Bài tổng quan
Văn hóa Trung Hoa đời Tống thấm trong từng cung, từng sao Tử Vi
Trần Đoàn không phát minh ra một triết lý mới nào — ông chỉ mượn nguyên vẹn tư tưởng của thời đại mình rồi đúc vào một lá số. Từ chữ Quan trọng hơn chữ Phú, từ cung Phu quan trọng hơn cung Thê, đến việc vua Tử Vi phải có quần thần văn tinh vây quanh mới gọi là đắc cách...
Khoa Tử Vi, sản phẩm của thời đại
Bất luận sản phẩm nào cũng đều mang ít nhiều dấu vết của thời đại đó. Khoa Tử Vi cũng không thoát khỏi định luật này.
Tử Vi học đã hấp thụ sâu xa văn hóa Trung Hoa cho đến thời đại nhà Tống. Tử Vi học cũng thoát thai từ trào lưu bói toán đương thời.
Tử Vi học và văn hóa Trung Hoa đời Tống
Thủy tổ khoa Tử Vi, Trần Đoàn là một đạo sĩ kiêm nho gia. Ông đã thấm nhuần tinh hoa của hai triết học này. Trong tác phẩm Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của ông, người ta thấy phảng phất rải rác tư tưởng triết lý của Nho và Lão, những quan niệm đạo đức đương thời, nhân sinh quan duy sinh, tinh thần dịch lý của vũ trụ vạn vật và con người, cùng vài nét tư tưởng và quan niệm trên không được trình bày minh thị. Nhưng, ai ai cũng nhận thấy ông đã ứng dụng hầu hết các quy tắc triết lý quá khứ và đương thời vào tác phẩm bói toán của ông. Ông không có nêu một quy luật nào mới, tư tưởng nào độc đáo cho nền triết học mà chỉ mô phỏng triết học dịch lý vào việc tiên đoán số kiếp nhân sinh. Về điểm này, tác phẩm lý số đầu tiên thành văn, tuy đánh dấu sự xuất hiện một bộ môn hoàn toàn mới lạ trong khoa nhân văn, song nội dung tư tưởng triết lý bên trong không có gì mới mẻ, cũng không có gì trái ngược với ý thức hệ đương thời.
Thật vậy, ông đã cóp nhặt toàn thể tinh hoa của Kinh Dịch trong lý thuyết Âm Dương ngũ hành. Những quy tắc sinh hóa của Âm Dương ngũ hành, vị trí, thứ tự, bản chất của ngũ hành, bốn mùa vẫn được ông duy trì y hệt trong bố cục của lá số và trong đặc tính của các vì sao. Người xưa đã Âm Dương hóa và ngũ hành hóa phương hướng nào, yếu tố gì thì ông cũng rập theo khuôn mẫu đó.
Mặc dù ông có cả đạo học lẫn nho học, và sau này ẩn dật đi tu theo đạo Lão, nhưng tác phẩm của ông tiêm nhiễm đức sinh, quan niệm "thiên nhân tương dữ", quan niệm thiên mệnh của Khổng Tử nhiều hơn. Có lẽ vì khoa Tử Vi của ông thiên về thế tục hơn là thoát tục cho nên sự tương hợp đó là điều dễ hiểu.
Có quan điểm cho rằng cách mệnh danh các sao, ngôi thứ đặt cho các sao trong khoa Tử Vi là hình ảnh của một triều đình có Thiên tử trị vì (biểu hiện qua sao Tử Vi), có quần thần khánh hội (biểu hiện qua các cách tính và phụ tinh khác) và người ta cho đó là tinh thần tôn quân của Khổng Tử. Quan điểm này có phần nào khả chấp, nhưng thiết tưởng tác giả không đi quá xa như vậy, và ý niệm chính trị tôn vương đế có trật tự xã hội khả dĩ xét ra không có liên lạc gì với mô hình xã hội của các sao trong khoa Tử Vi học.
Tử Vi học và ngành bói toán của thời đại
Nếu Tử Vi học không chứa đựng điều gì mới lạ về mặt triết lý, thì trái lại, về mặt bói toán, tác phẩm của Trần Đoàn quả thật vô cùng độc đáo. Nó có giá trị của một phát minh, không lệ thuộc gì với phái học Tượng Số của thời đại nhà Hán lưu lại.
Tưởng cũng cần nhắc lại rằng, trước Trần Đoàn, tập tục bói quẻ rất thịnh hành trong xã hội Trung Hoa. Một số hàn nho chuyên khảo Kinh Dịch tách ra khỏi triết lý của Dịch học để lập phái học Tượng Số và họ bấy giờ được gọi là những nhà thuật số, thiên về bói toán bằng tượng (các quẻ trong Bát Quái), bằng số (các số trong Hà Đồ, Lạc Thư). Lối bói bằng tượng và bằng số bổ túc cho lối bốc phệ bằng cỏ thi (dùng nhánh cỏ thi để bói), tương ứng với hào trong bát quái, từ đó giải đoán ý nghĩa cát hung.
Trước Trần Đoàn cũng đã có khoa thiên văn (Tư Mã Thiên gọi là thiên quan: nhìn lên trời) và Phạm Tăng, Trương Lương, Hàn Tín, Khổng Minh đều có dịp biết và dùng khoa này để bói. Tóm lại có thể nói các môn học thuật số, thiên văn, bói dịch... trước đời Trần Đoàn có một tầm ảnh hưởng rất sâu rộng trong tín ngưỡng của dân gian và công quyền. Đổng Trọng Thư là người có công hệ thống hóa quy luật biến hóa của vũ trụ trong một công trình giải thích lối vận chuyển của Âm Dương ngũ hành rất tinh vi, ngăn nắp.
Khoa Tử Vi của Trần Đoàn cũng đã thu nhập thời trước trong việc phát minh một ngành bói toán tân kỳ hơn hết. Ông có vay mượn nhiều ở lý thuyết Âm Dương ngũ hành, điều này không cần chứng minh. Ông có mô phỏng khoa thiên văn chút ít trong việc mượn tên gọi các vì sao vào khoa Tử Vi, nhưng khoa Tử Vi của ông khác hẳn thiên văn học về tinh thần, phương pháp và kỹ thuật. Tuy tham khảo quy tắc Dịch lý nhưng khoa Tử Vi không dùng Tượng và Số để tiên đoán vận mệnh. Trần Đoàn không nhìn con người bằng số, bằng tượng mà bằng lý. Lý là lý lẽ của vận số, biểu thị bằng các yếu tố "sao", đại diện cho các sao có ý nghĩa cá tính và vận số giúp suy ra hướng của cuộc đời. Vì vậy, mới gọi ông là Thủy Tổ của lý số học. Lối gọi này rất chính danh vì ông là người đầu tiên suy diễn vận số con người từ cái lý phối hợp và vận hành của các vì sao. Đáng kể nhất là ông đã đồ hình hóa vị trí các sao trong một lá số rất gọn, có bố cục mạch lạc hợp lý, tương đối dễ đoán. Có lẽ nhờ công việc đồ hình hóa mà khoa bói toán Tử Vi chẳng những được thành văn mà còn thành dụng cụ thể, giản dị, từ đó vừa tầm học hiểu của đại chúng. Đây quả thật là một công trình rất độc đáo, đặt nền tảng vĩnh quyết cho một bộ môn lý số nhân văn vừa đặc thù, vừa giản dị, còn được truyền tụng đến thế kỷ 20 này và có lẽ còn vượt thời gian sau đây nữa.
Cho nên nói rằng khoa Tử Vi là một sản phẩm bói toán của thời đại thì còn hẹp. Lý do là vì khoa này tuy hấp thụ vài ý niệm vận hành của vũ trụ trong thời đại, nhưng lại phát minh ra bộ môn mới lạ chưa từng có. Có thể nói rằng ông thoát khỏi thời đại bằng cái phát minh mới mẻ đó. Ông không "thuật nhi bất tác" mà là "trước tác".
Còn nếu đào sâu vào các tác phẩm khác của ông, người ta thấy ông đã phổ biến và chú giải tướng học trong Ma Y Tướng Pháp đến nay hãy còn lưu truyền. Đây cũng là công trình tập đại thành đầu tiên các kiến văn của nhân tướng học.
Vậy trong toàn bộ tòa lâu đài lý số ấy, đâu là những phiến gạch mà Trần Đoàn đã lấy nguyên từ văn hóa đời Tống?
Những nét văn hóa Trung Hoa trong khoa Tử Vi
Chúng ta có thể tìm thấy nhiều nét văn hóa Trung Hoa đến thời đại Tống trong khoa Tử Vi, từ những nét của triết lý, của đạo đức cho đến những nét của xã hội thời bấy giờ.
Những nét của triết lý Trung Hoa
Mặc dù Tử Vi học không phải là triết học, nhưng nó có liên quan mật thiết đến hệ thống tư tưởng triết lý đương thời đến đỗi có thể nói Tử Vi học bắt nguồn từ triết học. Điều này được thể hiện trong nhân sinh quan của Tử Vi học và trong các ý niệm sinh, biến và động của Dịch học.
Nhân sinh quan của khoa Tử Vi. Tuy dùng sao để diễn lý cho cuộc đời con người, nhưng khoa Tử Vi hướng nhìn về con người để tìm hiểu số phận con người, chớ không có xu hướng chiêm tinh. Đây là bộ môn học về con người, khảo sát nhân thế tại thế chớ không phải là siêu hình học, ngoại giới học hay đạo học. Con người và đời người là đối tượng của khoa Tử Vi. Vì vậy, nhân sinh quan Tử Vi là nhân sinh quan thế tục, không phát xuất từ siêu hình huyền bí mà từ hạ thế, từ nhân bản. Các sao được dùng trong lá số không phải là những tinh tú, cũng không phải là những thần linh mà chỉ là những yếu tố nội tại và ngoại lai của con người.
Nếu khoa Tử Vi có mượn những quy tắc vận hành của quan niệm vũ trụ, thì sự vay mượn đó chỉ nhằm mục đích ứng dụng cho con người mà thôi. Tuyệt nhiên không thấy cái gì nói lên vũ trụ luận trong Tử Vi cả mà chỉ toàn là nhân sinh luận. Và đây cũng là nhân sinh luận thực tiễn, nhắm vào con người sống, sống một cách phàm tục. Vì vậy, khoa Tử Vi không chịu nghiên cứu kiếp sống vị định (như bào thai) cũng không hề đề cập đến một kiếp nào khác ở thế giới khác: khoa Tử Vi tự giới hạn tầm khảo sát của mình trong phạm vi con người, trong phạm vi cuộc đời trần tục mà thôi. Đây là một phản ảnh của xu hướng duy nhân sinh của triết học Trung Hoa, theo đó tất cả mọi hiểu biết của học giả đều hướng về việc cải tiến nếp sống của nhân loại.
Dịch lý trong khoa Tử Vi. Khoa Tử Vi vay mượn rất nhiều nơi Dịch học, đặc biệt là 3 ý niệm sinh, biến và động, được coi như 3 đặc điểm căn bản của định luật sinh hóa của vũ trụ.
Về ý niệm sinh, khoa Tử Vi tiêm nhiễm nguyên lý sinh của Khổng học, theo đó cái đức lớn trong trời đất là đức sinh. Vũ trụ vạn vật được sinh và sinh lại muôn loài khác, trong một tiến trình bất tận. Biểu thị của đức sinh là sự sống. Về điểm này khoa Tử Vi rất minh thị. Khoa Tử Vi chỉ nghiên cứu con người sống, xem con người như một tổng thể sống, sống một cách toàn vẹn về cả tinh thần lẫn thể xác, sống cho mình và sống chung với xã hội. Để giữ chất sống này, khoa Tử Vi không bao giờ nghiên cứu con người riêng rẽ mà quan sát cá nhân trong môi trường sinh hoạt của nó. Khoa Tử Vi cũng không bẻ mẻ con người thành từng lãnh vực riêng mà tổng hợp nó lại trong một cái nhất trí. Những yếu tố nào chi phối cuộc sống đó đều được Tử Vi học mổ xẻ. Vì vậy, trong lá số, ta thấy có nhiều cung mô tả lãnh vực sinh hoạt của con người, từ lãnh vực nội tâm (cung Mệnh, Thân) đến xã hội (cung Di), nghề nghiệp (Quan), tiền bạc, điền sản (Tài, Điền), gia đạo (Phu Thê, Tử Tức)... trong lá số, các sao cũng chỉ những cá tính và những biến cố của cá nhân, dưới nhiều trạng thái rất linh hoạt.
Về ý niệm biến, khoa Tử Vi cũng theo sát dịch lý biến hóa của Kinh Dịch, lúc nào cũng xem cá nhân như luôn luôn nằm trong từ trường chi phối của các yếu tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố này gồm có: yếu tố cung, sao trong đó tác dụng và cường độ biến đổi theo thời gian; yếu tố Âm Dương ngũ hành nói lên sự chi phối hỗ tương nội tại; yếu tố thời gian, từ Mệnh sang Thân, và trong mỗi cung hạn, quy định khuôn khổ biến dịch của cuộc đời; yếu tố phúc đức, hoàn cảnh, nghề nghiệp, sinh kế, bạn bè, sức khỏe, gia đạo... đều bao hàm những thăng trầm cơ hữu.
Dịch lý của nhân sinh biến, nhưng biến có quy tắc, trong những khuôn khổ. Về mặt thời gian, có những khuôn khổ dài hạn như Mệnh, Thân, có những khuôn khổ ngắn hạn như các cung hạn. Về phương diện môi trường, trừ 3 cung Mệnh, Thân, Tật, những cung còn lại đều mô tả một môi trường sinh hoạt nào đó. Sự bố trí cung, sự phối chiếu giữa các cung quy định thể lệ biến hóa, ảnh hưởng chi phối hỗ tương. Tóm lại, cung là khuôn khổ, sao và Âm Dương ngũ hành là các yếu tố của sự biến hóa. Con người bị đóng khung trong các môi trường, nhưng vẫn thay đổi, biến dịch trong các môi sinh đó.
Về ý niệm động, khoa Tử Vi rất rõ ràng. Mỗi cung không bao giờ tĩnh, mà linh động nhờ sự phối chiếu: một mặt cung này chi phối cung kia và bị cung kia chi phối lại, mặt khác, mỗi sao cũng không tĩnh trong bản chất và trong thời gian. Âm Dương ngũ hành là động cơ sinh khắc rất phong phú. Vòng sinh và vòng khắc của ngũ hành cũng liên tục, không bị dứt điểm. Vì vậy các sao, do quy tắc sinh khắc đó cho nên không bao giờ có ý nghĩa cố định, không bao giờ hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu mà tốt hay xấu hoàn toàn tùy theo sự sinh hay khắc, tùy theo vị trí, tác dụng ở mỗi môi sinh.
Những nét đạo đức của văn hóa Trung Hoa
Khoa Tử Vi không hề minh thị khuyến cáo người ta phải làm cái gì cho hợp đạo, song trong các định danh các cung, các sao, trong tinh thần của toàn bộ khoa này ta thấy được vài nét đạo đức của đương thời.
Ý niệm phúc đức. Lá số có cung Phúc, được xem như rất quan trọng cho cả nam phái lẫn nữ phái vì tác dụng đa diện của cung này trên 11 cung khác. Cung Phúc vừa chỉ phần âm đức duy linh, tồn phúc của tổ phụ di truyền, vừa chỉ phần nhân đức, cái công nghiệp mà con người tạo dựng và bồi dưỡng trong suốt kiếp. Nếu kể là âm đức, thì cung Phúc phản ánh giáo lý Phật học. Nếu kể là nhân đức thì đó là một nét nhân học của đạo Khổng. Tuy nhiên, ý nghĩa thế tục của cung Phúc xem ra rõ rệt hơn là ý nghĩa duy linh, vì lẽ cung Phúc được hội chiếu bởi 3 cung Tài, Di và Phu Thê, cả 3 cùng nói lên 3 trạng thái vật chất và phàm tục của phúc đức. Phúc đức thế tục đó được tính bằng tiền bạc (cung Tài), bằng gia đạo tốt (cung Phu Thê) và bằng sự tương phùng với hoàn cảnh (cung Di), chưa kể các lãnh vực khác như quan trường, sức khỏe, con cái, cha mẹ, anh em đều có liên hệ đến phúc đức cả.
Ý niệm nhân định. Cung Phúc tuy đa nghĩa, nhưng cũng không đơn thuần và tiên quyết đóng khung vận số con người. Khoa Tử Vi còn dành cho người một phần lớn quyền lực để ảnh hưởng trên phúc đức di truyền. Nói như thế nghĩa là cho rằng khoa Tử Vi coi trọng nhân định: con người không hoàn toàn do cung Phúc định mà vẫn có thể dự phần quyết định vận mạng mình. Điều này được diễn xuất trong 2 cung Mệnh và Thân. Mệnh và Thân, vì ý nghĩa hiện kiếp của nó, nói lên nhân mệnh, nói lên phần công nghiệp mà chính mình tạo ra lúc tại thế. Điểm này phản ảnh rõ rệt tư tưởng của Khổng Tử, Mặc Tử, Tuân Tử về vấn đề "tận nhân lực" để "tri thiên mệnh", rất thịnh hành trong văn hóa Trung Hoa.
Ý niệm duy sinh không diệt dục. Vì có sự liên hệ của các cung, các sao nói lên hạnh phúc vật chất, thế tục của người đời cho nên có thể nói rằng tinh thần Tử Vi rất duy sinh: con người phải lấy hạnh phúc vật chất ở đời làm lẽ sống, làm lý do tranh đấu cho mình, phải cảm nhận ở đời, lấy đời làm cảnh sống, không thoát đời, không diệt dục. Con người trong khoa Tử Vi là con người phàm tục, thụ sinh và tạo sinh bằng cha mẹ, vợ chồng, con cái chớ không cắt đứt nguồn sinh hóa vốn là cái lý đương nhiên của vũ trụ. Điểm này mô phỏng học thuyết Khổng Tử về đạo Nhân.
Những nét văn hóa của xã hội Trung Hoa
Xã hội Trung Hoa được phản ánh rất nhiều trong khoa Tử Vi.
Ý niệm trọng sĩ, trọng quý. Trong thời Đông Chu, xã hội Trung Hoa loạn lạc triền miên vì chế độ phong kiến. Con số các nước chư hầu có đến hàng trăm. Có chư hầu lại coi rẻ nhà Châu nên cạnh tranh thế lực lẫn nhau khiến cho các vương triều muốn tồn tại phải trọng dụng thứ dân có tài để trị nước. Nhờ đó, giai cấp sĩ phu mới xuất hiện, từ lê dân nhảy vọt lên cầm quyền, trong ngành văn cũng như ngành võ. Đó là trường hợp Quản Trọng, Ninh Thích, Bá Lý Hề, Tô Tần, Trương Nghi. Đến đời Tần có Lý Tư, Bạch Khởi. Đến Hán Sở có Phạm Tăng, Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà, Trần Bình, sau nữa có Khổng Minh. Giai cấp sĩ phu vì thế rất được trọng vọng, có quyền thế hơn, át cả giai cấp quý tộc.
Khoa Tử Vi cũng phản ánh tinh thần trọng khoa bằng và trọng kẻ sĩ. Lá số Tử Vi còn coi quý nặng hơn phú. Chữ Quan trong cung Quan Lộc tiên khởi chỉ nghề quan, nói nôm na là nghề chính trị và chức vụ hành chính, chớ không phải chỉ nghề nghiệp nói chung. Các sao đắc địa đều mang đầy đủ ý nghĩa quyền quý cao sang và khi nào bị hãm địa thì mới có ý nghĩa doanh thương, công, nông nghiệp hay lục nghệ. Văn hóa được xem trọng hơn võ học, thương mại, kinh doanh. Việc thắng người, chiếm thành bằng mưu trí được coi như hiển hách hơn việc sát tướng địch hay hãm thành bằng vũ lực hành quân.
Ý niệm trọng nam, khinh nữ. Văn hóa Trung Hoa vốn xem phụ nữ thấp kém hơn nam giới, ở ngoài đời cũng như ở trong gia đình.
Ở ngoài đời, phụ nữ không đóng vai tuồng gì. Xã hội Trung Hoa, từ nguyên thủy cho đến khoa Tử Vi ra đời và mãi về sau, đã dành ưu thế tuyệt đối cho phái nam. Những nữ kiệt trong xã hội là những biệt lệ hiếm có. Cũng có phụ nữ Trung Hoa góp mặt ngoài xã hội, dưới sự cải trang nam giới để hoạt động, hoặc giúp nước, hoặc báo thù chồng. Nhưng, ít khi, có thể nói là không có phụ nữ nào lộ diện hoạt động. Tình trạng đó hầu như phổ cập cho hàng nữ thứ dân. Còn đối với phụ nữ hoàng tộc, hẳn có vài phi, đóng vai trò nổi bật trong chính trường như trường hợp Đắc Kỷ, Bao Tự, Dương Quý Phi, Võ Hậu. Có lẽ tư cách vương giả của họ là yếu tố đặc biệt dành cho họ nhiều bình đẳng so với nam giới. Đó là chưa kể yếu tố nhan sắc chắc chắn góp phần không nhỏ trong việc thăng tiến của vài phụ nữ ngoại lệ đó.
Ở trong gia đình, luân lý nho giáo đã đóng khung phụ nữ trong một vai trò rất khiêm nhường. "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử": đó là châm ngôn mà nho học dành cho phụ nữ chưa chồng, có chồng và góa chồng. Văn minh Trung Hoa chỉ thừa nhận cho nữ giới một trách nhiệm duy nhất là chăm sóc gia đình mà thôi. Họ sinh ra chỉ để làm con, làm vợ, làm mẹ, không bao giờ được làm chủ dù khi chồng đã chết.
Khoa Tử Vi đã tiêm nhiễm khá nhiều những nét tập quán của thời đại bấy giờ. Xã hội Trung Hoa rất quý con trai, cho nên khoa Tử Vi nhiều lúc hiểu chữ tuyệt tự không có con trai một cách tự nhiên, trong khi vấn đề đa phu của phụ nữ hầu như được xem là tự tự nhiên, trong khi vấn đề đa dâm của phái đẹp bị chê là khả ố vì không vượng phu ích tử. Khoa Tử Vi dành rất nhiều sao kê khai thói dâm tệ của nữ giới. Quan niệm "xuất giá tòng phu" của Khổng học cũng được thể hiện trong việc xem cung Phu trong nữ số là cung cường, quyết định hạnh phúc gia đạo của người. Trong khi đó, cung Thê của nam số lại không được xem trọng như vậy. Khoa Tử Vi cũng như xã hội Trung Hoa có tính cách duy nam hơn là duy nữ, hầu như xem người phụ nữ như không có và không đáng để đóng một vai tuồng nào trong xã hội.
Ý niệm trọng văn, khinh võ. Tử Vi học có xu hướng xem văn tinh hội tụ trong lá số là một đặc cách ưu thế. Vì vậy, mới có lệ xem Tử Phủ cần đi với văn tinh hội tụ để chỉ "quần thần khánh hội" ngụ ý là vua (Tử Vi hay Thiên Phủ) phải ở cận bầy tôi trung thì mới đắc dụng. Nếu gặp võ tinh như Kình, Đà, Không, Kiếp, dù đắc địa thì gọi là cách "đế ngộ hung đồ" nghĩa là vua bị tặc thần khuynh loát. Cách Tử Phủ Vũ Tướng, Nhật Nguyệt, Cơ Nguyệt Đồng Lương hầu như được xem như ưu thế hơn cách Sát Phá Liêm Tham.
Xem ra Trần Đoàn bị tiêm nhiễm bởi quan niệm nhân trị, đức trị, văn trị hơn là võ trị, bạo trị. Vũ lực dù có đắc thế, không bao giờ được xem như lâu bền, chỉ có nhân nghĩa, đạo đức, văn hóa (biểu hiện qua văn tinh, khoa tinh) mới tồn tại. Người xưa hay lý luận như vậy, Tử Vi cũng theo xu hướng đó.
Tóm lại, dù môn Tử Vi đánh dấu một công trình khai sáng khoa bói toán bằng một kỹ thuật khác lạ, nhưng nó vẫn không thoát được sự chi phối tiềm tàng của các quan niệm triết lý, đạo đức, xã hội đương thời. Những vay mượn của khoa Tử Vi trong nền triết, nền đạo và tập quán xã hội khá nhiều nhưng, đứng về mặt lý số mà xét thì khoa bói toán của Tử Vi quả thật độc đáo và tân kỳ. Nó đi vào nhân văn học bằng một khảo hướng đặc thù mà lại nhân bản. Nó chỉ dùng tượng, số trừu tượng để tìm hiểu nhân sinh. Nó chỉ dùng lý để tìm biết số kiếp, dựa vào các yếu tố, tựu trung đều có tính cách nhân bản. Những cái gì có tính cách thần linh, huyền bí đều bị gạt bỏ. Chính vì những lý do đó, ta phải xem Trần Đoàn như một thủy tổ đặc sắc của lý số học chớ không phải của tượng số học và khoa Tử Vi của ông là một khoa bói toán huyền bí, duy linh. Cái lý do tồn tại của khoa này cũng bắt nguồn từ đó. Và cái lý do phát triển của khoa này đến nay cũng phải được xem như bắt nguồn từ đó. Nhiều người hiểu lầm đặc tính duy lý và nhân bản của nó nên có những phê phán sai lệch. Chúng ta phải chính danh nó lại cho thích đáng. Chúng ta còn phải canh tân nó cho phù hợp với hoàn cảnh áp dụng, đừng cho nó chết tĩnh trong tình trạng xã hội Trung Hoa thời Tống. Việc chính danh và chính vị này đòi hỏi người học, người xem Tử Vi phải mang khoa này từ thiên đàng xuống nhân thế, từ thần quyền thành nhân bản, từ mê tín ra khả tín, từ chỗ quá thời ra hợp thời, từ thiên định xuống nhân định. Có như thế, khoa Tử Vi mới xứng đáng tranh thủ được một chỗ đứng khả chấp trong nền học nhân văn.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc
