Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Đối tượng của khoa Tử Vi: con người sống và đời người thế tục

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202619 phút đọc1 lượt đọc
Đối tượng của khoa Tử Vi: con người sống và đời người thế tục

Một đạo sĩ đời Tống gói trọn một kiếp người vào mảnh giấy chỉ có một trang, mười hai cung và hơn trăm vì sao. Nhưng ông không nhắm tới mọi con người — không phải hồn ma, không phải bào thai, càng không phải kẻ đã lánh xa cõi tục để tu hành. Vậy ai mới thực sự là con người mà khoa Tử Vi muốn đoán định...


Khoa Tử Vi ra đời trong dòng nhân học đời Tống

Vào thời nhà Tống, lúc khoa Tử Vi ra đời, văn hóa Trung Hoa rất thịnh đạt về nhân học. Cũng nhiều triết gia, tâm học, đạo học chuyên chú trọng con người để tìm giải pháp cho cuộc sống, tìm quy tắc cho việc xử thế ngõ hầu mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân và tập thể. Nếu chỉ kể từ lúc bình minh của triết học cho đến đời Tống, ta thấy có Khổng Tử, Mặc Tử, Dương Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Phi, Đổng Trọng Thư... Các học phái cũng đã xuất hiện rất nhiều như phái Nông gia, phái Pháp gia, phái Âm Dương gia, chưa kể những học thuyết lớn như Nho học, Đạo học. Hầu hết là các bộ môn nhân văn chuyên khảo cứu con người và xã hội, cần thiết cho việc tu thân, cho việc trị nước, cho việc xử thế. Tất cả đều thấm nhuần tinh thần nhân bản hết sức khang kiện.

Chịu ảnh hưởng của trào lưu nhân học đó, khoa Tử Vi cũng lấy con người và đời người làm đối tượng học hỏi. Nói như thế, chúng ta không hồ đồ đặt Tử Vi học ngang hàng với những bộ môn nhân văn chân chính khác, vì mục đích của khoa Tử Vi không có gì cao cả. Khoa này không phục vụ cho hạnh phúc con người, cũng không có chủ tâm mang lại trật tự cho xã hội. Mục đích chỉ là học về con người để tiên đoán vận mệnh con người, thành thử nó không cống hiến cho kiến thức nhân học bao nhiêu. Duy, sở dĩ khoa Tử Vi được thịnh hành là vì nó đáp ứng sự hiếu kỳ của thiên hạ về vận số của mình. Và chỉ riêng vì lý do đó nên khoa này mới được phổ cập, truyền tụng và hâm mộ nhiều hơn các khoa văn hóa chính khác.

Đứng về mặt bói toán mà xét, khoa Tử Vi xuất hiện tương đối chậm, vì đi sau khoa bốc dịch, khoa nhân tướng, khoa độn giáp, khoa thiên văn... Nhưng, Tử Vi đã khai mào cho một khoa học thật riêng, hệ thống hóa được ngành bói toán bằng lý số theo một khảo hướng đặc thù. Mặc dù có vay mượn nơi sở học cũ thời đại nền tảng triết lý Âm Dương ngũ hành, nhưng khoa Tử Vi vẫn giữ được nét độc đáo nhờ ở một đường lối khảo sát lạ, có thể xem như một cuộc cách mạng hoặc ít ra như một phát minh biệt lập cho phái học Tượng Số của thời đó. Thủy tổ của Tử Vi học là một đạo sĩ biệt hiệu là Hi Di, tên thật là Trần Đoàn, sống vào thời nhà Tống bên Tàu.

Ông này đã cố gắng bày xếp vận mệnh con người vào một lá số, ghi trên mảnh giấy vỏn vẹn chỉ có một trang, nhưng tổng kê hết cá tính và đời người vào 12 cung và hơn 100 vì sao, được gán cho nhiều ý nghĩa và ngũ hành khác nhau, ngõ hầu giúp con người suy diễn những chi tiết kiếp số của mình. Tóm tắt cuộc đời phức tạp của con người vào mảnh giấy quả thật là một công trình hệ thống hóa và đồ biểu hóa hết sức khúc chiết. Mặc dù công trình này không tránh được vài sơ khoáng cố hữu nhưng nó vẫn không mất đi giá trị khai sáng cho một bộ môn bói toán hãy còn được tôn sùng ngay trong thế kỷ khoa học không gian này.

Chúng ta không đi sâu vào giá trị của bộ môn Tử Vi ở đây mà chỉ đề cập đến các đặc điểm của đối tượng môn học mà thôi.

Đối tượng của khoa Tử Vi

Cách đây mười thế kỷ, ngay từ lúc được sáng lập cho đến nay khoa Tử Vi vẫn giữ nguyên đối tượng: khoa này chú mục tiên đoán vận mệnh con người, nghĩa là tìm cách biết trước, ngay từ lúc trẻ mới sinh, cá tính và cuộc đời sau này của nó.

Như vậy, đối tượng của khoa Tử Vi bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau: thứ nhất là con người, thứ hai là đời người.

Con người của Tử Vi có những đặc tính gì? Đời người trong lá số Tử Vi có những yếu tố nào?

Con người trong khoa Tử Vi

Khoa Tử Vi phân tích sâu rộng đặc tính của con người, nhưng thật sự chú ý nghiên cứu con người còn sống, con người toàn diện và con người thế tục mà thôi.

Con người còn sống

Con người còn sống ở đây là con người lúc sinh thời, tức là từ lúc đứa bé chào đời cho đến khi nó qua vãng. Nói như thế có nghĩa là lúc cá nhân chết đi thì khoa Tử Vi không lý tới nữa. Khoa này không nghiên cứu âm hồn, không hề nói đến sự tái sinh dưới một kiếp khác, không đề cập luân hồi như trong Phật học. Khoa Tử Vi đứng trong phạm vi của hình nhi hạ học, gạt bỏ cái gì siêu hình, không bàn đến hậu kiếp cá nhân trên thiên đàng hay âm thế. Trái lại, cái gì thuộc cõi dương, bao giờ cá nhân còn sống thì khoa Tử Vi mới lưu tâm tới.

Tuy thế, cũng cần đặt thêm một giới hạn khác trong đối tượng của khoa Tử Vi. Lúc còn là bào thai, chưa chào đời, con người chưa phải là đối tượng để khoa này nghiên cứu. Thành thử, cái bào thai dù là tiền thân của con người sống, không phải là đối tượng của khoa này.

Có quan điểm chặt chẽ hơn cho rằng, lá số Tử Vi chỉ thật sự ứng dụng cho con người từ 13 tuổi trở đi. Lý do đưa ra là trước tuổi này, kiếp sống của trẻ rất bấp bênh, lệ thuộc vào thời tiết, vào bệnh tật, sống hay chết tùy sự chăm sóc của cha mẹ, đứa trẻ cũng chưa chín mùi về nhân tính, chưa hội đủ điều kiện để sinh tồn như con người toàn vẹn: tri thức, thể xác, tình cảm, lương tri của nó chưa nảy nở đầy đủ, nó cũng chưa có một sự nghiệp theo đúng nghĩa của danh từ vị, trước tuổi 13, trẻ con chỉ mới tập sự vào đời.

Quan điểm này xét khả chấp vì khoa Tử Vi khi chọn người làm đề tài đã quan niệm cuộc sống đó theo một nghĩa toàn vẹn: con người sống phải là một cá nhân trưởng thành ít nhiều về thể xác, tinh thần, tình cảm, lương tri, có một khởi đầu sự nghiệp, một khởi đầu vận mệnh. Đó là con người tự lập, tự túc, tương đối làm chủ ít nhiều hành động của mình, nó khác đi đó là con người toàn vẹn về nhân tính. Duy có điều cần lưu ý rằng, đối với trẻ con dưới 13 tuổi, việc xem Tử Vi cho nó chỉ chuyên chú vào khả năng tồn tại của nó, cụ thể là xét xem nó có sống được hay không, bệnh tật như thế nào. Như vậy, khía cạnh phải cứu xét là khía cạnh thọ, yểu, bệnh, tật nói chung là sức khỏe. Còn những khía cạnh khác như quan trường, tài lộc, điền sản, gia đạo, con cái chưa ứng dụng.

Nói tóm lại, khoa Tử Vi là con người toàn diện. Điều này có nghĩa là khoa Tử Vi khảo sát con người dưới mọi khía cạnh, bao hàm cả phần xác lẫn phần hồn, trí tuệ và tình cảm, sinh lý và tâm lý, ý thức và tiềm thức v.v... Không bao giờ con người bị bẻ mẻ, hoặc bị chiết nhỏ ra từng mảnh biệt lập. Khoa Tử Vi đã tổng hợp con người một cách đầy đủ và phong phú, kết tinh hết yếu tố phối trí toàn thể các thành phần, chớ không đánh giá con người qua một bộ vị, một giác quan hoặc một cơ năng.

Điều này phản ảnh rõ rệt trong bố cục của lá số Tử Vi. Mặc dù lá số này có phân tích con người qua 12 cung, nhưng mỗi cung riêng rẽ không hề được xem là đầy đủ để diễn tả toàn thể cá nhân. Cá nhân chỉ được thể hiện qua toàn thể lá số, trên một loạt 12 cung. Đó là con người nhất trí trong một lá số nhất trí. Việc giải đoán Tử Vi vì thế không thể bỏ qua sự tổng hợp để chỉ đứng trong thế phân tích. Trái lại, phải phân tích để tìm sự tổng hợp.

Sở dĩ khoa Tử Vi xem con người như một tổng thể toàn diện là vì, nếu chiết nhỏ ra từng bộ phận riêng, con người sẽ không còn sống như một đơn vị toàn vẹn: làm như thế là giết chết một đối tượng sống, phủ nhận đặc tính sinh động trong đặc tính toàn diện của con người.

Vì khảo sát con người toàn diện, cho nên cái gì của con người cũng được khoa Tử Vi để ý tìm tòi. Khoa này lưu tâm nghiên cứu, từ những yếu tố lớn như ảnh hưởng của vật chất, của xã hội, của huyết thống trên cá nhân, cho đến các yếu tố nhỏ hơn như cơ thể, bệnh trạng, trí tuệ, tình cảm, bản năng, ký ức, nguyện vọng, phản ứng, bản ngã, nhân cách trong các môi trường sinh hoạt. Những phạm vi của nhân học Tây phương đều được Tử Vi học tìm hiểu, từ cơ thể học (anatomie), bệnh lý học (pathologie), tướng mạo học (morphologie). Lẽ dĩ nhiên, với mỗi địa hạt khảo cứu rộng rãi như thế, Tử Vi học không thể đi vào chuyên khoa. Những ý nghĩa cơ thể, bệnh lý, tính tình, tướng mạo... trong Tử Vi chỉ có tính cách tổng quát, hoặc nhiều lắm là chỉ đạt đến một trình độ cụ thể nào mà thôi. Nhưng chính khảo hướng đại cương đó nói lên quan niệm con người toàn diện của khoa này.

Con người thế tục

Khoa Tử Vi chọn con người ở đời làm đối tượng, nghĩa là con người phàm tục, có cá tính phàm tục và cuộc đời phàm tục.

Cá tính phàm tục đây là cá tính của trung bình nhân loại (l'homme moyen), của đại đồng chúng sinh (l'homme universel). Đó là loại người có đầy đủ thất tình lục dục, bị chi phối bởi nó cũng như bị chi phối bởi bản năng: con người trong Tử Vi không tiêu diệt dục vọng, không chống đối bản năng, vị kỷ hơn vị tha, tham sống và không chống lại sự sống, dù phải chịu nhiều khổ cực. Họ tìm cách né tránh khổ cực chớ không tìm cái chết để đoạn tuyệt với gian truân.

Cuộc đời của con người trong Tử Vi cũng là cuộc đời đầy tục lụy. Họ chạy theo nhu cầu cá nhân, của gia đình, của xã hội, tham danh, hám lợi, theo đuổi hạnh phúc vật chất và phú quý vinh hoa đến cùng cực. Đa số sợ chết, sợ khổ, sợ nghèo, sợ họa, sợ bệnh và chỉ nhận các bất hạnh này khi đối cùng. Vì tính cách tục lụy của kiếp sống cho nên nhân sinh quan của con người trong Tử Vi rất thường tình, thiên về hiện sinh. Và trong kiếp này, họ là con người tại thế xu thời chớ không xuất thế thoát thời. Con người trong Tử Vi không đi tu. Tu sĩ là người trốn đời, thoát phàm và siêu phàm, lấy niết bàn làm hạnh phúc, tự đặt mình ra khỏi cuộc đời, xem cuộc đời như tạm bợ. Con người trong Tử Vi cũng không phải là thuật sĩ (fakir). Thuật sĩ là kẻ cam chịu nhận khổ nhục, ép xác, hành xác, chống lại bản năng, tiêu diệt cảm xúc, chế ngự cảm giác để mong vượt khỏi thường tình.

Con người trong Tử Vi không cao siêu như vậy. Nhãn quan Tử Vi là nhãn quan thế tục. Điểm này được minh chứng rõ rệt trong quan niệm phúc đức, trong quan niệm gia đạo, trong quan niệm Mệnh Thân và trong ý nghĩa các vì sao.

Quan niệm phúc đức thế tục

Khoa Tử Vi chỉ chú ý đến hạnh phúc của con người trần gian. Hạnh phúc này lệ thuộc vào tiền bạc, gia đạo và thời thế. Trong lá số Tử Vi, cung Phúc bao giờ cũng được hội chiếu với 3 cung Tài, Phu Thê và Thiên Di.

Cung Tài chỉ tiền bạc, gia sản hoặc nói rộng ra là yếu tố vật chất của một cuộc sống vật chất. Vì cung Tài trực chiếu vào cung Phúc cho nên có nghĩa là tiền bạc, sinh kế là yếu tố quan trọng của hạnh phúc. Nói khác đi, cái phúc của cá nhân được đo bằng tiền tài. Những ai có nhiều tiền, nhiều điền, nhiều xe, nhiều hoa màu thì có phúc.

Cung Phu Thê chỉ gia đạo. Trong lá số, cung này cũng chiếu vào cung Phúc. Điều này phản ảnh quan niệm cho rằng hạnh phúc cá nhân tùy thuộc vào một gia đạo tốt. Vì có cung Phu Thê cho nên con người coi như phải sống chung với gia đình. Nói khác đi, đó là phàm nhân, có nhu cầu sinh lý, có ái tình, có vợ, có chồng, chớ không phải con người tiệt dục, xa lánh chuyện nam nữ, tách rời với vợ con. Văn hóa thời đại nhà Tống còn chấp nhận cả đa thê, xem việc có nhiều con cái là phúc lộc.

Cung Thiên Di chỉ thời thế, hoàn cảnh xã hội, được coi như yếu tố của hạnh phúc. Ai sinh phùng thời, được xã hội ưu đãi thì tốt phúc. Vì có cung Thiên Di nên có thể nói rằng con người của khoa Tử Vi là con người sống ở đời, chung đụng với xã hội, nhập thế và tại thế chớ không thoát tục, không thoát thời. Bối cảnh môi sinh là điều kiện ngoại tại có ảnh hưởng đến hạnh phúc thế tục.

Tóm lại, nhìn vào cách cấu tạo phúc đức trong lá số, ai ai cũng thấy rằng đây là loại hạnh phúc trần gian, đo bằng tiền bạc, bằng lợi điểm của gia đạo và của xã hội ban cho mình. Không có phần phúc đức duy linh, siêu thoát của linh hồn. Tử Vi quan là một nhân sinh quan, cụ thể là nhân sinh quan thế tục. Đối tượng của khoa Tử Vi là con người và đời người trần thế, không phải là người đạo, cõi đạo hay phạm đạo. Phạm vi khảo sát của Tử Vi học chỉ là Đời.

Quan niệm gia đạo

Lá số Tử Vi nào cũng có hai cung Phu Thê và Tử Tức để cứ gia cảnh. Điểm này ngụ ý rằng đây là lá số của người ở đời, có vợ, có chồng, có con, có đời sống gối chăn, có tình nghĩa phụ tử. Con người trong lá số không chối bỏ cõi trần, vẫn bị chi phối bởi nợ trần và tạo thêm nợ trần bằng bầu đoàn thê tử.

Lẽ dĩ nhiên, cũng có những người không có gia đình, không có con cái. Nhưng, nếu họ còn ở đời, chia sẻ khát vọng, xu hướng đời thì họ vẫn là đối tượng của khoa Tử Vi. Bao giờ họ thoát đời đi tu, bấy giờ họ không thuộc phạm vi khảo sát của Tử Vi nữa. Nhãn quan Tử Vi phân biệt rất rõ phạm vi hai cõi đời và đạo.

Quan niệm Mệnh – Thân

Cơ cấu của Mệnh và Thân thể hiện rất rõ quan niệm thế tục của khoa Tử Vi. Mệnh hay Thân, bao giờ cũng được xét chung với 3 cung Thiên Di, Tài Bạch và Quan Lộc.

Cung Thiên Di chỉ thời thế, hoàn cảnh xã hội. Cung Tài Bạch chỉ tiền bạc, sinh kế. Cung Quan Lộc chỉ sự nghiệp, quan trường. Đã là con người thế tục, dĩ tất phải sống với xã hội, phải có phương tiện sinh nhai, phải có nghề nghiệp. Chí hướng con người lúc nào cũng vọng về 3 mục tiêu đó. Hạnh phúc thế tục của họ được đo bằng mức độ giàu nghèo, sang hèn, phùng thời thế. Đó là 3 yếu tố của vinh hoa, vật chất, giúp đánh giá sự thành bại của người đời.

Quan niệm thế tục của các vì sao

Trong Tử Vi, có rất nhiều sao nói lên cuộc sống thế tục, chẳng hạn như sao phú, sao quý, sao họa, sao bệnh, sao phúc. Những sao này hiển nhiên không có ích lợi gì cho tu sĩ vì người đạo không màng đến phú quý, bệnh họa. Như vậy các sao đó chỉ để áp dụng vào vận mệnh đời người.

Nhiều sao kết hợp thành cục và cách. Khoa Tử Vi chia các cục thành nhiều loại: phú cục, quý cục, bần tiện cục. Cách cũng có thượng cách, trung cách, hạ cách và phi thường cách. Trong cục cũng như trong cách, đã hàm chứa ý nghĩa thế tục của sinh hoạt cá nhân.

Tất cả dẫn chứng trên đây giúp ta tổng kết được quan niệm con người của khoa Tử Vi và thế giới Tử Vi.

Con người trong Tử Vi là con người trong gia đình, không thoát ly gia đình, là con người trong xã hội, không xa lánh xã hội, là con người trong môi trường sinh hoạt vật chất, không từ bỏ tiền bạc, danh quyền: là con người bằng xương bằng thịt, không chối bỏ sinh lý. Đó là con người lấy đức Sinh của vũ trụ làm lẽ sống, thụ nhận sự sinh tử của cha mẹ và tạo sinh thế hệ mới là con cái.

Còn thế giới Tử Vi là thế giới trần gian, là nhân thế, không phải là thiên đàng hay niết bàn, tiên cảnh. Đó là khung cảnh sống của nhân loại chớ không phải của thần linh.

Thế giới Tử Vi là nhân sinh quan chứ không phải là vũ trụ quan, cũng không phải là Phật tử quan. Khoa Tử Vi là một bộ môn của hình nhi hạ học, không phải là siêu hình học. Đối tượng của khoa Tử Vi là người đời chớ không phải người đạo. Tinh thần Tử Vi là tinh thần nhân bản thế tục, không phải nhân bản thoát tục.

Con người đã được định hình như thế, còn đời người của con người ấy thì khoa Tử Vi khảo sát bằng cách nào?

Đời người trong khoa Tử Vi

Học về con người, khoa Tử Vi còn học về đời người, nói khác đi là vận mệnh, kiếp số, hạnh phúc, hoạn nạn, hên xui, các biến cố xảy ra. Về điểm này, ta thấy khoa Tử Vi đã chọn một đối tượng rất táo bạo. Trong khi nhân học Tây phương dừng lại trên cá tính con người thì khoa Tử Vi Đông phương lại đi xa hơn, khảo cứu luôn định mệnh, tức là kết quả của sự va chạm giữa cá tính với môi sinh.

Khoa này khảo sát rất nhiều về môi trường sinh sống của nhân loại, khung sinh hoạt của cá nhân. Vì vậy Tử Vi có rất nhiều cung mô tả ngoại cảnh.

Trước hết, ngoại cảnh của đại gia đình nằm trong ba cung Phúc, Phụ, Bào, mô tả lần lượt ông bà, cha mẹ, anh em, tức là mối liên hệ huyết thống trong dòng họ, ảnh hưởng của huyết thống đó trên con người và kiếp sống thiếu niên.

Kế đến là ngoại cảnh tiểu gia đình qua hai cung Phu Thê và Tử Tức, nói lên tình cảnh vợ chồng, con cái và ảnh hưởng của gia đạo trên con người, trong đời người.

Khung cảnh ngoại gia đình cũng không bị bỏ qua. Cung Nô, cung Di mô tả đời sống ngoại hôn với nhân tình bồ bịch.

Khung cảnh xã hội được khảo sát trong cung Thiên Di, chỉ hoàn cảnh, thời thế. Môi trường nghề nghiệp thì do cung Quan phô diễn. Môi trường sinh kế thì do hai cung Tài và Điền.

Như vậy, đời người được mô tả rất phong phú qua ngoại cảnh, được coi như khuôn khổ hoạt động và yếu tố chi phối kiếp sống. Con người vừa bị đóng khung trong bối cảnh sinh hoạt, vừa biến dịch trong khuôn khổ ngoại cảnh đó. Khoa Tử Vi không tách con người rời khỏi cảnh sống, mà đặt con người trong kiếp sống, trong chỗ đứng cố hữu của nó. Tử Vi học ví con người như con cá phải sống chung với nước và khảo cứu con cá trong nước. Vớt con cá ra khỏi nước là nghiên cứu không thực tiễn, từ đó những kết luận về con cá hẳn phải sai lệch. Khoa Tử Vi đặt con người trong bối cảnh thiên nhiên, không sửa đổi con người, không sửa đổi bối cảnh. Đây là một phương pháp nghiên cứu rất thực tế, rất thích đáng và rất sống động: nhìn một động vật trong bối cảnh động.

Khảo hướng động này đòi hỏi khoa Tử Vi phải xét kiếp sống con người qua thời gian. Về điểm này, cuộc đời con người cũng được phân tích rất tỉ mỉ, trong từng chu kỳ ngắn và dài hạn.

Ngắn hạn thì có chu kỳ từng ngày, từng tháng, từng năm với những biến cố, hên, xui, họa phúc liên hệ.

Dài hạn thì có chu kỳ từng 10 năm, chu kỳ tiền vận (30 năm đầu) và chu kỳ hậu vận (30 năm sau).

Con người được khảo sát trong toàn đời, trên những bước sống lần lượt, trong những lúc thành bại, thăng trầm, qua các biến cố khác nhau, lúc phúc, lúc họa, lúc bệnh, lúc may, lúc rủi, lúc chết, qua các khúc quanh khác nhau trong nghề nghiệp, trong gia đạo, trong sinh kế...

Lấy đời người làm đối tượng, khoa Tử Vi có một tham vọng hết sức lớn lao và táo bạo. Lớn lao vì tham vọng đó muốn tiên đoán tương lai một cách khẳng định, không phải cho cá nhân mà cho cả mọi người thế tục. Khoa Tử Vi cố gắng giải quyết tham vọng đó qua hai phương pháp phân tích và tổng hợp.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn