể coi đó là bến tránh bão, hoặc là quả ngọt được hưởng sau khi đã qua những cơn biến động do Kình Dương, Đà La gây ra; hoặc là trạm nghỉ chân để người ta hồi sức.

Lộc Tồn tinh giải

Tòa thành ấy che chở được người tốt, thì cũng giam giữ được kẻ xấu; chỗ khác nhau nằm ở ai bước vào.

Khi Hóa Kị đứng cùng Lộc Tồn

Đã biết Kình Dương và Đà La luôn luôn kẹp hai bên Lộc Tồn, vậy nếu có Hóa Kị vào đồng cung với Lộc Tồn thì lành hay dữ? Hai sao Kình, Đà là tường đồng vách sắt, còn Lộc Tồn thì như cái huyệt đất lành trong phong thủy. Chuyện tốt hay chuyện xấu, hễ đã chung sống với Lộc Tồn thì đều được Kình Dương, Đà La che chở hoặc trói buộc. Với chuyện tốt, đây là mảnh đất an lành; với chuyện xấu, đây là chỗ tránh bão, một nơi để ngơi nghỉ.

Lộc Tồn thuộc thổ, Hóa Kị thuộc thủy; theo lẽ ngũ hành thì thổ khắc được thủy. Nghĩa là khi Hóa Kị ở chung với Lộc Tồn, lại có Kình Dương, Đà La giáp cung, thì tai họa chưa bùng ra ngay mà tạm thời bị đè nén. Nghe thì có vẻ lạ, nhưng sách cổ vẫn có câu:

Dương Đà giáp Kị.

và câu ấy được xếp vào loại rất xấu. Thực ra lời đoán này chỉ ứng nghiệm khi có thêm Địa Kiếp hay Địa Không cùng ngồi với Lộc Tồn. Cảnh bị giam hãm như thế cũng chẳng khác gì kẻ tù tội; người mang mệnh cách này nên tìm chỗ dựa ở niềm tin tôn giáo, hoặc sớm tìm đến tâm học, Dịch lí, mệnh lí, đọc sách triết học để đời sống bên trong được phong phú hơn.

Còn nếu đồng cung là Hỏa Tinh, Linh Tinh thì sao? Khi ấy giống như mãnh thú bị nhốt trong lồng: dù hung dữ đến mấy cũng chỉ gầm thét trong lồng mà thôi.

Lộc Tồn gặp Hóa Kị ở cung tài bạch

Lấy một ví dụ: cung tài bạch ở Dần, có Thái Dương Hóa Kị và Cự Môn cùng ngồi với Lộc Tồn. Mệnh bàn dưới đây là của một người sinh năm Giáp.

Huynh Đệ (Tị)
Tử Vi
Thất Sát
Mệnh (Ngọ)
Vô chính diệu
Phụ Mẫu (Mùi)
Vô chính diệu
Phúc Đức (Thân)
Vô chính diệu
Phu Thê (Thìn)
Thiên Cơ
Thiên Lương
Người sinh năm GiápĐiền Trạch (Dậu)
Phá Quân Quyền
Liêm Trinh Lộc
Tử Nữ (Mão)
Thiên Tướng
Quan Lộc (Tuất)
Vô chính diệu
Tài Bạch (Dần)
Thái Dương Kị
Cự Môn
Lộc Tồn
Tật Ách (Sửu)
Vũ Khúc Khoa
Tham Lang
Thiên Di (Tí)
Thiên Đồng
Thái Âm
Nô Bộc (Hợi)
Thiên Phủ

Người có Lộc Tồn ở cung tài bạch thì cơ hội kiếm tiền thường tới chậm hơn thiên hạ, nhưng hễ lúc túng thiếu lại có tiền rơi vào tay bất ngờ. Có điều Hóa Kị làm cho vẻ quang minh lỗi lạc của Thái Dương bị hao đi: người này tuy hay nói chuyện tiền nong nhưng lại khó mở lời, tuy ăn nói rất khéo (đó là công của cặp Thái Dương, Cự Môn), vậy mà hễ đụng tới chuyện tiền là đòi giá cao, thái độ lúng túng, ngượng nghịu; thậm chí có khi mượn danh nghĩa việc chung để lo lợi riêng. Nói cho đủ, tổ hợp Thái Dương, Cự Môn còn là tài ăn nói, biện luận, văn chương, dùng để thắng người.

Vì cung tài bạch bị Kình Dương, Đà La kẹp lại kìm giữ, nên dù có mưu tính bại lộ thì cũng không thành chuyện lớn ầm ĩ; đó là nhờ Lộc Tồn đã hút lấy cái tính của Thái Dương Hóa Kị, tức là lách luật, kiếm tiền giữa lúc thời thế rối ren, hoặc kiếm tiền từ những chuyện kín. Giả như con cái mình mang mệnh cách này thì phải nhắc chúng gắng sức kiếm thật nhiều tiền. Phần đông người thuộc mẫu này nếu làm công chức, mà cha mẹ và vợ con lại không phải hạng người "vĩ đại", thì dễ đi tới chỗ đòi hối lộ hoặc tham ô.

Lộc Tồn gặp Hóa Kị và Địa Không, Địa Kiếp ở cung tật ách

Thử đặt Lộc Tồn cùng Hóa Kị và Địa Không hoặc Địa Kiếp vào cung tật ách thì sao? Trên mệnh bàn Tử Vi Đẩu Số, cung nào cũng có công dụng riêng; tổ hợp này không nên nằm ở cung mệnh hay cung quan lộc, nhưng ở cung tật ách lại chưa hẳn là xấu. Vì sao? Cung tật ách là tính ẩn: nó nói về khả năng mắc bệnh, về chỗ sâu kín nhất trong tâm hồn, năng lực tư duy, tốc độ chuyển ý nghĩ; cũng từ cung này mà xét xem người phối ngẫu có đào hoa, có người tình bên ngoài hay không, v.v.

Trong trường hợp này, riêng xét về trí thông minh thì người có Địa Kiếp, Địa Không ở cung tật ách được tiếp nhận tri thức rất tốt, trí tưởng tượng phong phú và không bị gò bó. Mỗi người chỉ có một Hóa Kị năm sinh; đem nó giao cho Lộc Tồn tiêu hóa, lại để Địa Kiếp, Địa Không hút bớt khí của nó, thì ở cung tật ách, trạng thái tâm lí tự tù của Hóa Kị sẽ nhẹ đi, còn cái tính u ám của nó cũng không đến nỗi quá nặng. Các sao sắp đặt như vậy là chuyện tốt, chỉ có điều người này có phản ứng không được lanh lẹ, suy nghĩ thì sâu hơn nhiều, trí thông minh không vì thế mà giảm; mệnh tạo thành ra người trầm tĩnh, hơi bảo thủ, nhưng không phải kẻ lòng dạ đen tối — có thể nói là người được trời thương.

Gặp Lộc Tồn có bất lợi không

Bị kẹp giữa hai bức tường suốt đời, có người bảo sao ấy vô dụng; nhưng chuyện không đơn giản như vậy.

Có người cho rằng trong Tử Vi Đẩu Số, Lộc Tồn chẳng làm được việc gì, vì đời đời kiếp kiếp nó bị Kình Dương, Đà La kẹp hai bên mà kìm lại, không cách nào bung ra được sức mạnh. Bị kẹp như vậy thì chủ về một đời bảo thủ, không đủ lực thoát khỏi vòng kìm kẹp, cho nên là bất lợi.

Thế nhưng có rất nhiều cách cục như "Song Lộc giao trì" hay "Lộc Mã giao trì" lại chủ về biến động; chỉ có điều phải xem mệnh tạo đang hỏi về chuyện gì. Lại phải nhìn cả mệnh bàn xem Lộc Tồn đứng với các chính tinh trong mối quan hệ ra sao, rồi mới nói được Lộc Tồn bất lợi ở việc gì. Theo Khâm Thiên môn, mọi cát hung của Lộc Tồn đều phải xét qua độ vượng hãm của chính tinh. Cung mệnh vô chính diệu mà bị Kình Dương, Đà La kẹp giữ thì quá ư bảo thủ và yếu hèn; nếu chính tinh mạnh thì người ấy làm việc thận trọng, vững vàng. Còn chuyện người đó thuộc cách cục mở đường khai phá hay cách cục giữ gìn những gì đang có, đương nhiên còn dính dáng mật thiết tới nhiều yếu tố khác.

Lộc Tồn ở cung nô bộc

Có câu phú rằng:

Lộc Tồn cư nô bộc, túng hữu quan dã bôn trì.

Nghĩa là Lộc Tồn ở cung nô bộc thì dù có làm quan cũng phải bôn ba. Vì sao vậy? Lộc Tồn ở cung nô bộc thì Kình Dương, Đà La tất xung chiếu về cung mệnh, rất dễ thành cảnh "tớ" mạnh mà "chủ" yếu. Nếu điều kiện không tốt thì biến thành "ác nô hiếp chủ"; tuy Lộc Tồn có sức chế hóa, giải được nguy nan, nhưng còn phải xem điều kiện của nó, có khi lại phản tác dụng, vì thế mà bất lợi.

Thử đổi sang góc nhìn khác. Theo thuyết "Thiết kế bố cục thất tinh nguyên thủy và thuyết cung thiên địa nhân", Lộc Tồn ở cung Dần là "nhân", mà cung Dần lại là đất Tứ Mã, chủ về bôn ba vất vả, về dịch mã. Lộc Tồn tuy chủ về tài lộc, lộc ăn, nhưng rơi vào cung "nhân" thì phải trông vào sức lăn lộn vất vả của bản thân mới có được; huống hồ lại còn Kình Dương, Đà La kẹp hai bên, xem ra càng thêm cực nhọc.

Đặc tính của Lộc Tồn và tình hình khi bay vào các cung

Muốn biết một viên ngọc sáng tới đâu, phải đem nó đặt vào từng hộp một mà ngắm.

Đặc tính của Lộc Tồn

Sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư chép:

Lộc Tồn là âm thổ, là sao thứ ba của Bắc Đẩu, cai quản chức tước quý hiển, nắm giữ tuổi thọ.

Lộc Tồn còn gọi là Thiên Lộc, chủ về tài lộc, lộc ăn, chức tước và phúc thọ.

Sách Tinh Viên luận chép:

Dần là cung thuộc mộc, là lúc tam dương giao thái, thảo mộc nảy mầm.

Đời Thanh, niên hiệu Gia Khánh, Trương Thuần Chiếu có một lời bàn, đại ý như sau: khởi Trường Sinh thì phải dùng thiên can mới đúng. Người đời sau không phân biệt âm dương, cứ lấy ngũ hành Tứ Trường Sinh mà đi thuận, không biết rằng mười hai thần xuất phát từ Lâm Quan mới là "Nhật chi Lộc Thần". Cho nên Giáp là dương mộc, Trường Sinh ở Hợi, từ Hợi đi thuận tới Dần là Lâm Quan vậy; Ất là âm mộc, Trường Sinh ở Ngọ, từ Ngọ đi nghịch tới Mão, cũng là Lâm Quan. Nếu vận dụng Trường Sinh lẫn lộn thì Lâm Quan không còn liên quan gì tới Lộc Tồn nữa, sai lầm lắm.

"Nhật chi Lộc Thần" nói ở trên chính là Lộc Tồn. Với can Giáp, Lộc Tồn khởi ở cung Dần, rồi theo thứ tự mười thiên can mà bắt đầu từ cung Dần, không vào bốn đất "Tứ Mộ" là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Đứng ở vị trí nào thì Lộc Tồn cũng bị Kình Dương, Đà La kẹp hai bên kìm giữ; vì có hai sát tinh kìm lại nên về tài vật thì mang ý bảo vệ, còn về tinh thần thì chủ về cô độc, khó gần gũi.

Lộc Tồn bay vào mười hai cung

Cung mệnh: chủ về giàu, nhưng tính cô độc; vì có Kình Dương, Đà La kẹp hai bên nên hay thấy mình như bị trói buộc.

Cung huynh đệ: nếu không gặp các sao sát, kị thì anh em được quý hiển; nếu có sát, kị thì anh em dù quý hiển cũng chẳng giúp đỡ được nhau.

Cung phu thê: có khuynh hướng sợ vợ (hay sợ chồng), nên lập gia đình muộn; gặp Thiên Mã thì nhờ người phối ngẫu mà giàu có.

Cung tử nữ: chủ về cô khắc, ít con. Cần gặp tam cát Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, hoặc Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật thì mới giảm nhẹ được tình hình vừa nói.

Cung tài bạch: Lộc Tồn là sao tiền, vào cung tài bạch là đắc chỗ; ưa gặp Vũ Khúc, Thiên Phủ và Thiên Mã.

Cung tật ách: Lộc Tồn là âm thổ, ý tượng là tì vị không tốt, lúc nhỏ hay đau ốm. Gặp thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh thì dễ bị thương ở tay chân; gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp thì dễ mang bệnh kín theo người.

Cung thiên di: ra ngoài được quý nhân giúp đỡ. Gặp Hóa Kị, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì phải đề phòng tiểu nhân bám riết.

Cung nô bộc: giao du rộng, rất có duyên với người, dễ được người giúp mà cũng hay giúp người, nhưng khó tránh cảnh bôn ba.

Cung quan lộc: gặp thêm cát tinh thì "tài" và "quan" cùng đẹp; cát tinh nhiều thì có danh tiếng và chức vị cao; hung tinh nhiều thì sự nghiệp khó phát triển.

Cung điền trạch: chủ về nhà cửa ruộng vườn nhiều; nhưng nếu đồng cung với Hóa Kị và Lục Sát tinh thì phúc ấm tổ tiên để lại chẳng được bao nhiêu.

Cung phúc đức: gặp thêm cát tinh thì nhiều chuyện vui và phúc hậu; gặp thêm sát tinh thì tinh thần không yên ổn.

Cung phụ mẫu: ít duyên với cha mẹ; nếu đồng cung với Hóa Kị và sát tinh thì tình hình càng nặng.

Lộc Tồn ưa gì, kị gì

Đã thấy nó ở mười hai nơi, giờ gom lại xem nó mừng khi gặp ai, sợ khi gặp ai.

Về cung chức

Lộc Tồn ưa vào cung tài bạch, quan lộc, điền trạch, vì ở đó chủ về giàu có, nhưng không nên có Hóa Kị và sát tinh phá hoại. Lộc Tồn kị vào các cung lục thân, vì tính "cô khắc" của sao này, thường chủ về duyên mỏng hoặc khó giúp đỡ lẫn nhau. Ngoài ra, Lộc Tồn vào "ngã cung" thì tốt hơn vào "tha cung".

Về các sao đi kèm

Lộc Tồn ưa đồng cung hoặc hội chiếu với Hóa Lộc, gọi là "Song Lộc giao lưu", chủ về nguồn tiền dồi dào, từng bước lên cao. Nếu đồng cung hoặc hội chiếu với Thiên Mã thì gọi là "Lộc Mã giao trì", có tượng danh lợi đều được. Nếu Văn Khúc đồng cung, lại hội thêm Văn Xương, thì gọi là "Lộc Văn củng mệnh": về văn nghệ có biểu hiện nổi trội, văn tài và tiền bạc đều đủ, không chỉ giàu mà còn sang. Nếu đồng cung hoặc hội chiếu với Thái Dương, Thiên Lương, Văn Xương thì thành cách "Dương Lương Xương Lộc", chủ về có công phu trau dồi văn nghệ, thi cử thuận lợi, và cũng nhờ vậy mà có được việc làm tốt.

Lộc Tồn gặp Hóa Kị đồng cung hoặc hội chiếu thì sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư nói là không tốt:

Kình Dương, Đà La giáp Kị là bại cục.

Sách ấy còn nói:

Lộc phùng xung phá, cát xứ tàng hung.

Tức là Lộc gặp xung phá thì trong chỗ lành có chứa chỗ dữ, chủ về phát mà không được lâu. Gặp Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc Hóa Kị xung phá, thì cát trước hung sau, cái tốt ấy là một thứ mồi nhử, bề ngoài vẻ vang mà bên trong ngầm chứa hiểm họa. Nếu Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì gọi là "Lưỡng trùng hoa cái": cuộc đời tạm thời dư dả, nhưng rốt cuộc vẫn quay về chỗ bình thường. Lộc Tồn rất kị đứng một mình, vì như thế chủ về cô độc hình khắc; nếu đứng một mình ở cung tài bạch hay cung nô bộc thì chủ về kinh tế không khá. Lộc Tồn đứng một mình không có chính tinh ở cung mệnh mà đồng cung với sát tinh, hoặc cung đối diện có sát tinh xung chiếu, hoặc cung tật ách có sát tinh, thì dễ bị thương tật.

Luận đoán tổng hợp về Lộc Tồn

Kho lộc có tường vây bốn phía thì giữ được của, nhưng người ngồi trong kho cũng khó bước ra.

Theo thiết kế ban đầu của Đẩu Số, sao thứ ba của Bắc Đẩu là Lộc Tồn được đặt vào cung "nhân", lại có Kình Dương đứng trước và Đà La đứng sau kẹp giữ; hơn nữa bản tính của Lộc Tồn vốn thuộc loại "cô khắc". Cho nên khi vào cung lục thân, phần nhiều nó chỉ chủ về duyên mỏng với người ứng với cung ấy (tùy cung nào), chứ không chủ về "hung". Xét cho hợp lẽ, phải có thêm điều kiện "hung" thì mới thành cảnh "một đời bất lợi".

Tính của sao vốn không có cát hay hung; nhưng khi chính tinh độc tọa ở cung mệnh hay ở một cung nào đó có Lộc Tồn, thì dựa vào đặc tính của Lộc Tồn đã phân tích ở trên, tuy có nhiều yếu tố bất lợi, cũng không thể dựa vào đó mà định cát hung. Phải xem cả mệnh bàn, xem chính tinh và các sao sát, kị đồng cung hoặc ở tam phương hội chiếu có tình hình ra sao, tổng hợp lại rồi mới luận, như vậy mới khỏi thiên lệch. Chẳng hạn cung phu thê có Tả Phụ, Hữu Bật thì có nhất định chủ về kết hôn hai lần không? Lẽ ấy cũng y như vậy.

Có điều, căn cứ theo Tử Vi Đẩu Số toàn thư và các sách cổ khác thì biết rằng Lộc Tồn phối với chính tinh tốt hay xấu, hay gặp Lục Sát tinh hội chiếu hoặc đồng độ, nếu đứng ở góc độ mệnh lí mà xét thì chưa đến nỗi quyết định sự thành bại của mệnh tạo. Nhưng tối kị là có sát tinh và Hóa Kị đồng độ, khi ấy ắt thành phá cách. Đây mới là điểm quan trọng, cho nên mới có thuyết "Kình Đà giáp Kị là bại cục" và thuyết "Lộc gặp xung phá, chỗ cát có chứa hung".

Còn thuyết "cô khắc" thì cũng phải xét từ những góc nhìn khác nhau. Như khi luận về người, nếu ở cung nô bộc thì ngược lại, có thể đạt được chỗ kén chọn bạn mà giao du, như thế cũng không phải chuyện xấu; khi luận về tiền tài, có hai sát tinh hộ vệ thì nhờ đó mà biết kiểm soát, có chừng mực, không gây ra tổn thất nặng — có gì là không tốt đâu?

Vì sao Lộc Tồn không vào bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

Đất gặp đất thì chẳng cần thêm tường; bốn góc kho ấy vì thế mà vắng bóng kho lộc.

Kình Dương không có mặt ở các cung Dần, Thân, Tị, Hợi; Đà La không có mặt ở các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu; còn Lộc Tồn thì tuyệt duyên với bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Vì sao vậy?

Ngũ hành của Lộc Tồn thuộc thổ, công dụng cũng giống tính thổ của bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; chỗ khác là Lộc Tồn có Kình Dương, Đà La kẹp hai bên. Lộc Tồn thuộc thổ, thêm vào đó lại bị Kình Dương, Đà La kẹp giữ, nên nếu trong cung có Hóa Kị hay hung tinh khác thì đều sinh ra lực phong tỏa. Các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không có sức chế ngự hung tinh, nhưng lại làm giảm được lực của Hóa Kị. Có điều, đừng hễ thấy Hóa Kị là cho ngay là điềm hung; chẳng hạn Hóa Lộc ở "ngã cung", Hóa Kị cũng ở "ngã cung", thì khi lực của Hóa Kị yếu đi, thành quả cũng giảm theo.

Ngũ hành của Kình Dương là dương kim của can Canh (còn mang chất dương hỏa); mà Dần, Thân, Tị, Hợi là đất Trường Sinh của hỏa, thủy, kim, mộc, cũng là đất Lâm Quan của dương mộc (Giáp), dương kim (Canh), dương hỏa (Bính), dương thủy (Nhâm). Trong quan niệm khắc hợp của thiên địa hữu tình, người xưa không để cung vị làm biến dạng sức mạnh của Kình Dương khi nó vào một cung vị cũng mang dương khí; nếu không, các sao trong cung Dần, Thân, Tị, Hợi sẽ không cách nào "sinh tồn". Đó là chỗ dụng tâm tính toán của cổ nhân khi đưa Kình Dương vào mệnh bàn Đẩu Số, bởi thiên địa không hoàn toàn là vô tình, chỉ biết sát phạt tiêu điều.

Ngũ hành của Đà La thuộc âm kim (Tân kim); còn Tí, Ngọ, Mão, Dậu là âm thủy (Quý thủy), âm hỏa (Đinh hỏa), âm mộc (Ất mộc), âm kim (Tân kim), là đất Mộc Dục của mộc, kim, hỏa, thủy; nhưng quan trọng hơn, đây là đất Đế Vượng của thủy, hỏa, mộc, kim, là những cung vị có thuộc tính ngũ hành rất "thuần". Dù sức bùng phát của Đà La không lớn bằng Kình Dương, nhưng tính chất "sát phạt tiêu điều" của nó lại kéo dài hơn Kình Dương. Nếu Đà La ở trong các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu thì cũng khiến các sao ở đây không cách nào "sinh tồn".

Cũng vì Kình Dương, Lộc Tồn, Đà La làm biến chất cung vị mà chúng đóng, và làm cho tính của các sao trong cung "đột biến", sức mạnh quá lớn; cho nên sức mạnh của Kình Dương, Đà La, Lộc Tồn lớn hơn Tử Vi, Thiên Phủ rất nhiều, không thể xếp ngang hàng với các hung tinh như Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn