Bài tổng quan
Hai đường chuyển Kỵ và ba trụ cột của phi tinh
Cung A đưa Lộc cho cung B, cung B lại đẩy Kỵ sang cung C: một dòng tiền chảy qua ba cung mà không cung nào đứng yên. Vì sao tứ hóa phi tinh được gọi là đường cong, còn tự hóa chỉ là đường thẳng? Câu trả lời nằm ở chữ chuyển…
Mục lục · 6 phần
Đường thẳng và đường cong: chỗ phi hóa vượt khỏi địa bàn
Tử vi có ba kiểu tứ hóa. Kiểu thứ nhất là tứ hóa năm sinh, do thiên can của năm sinh tạo ra. Kiểu thứ hai là tự hóa, gồm tự hóa hướng tâm và tự hóa ly tâm. Kiểu thứ ba là phi hóa, tức thiên can của một cung sai khiến Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ bay sang một cung khác.
Tử vi Nam phái, tức lối xem quen thuộc ở Việt Nam, chỉ dùng tứ hóa năm sinh và nghiêng nhiều về tính chất của từng vì sao. Bắc phái phổ biến ở Hương Cảng và Đài Loan thì có quan điểm và thủ pháp rất khác. Trong Bắc phái, Tứ hóa phái đặt nặng tự hóa, mà đường đi của tự hóa luôn là đường thẳng, vì nó chạy dọc trục hai cung xung chiếu. Nhưng không lá số nào cũng có tự hóa, lá nhiều lá ít, vì cung muốn Hóa Kỵ thì trong cung phải có sao chịu được Hóa Kỵ. Trong khi đó cung nào cũng có thiên can, nên cung nào cũng có thể phi đủ bốn hóa sang cung khác. Những đường ấy là đường cong. Đường thẳng của tự hóa chỉ là trường hợp riêng của đường cong phi hóa: phi sang đối cung thì thành tự hóa hướng tâm, phi về chính nó thì thành tự hóa ly tâm. Phi tinh Lương phái xếp mọi tự hóa vào loại hóa xuất.
Có thể hình dung thế này: tứ hóa năm sinh như chiếc xe đang đỗ, tự hóa là chiếc xe chạy thẳng, còn phi tinh là chiếc máy bay. Phi hóa giống như những cánh tay vươn dài của một cung, mang theo ý chí và ảnh hưởng của cung ấy. Hai cung gặp nhau khi cánh tay của chúng chạm vào nhau trong cùng một cung hoặc trong cùng một trục. Cung này tác động lên cung kia không còn bị trói trong khung cứng của địa bàn nữa, nên phép luận biến hóa khó lường. Nó giống bóng hình của quan hệ nhân quả trong đời mỗi người: có đến, có đi, có nhiều, có ít, có lúc được, có lúc không thể.
Hệ phái này do thầy Lương Nhược Du học từ lão sư Chu Thanh Hà, về sau truyền lại cho thầy Trương Thế Hiền, người hiện mở lớp dạy trực tiếp ở Đài Loan. Cả Chu Thanh Hà lẫn Lương Nhược Du đều nổi tiếng giang hồ mệnh lý vì đoán chuẩn, đoán tỉ mỉ, và quan trọng hơn cả là thấy rõ một sự việc duyên khởi từ đâu, duyên diệt lúc nào. Tinh hoa của hệ phái nằm ở thủ pháp chuyển Kỵ, cụ thể là hai đường Lộc chuyển Kỵ và Kỵ chuyển Kỵ.
Tứ hóa năm sinh và một cái phi hóa đơn lẻ đều chưa cho biết cung nhận phản ứng ra sao. Chữ "chuyển Kỵ" sinh ra để lấp đúng khoảng trống ấy.
Chuyển Kỵ là tiếng nói của cung nhận phi hóa
Nếu coi phi hóa là lời một cung nói với cung khác, thì chuyển Kỵ là câu trả lời. Một cung nhận phi hóa vẫn có can riêng, vẫn có quyền phản ứng theo bốn hướng. Cho nên chuyển Kỵ có thể gọi là tiếng nói của địa bàn: nó cho biết xu hướng, khuynh hướng chuyển động của sự việc sau khi một cung đã đẩy năng lượng đi.
Đường chuyển Kỵ giống như đường ray xe lửa chở những toa tàu từ ga này sang ga khác. Nó cũng giống mạng cống ngầm của một thành phố, đưa cả nước sạch lẫn nước thải đi khắp nơi. Nhờ nó mà các cung được nối thành từng nhóm, và những yếu tố cùng loại cộng hưởng với nhau. Người xem lá số nhờ vậy nhìn ra quan hệ thật nằm dưới vẻ êm đềm bề mặt của lá số.
Hai hành trình Lộc chuyển Kỵ và Kỵ chuyển Kỵ cũng là hai hành trình sướng và khổ trong đời người. Đi trọn một vòng, ta quay về điểm xuất phát, nhưng tầm nhìn khi ấy đã đổi hẳn.
Lộc chuyển Kỵ: dòng Lộc xuyên qua cung trung gian
Giả sử cung A phi Hóa Lộc vào cung B, rồi cung B phi Hóa Kỵ vào cung C. Cách gọi của Lương phái là: A hóa Lộc cho B, B chuyển Kỵ sang C. Chữ Kỵ ở khâu thứ hai không mang nghĩa xấu như Hóa Kỵ thông thường. Nó chỉ là sự chuyển tiếp: Lộc mà A tạo ra tại B được B đưa tiếp sang C. Nói cho dễ hiểu, A giao cho B một chiếc xe hơi, B đổi chiếc xe ấy ra tiền mặt, và tiền mặt đi tới C.
Có thể tách tượng ý ra làm ba câu. Cung A hóa Lộc vào cung B: ta giỏi kiếm tiền. Cung B chuyển Kỵ vào cung C: tiền tích lại thành gia sản. Gộp cả ba: nhờ giỏi làm ăn mà ta gây được gia sản. Ví dụ cụ thể là cung Mệnh hóa Lộc vào Tài Bạch, Tài Bạch hóa Kỵ vào Điền Trạch. Người này kiếm tiền (Tài Bạch) rất khá, và số tiền ấy được gom lại (chuyển Kỵ) thành nhà cửa, của cải (Điền Trạch).
Cung B có thiên can riêng nên có đủ bốn khả năng phi hóa, tức bốn loại tâm tình để phản ứng với món Lộc vừa nhận. Nói "A hóa Lộc vào B" thì chưa biết B nghĩ gì, phản ứng ra sao. Nói "A hóa Lộc vào B, B chuyển Kỵ sang C" thì Lộc rơi tại C đã mang theo cả thái độ của B. Nói cách khác, Lộc chảy từ A, xuyên qua B, tới C, và ba cung A, B, C được xâu thành một chuỗi bằng sợi Lộc. Hóa Lộc giống danh từ, chuyển Kỵ giống động từ. Hóa Lộc giống tài sản hữu hình, chuyển Kỵ giống tiền mặt: xe hơi chỉ chạy được trên đường phố, còn tiền mặt đi được qua mọi ngân hàng.
Kỵ chuyển Kỵ: cùng một lộ trình, nhưng nhọc nhằn hơn
Đường thứ hai đi theo đúng khuôn ấy nhưng bằng Hóa Kỵ. Cung A hóa Kỵ vào B, cung B lại hóa Kỵ vào C. Lấy ví dụ cũ: Mệnh hóa Kỵ vào Tài Bạch rồi chuyển Kỵ vào Điền Trạch. Nghĩa là ta để tâm (Hóa Kỵ) đến chuyện kiếm tiền, và rồi tích lũy được vào gia sản. Tách ra thành ba câu: ta ham kiếm tiền, tiền gom lại thành gia sản, và ta có gia sản nhờ chịu khó làm lụng.
Hai ví dụ cho cùng một kết quả là tiền kiếm được, của tích được, nhưng cảm giác khác hẳn. Với Lộc chuyển Kỵ, ta kiếm tiền rất giỏi, rất dễ, và biết giữ nên tích được. Với Kỵ chuyển Kỵ, tiền kiếm nhọc nhằn hơn, của cải có được nhờ cần kiệm gom góp. Ngoài ra, Kỵ chuyển Kỵ nói lên rằng ba cung A, B, C có liên hệ với nhau, và thứ dây liên hệ ấy là Kỵ. Mối liên hệ kiểu Kỵ thường được xem là khó, và càng nhiều Kỵ xâu chuỗi các cung thì quan hệ giữa chúng càng bất ổn.
Hai đường chuyển Kỵ chỉ là cách nối cung với cung. Muốn luận cho tới nơi, còn phải biết bộ khung mà mọi trường phái đều dựa vào.
Ba trụ cột: cung chức, tinh diệu và hóa tượng
Dù học Phi tinh từ thầy nào, theo đại phái nào, cũng chỉ có ba trụ cột: cung chức, tinh diệu và hóa tượng, gọi gọn là Cung, Tinh, Tượng.
- Cung gồm hai lớp. Lớp địa chi là Tý, Sửu, Dần, Mão… cố định trên lá số. Lớp chức năng là Phụ Mẫu, Phu Thê, Tử Tức… Một người đàn ông có thể vừa là cha của con mình, vừa là con của cha mình, vừa là chồng của vợ mình; cung chức cũng vậy, một địa chi mang chức năng này đối với cung này và chức năng khác đối với cung khác.
- Tinh là mười tám tinh diệu, gồm mười bốn chính tinh cộng Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc.
- Tượng là Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ.
Ba trụ cột này có thể hiểu như ba câu hỏi lần lượt đặt ra cho mọi lá số. Chuyện xảy ra ở cung nào, mang chức năng gì? Có những vì sao nào đang có mặt, tính lý của chúng ra sao? Và giữa các cung đang có hóa tượng nào đi qua: Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ? Ba câu trả lời ghép lại mới thành một nhận định đầy đủ.
Thiếu một trụ cột là không luận chính xác được. Biết rõ ba trụ cột còn giúp người mới học bớt hoảng sợ: đừng vội lo lắng vì hàng loạt thông tin khác khi ba trụ cột này chưa vững.
Điểm hay của Lương phái là hai đường chuyển Kỵ đã bao gồm sẵn cung chức và hóa tượng. Nó cho biết mối liên hệ giữa cung và cung. Sau khi đã vững đường chuyển Kỵ, chỉ cần vững thêm tính lý tinh diệu là đủ để luận đoán tự tin. Toàn bộ tâm pháp riêng của Lương phái chỉ xoay quanh đường chuyển Kỵ này.
Còn tính lý tinh diệu thì ngành nào cũng cần. Lấy ví dụ cách xem của Khâm Thiên: rất coi trọng tự hóa nhưng cũng phân tích tỉ mỉ từng sao về âm dương, ngũ hành, hóa khí. Vũ Khúc hóa khí thành tài, Cự Môn hóa khí thành ám. Bỏ tính lý của sao, thứ học cao siêu đến đâu cũng không luận được tử vi, và điều ấy đúng với mọi phái.
Vì quan hệ giữa cung chức với cung chức qua hóa tượng là có hạn, có quy luật, có thể công thức hóa, nên cần nắm vững trước. Xét kỹ cung chức và hóa tượng xong mới đến tinh diệu. Tính lý tinh diệu thì đa dạng, linh hoạt, không có công thức cố định. Sau khi đã thạo chuyển Kỵ và thủ pháp xuyến liên, việc ghép tính lý tinh diệu vào để luận đoán là chuyện của tài năng, kinh nghiệm và sự ứng biến của mỗi người.
Nắm được khung ba trụ cột thì chỉ còn một bảng cần thuộc lòng: bốn hóa của mười thiên can.
Bảng tứ hóa theo thiên can
Lương phái dùng bảng tứ hóa phi tinh như trong bộ Tử vi Đẩu số Tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang. Riêng can Canh, cách tính ở đây theo quan điểm cá nhân: Thái Dương hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Quyền, Thiên Đồng hóa Khoa, Thái Âm hóa Kỵ. Ai có cách tính riêng của mình có thể tự áp dụng.
| Thiên can | Hóa Lộc | Hóa Quyền | Hóa Khoa | Hóa Kỵ |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh | Phá Quân | Vũ Khúc | Thái Dương |
| Ất | Thiên Cơ | Thiên Lương | Tử Vi | Thái Âm |
| Bính | Thiên Đồng | Thiên Cơ | Văn Xương | Liêm Trinh |
| Đinh | Thái Âm | Thiên Đồng | Thiên Cơ | Cự Môn |
| Mậu | Tham Lang | Thái Âm | Hữu Bật | Thiên Cơ |
| Kỷ | Vũ Khúc | Tham Lang | Thiên Lương | Văn Khúc |
| Canh | Thái Dương | Vũ Khúc | Thiên Đồng | Thái Âm |
| Tân | Cự Môn | Thái Dương | Văn Khúc | Văn Xương |
| Nhâm | Thiên Lương | Tử Vi | Tả Phụ | Vũ Khúc |
| Quý | Phá Quân | Cự Môn | Thái Âm | Tham Lang |
Cách dùng bảng này rất đơn giản, và nó là chìa khóa cho cả hai đường chuyển Kỵ. Mỗi cung trên địa bàn đều mang một thiên can; muốn biết cung ấy phi hóa vào đâu thì tra can của nó, tìm ra sao nào đang nhận Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ, rồi xem sao ấy nằm ở cung nào. Lấy ví dụ một cung mang can Bính. Cột Hóa Kỵ của can Bính ghi Liêm Trinh, vậy Hóa Kỵ từ cung ấy phi thẳng tới cung đang có sao Liêm Trinh. Nếu Hóa Kỵ ấy lại chính là Hóa Kỵ năm sinh đang ngồi tại cung can Bính, thì nó còn tiếp tục chuyển Kỵ đến cung có Liêm Trinh, và mạch chuyển cứ thế nối dài.
Biết dùng bảng là đã có trong tay công cụ chính. Từ đó, việc lần theo từng mũi tên giữa các cung chỉ còn là chuyện kiên nhẫn và quen tay.
Nguồn: Alex Alpha, Giáo trình Phi Tinh Lương phái.
