Bài tổng quan
Bốn bộ chính tinh và bốn chữ số, phận, định, đoạt
Cách chia mười bốn chính tinh thành bốn nhóm mà người mới học nào cũng thuộc, hóa ra lệch ngay từ nút áo đầu tiên. Gỡ xong chỗ lệch ấy, bốn chữ quen thuộc nhất của nghề tự tìm được chỗ đứng trên lá số, từ cái số đang chạy đến kẻ đang chực đoạt ngoài cổng...
Mục lục · 7 phần
Người mới học Tử Vi thường được dạy rằng mười bốn chính tinh chia làm bốn nhóm và cứ thế học thuộc. Nhưng nếu cách chia ngay từ đầu đã lệch một chút, thì mọi bước sau sẽ lệch theo mà không ai biết vì sao luận mãi không khớp. Tác giả Bửu Đỉnh gọi những chỗ vấp ấy là "tảng đá trên đường đến với Tử Vi", và tảng đá đầu tiên nằm ở ngay cách xếp các chính tinh vào nhóm. Gỡ xong tảng đá này, bốn chữ quen thuộc nhất của nghề, số, phận, định, đoạt, mới tự động tìm được chỗ của mình trên lá số.
Hai chòm sao thật sự và bốn bộ sao dùng để luận
Trong các sách Tử Vi, mười bốn chính tinh thường được chia thành bốn nhóm: Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, và Cự Nhật. Theo người viết, hai nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật chia như vậy thì đúng, nhưng hai nhóm đầu lại sai, vì Liêm Trinh không nằm cùng nhóm với Sát Phá Tham, còn Tử Phủ Vũ Tướng cũng không thành một khối trọn.
Cách sắp xếp gốc là hai chòm. Chòm Tử Vi đứng đầu sáu ngôi sao: Tử Vi, Liêm Trinh, Thiên Đồng, Vũ Khúc, Thái Dương, Thiên Cơ. Chòm Thiên Phủ gồm tám sao: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Từ hai chòm ấy, khi đi vào luận đoán, ta mới nhóm lại thành bốn bộ có sức nặng thật: bộ năm sao Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, bộ bốn sao Cơ Nguyệt Đồng Lương, bộ ba sao Sát Phá Tham, và bộ hai sao Cự Nhật. Bài tổng quan về bốn cách lớn của Tử Vi cũng đi theo hướng chia này.
Bộ ba Tử Vũ Liêm và chỗ còn thiếu của nó
Trước khi thấy bốn bộ va vào nhau, hãy nhìn bộ đầu tiên đứng một mình, vì nó hay nhưng chưa trọn.
Từ vị trí Tử Vi, trên địa bàn ta luôn thấy Liêm Trinh bên trái, Vũ Khúc bên phải, ba ngôi sao đi đâu cũng đi cùng, không thể chia lìa. Ba sao ấy tượng trưng cho ba điều ta hay nhắc trong đời: Vũ là tài năng, Liêm là đạo đức, Tử Vi là lãnh đạo chỉ huy. Người có tài lại có đức lại biết lãnh đạo là hoàn hảo; người không tài nhưng có đức vẫn làm lãnh đạo được; người thiếu đức nhưng nhiều tài thì cấp trên vẫn tin dùng. Cách phối hợp cũng rõ ràng: Liêm Trinh là con mắt theo dõi, báo cáo về cho Tử Vi, Tử Vi cân nhắc rồi giao Vũ Khúc giải quyết. Vũ là tài sản, Liêm là người trông coi, Tử Vi quyết định chi vào đâu. Hình ảnh nữa là Liêm Trinh như cô thiếu nữ, Tử Vi như chàng trai đang vui vẻ ca hát.
Tuy hay như vậy, bộ ba này chưa hoàn chỉnh. Nó quá thiên về hành động mà thiếu lời nói, quá thiên về trai gái mà thiếu cha mẹ, lại cần một ngôi nhà để ở, một chỗ để cất của. Thứ còn thiếu ấy chính là bộ Phủ Tướng. Khi ghép lại ta có bộ năm sao Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, hoàn chỉnh về mọi mặt. Người ta ca ngợi Tử Vi cư Tý Ngọ, Tử Phủ Dần Thân, Tử Tướng Thìn Tuất cũng chính vì sự hoàn chỉnh ấy. Mỗi cách đều có một ngôi sao của nhóm Sát Phá Tham đứng gác cổng ở cung Thiên Di, như người lính canh ở cửa ải.
Khi hai bộ sao gặp nhau
Người gác cổng chỉ yên lòng khi bên trong ổn, còn khi trong nhà có chuyện, cổng cũng đổi chủ.
Bộ Sát Phá Tham nằm trong chòm Thiên Phủ, tự thân đã hoàn chỉnh, chỉ ba ngôi sao thôi mà có đủ mọi thứ: Thất Sát có đoạt, Phá Quân có cầm đầu, Tham Lang có thăm dò. Biết bao câu phú khen từng sao: Thất Sát Dần Thân, Tý Ngọ, Phá Quân Tý Ngọ, Tham Lang Thìn Tuất. Ba anh em này tự làm nên chuyện lớn. Nhưng khi nhóm Tử Vũ Liêm giao hội với nhóm Sát Phá Tham, hai bên đều bó tay. Đôi uyên ương Tử Vi, Liêm Trinh có vấn đề, đạo đức bị ảnh hưởng, địa vị lung lay, cuộc sống bất ổn. Vô tình các sao hình thành một bộ bảy ngôi tính cả cung Thiên Di, và số bảy ấy là số thất kinh, chuyện nào cũng chao đảo.
Chưa có câu phú nào ca ngợi chuyện ba sao Tử Vũ Liêm gặp ba sao Sát Phá Tham. Chỉ có những câu nói rằng hai nhóm sao ấy giao nhau là chuyện đa đoan.
"Tử, Phá, Tham Lang vị chí dâm."
"Vũ, Phá, Liêm, Tham xung hợp khúc toàn cố quý."
Câu thứ hai nghe như lời khen nhưng người viết đọc ra toàn trắc trở. Câu "Vũ Khúc dữ Liêm Trinh, Tham Lang cập Thất Sát hội họp tiện tác kinh thương" thì khuyên người ấy nên buôn bán, đừng nghĩ chuyện công danh, nói chi chuyện lãnh đạo. Hai nhóm kia cũng như vậy: Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật khi xâm phạm vào nhau cũng tạo ra cuộc chiến trên lá số. Lá số vào đúng bộ vị thì hay thật là hay, còn khi các bộ lấn sang nhau, nghĩa là có chiến tranh.
Tảng đá thứ hai: quá nhiều sao, quá nhiều cách
Hiểu xong khung bốn bộ, người học lại gặp một khó khăn khác ngay lập tức: lá số có quá nhiều sao nhỏ để nhớ.
Lá số Tử Vi có nhiều sao đến mức sao nào cũng kết thành bộ hai sao như Đào Hồng, bộ ba sao như Việt Linh Hình, bộ bốn sao như Linh Xương La Vũ, bộ năm sao như Phi Việt Hỏa Linh Hình, tạo ra hàng ngàn, hàng vạn cách khác nhau. Không ai nhớ xuể, và quan trọng hơn là không rõ mỗi bộ mang nghĩa gì, có phải công thức bất di bất dịch hay không. Người viết nêu ra một sự thật ít ai nói: có khá nhiều ngôi sao được an trên lá số mà sách vở không hề nói đến một câu, đừng nói đến phú. Những sao đó có cũng như không, chỉ làm rối mắt, tốn công. Ai nói giùm sao Trực Phù nghĩa là gì, Thiên Không đứng trước Thái Tuế nghĩa là chi, sao Giải Thần vì sao lại luôn đi chung với Phượng Các?
Người viết đưa ra một nhận xét lịch sử: Tử Vi xuất xứ từ Trung Quốc nhưng được hoằng dương mạnh ở Việt Nam, vì sĩ phu ngày xưa theo quan niệm "tiến vi quan, thối vi sư": khi không làm quan nữa thì lui về làm thầy thuốc, thầy bói, thầy dạy học. Quan niệm bí truyền, gia truyền khiến môn học dễ thăng trầm, thêm chiến tranh loạn lạc, môn Tử Vi càng mai một. Một khi không giải đoán nổi thì có người chế thêm sao này sao nọ, làm cho đã khó lại càng khó thêm.
Giải pháp của người viết là về nguồn: nên an theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Vũ Tài Lục, nhưng sách ấy không dạy cách an sao đâu mà khuyên bỏ bớt một số sao, điều mà người viết tâm đắc nhất. Địa Không nên gọi là Thiên Không, bỏ đi sao Thiên Không đặt trước Thái Tuế, vì tên các sao được đặt rất có lý: Thiên La đối Địa Võng, tức bên này trời bên kia đất; Thiên Không đối Địa Kiếp, tức bên này trời không dung, bên kia đất không tha. Các sao có chữ "Thiên" đứng đầu, trừ Thiên Hình, đều là "thiên về", như Thiên Khôi, Thiên Việt. Tên sao còn phải phân biệt rõ: Quan Phù đi với Long Trì thành bộ Phù Trì (giúp đỡ, giấy tờ cửa quan) khác với Quan Phủ gặp Đường Phù. Trên lá số không có hai sao trùng tên. Bỏ bớt cho gọn, giữ lại những sao có phú, có nghĩa rõ ràng, là hướng đi chung của người viết.
Còn khi nào không chắc chắn, người viết chọn lối "thà không biết thì thôi": ngôi sao bịa đặt, không có một câu phú nào chứng minh, an vào rối tinh mà chẳng dám quyết đoán điều gì, thì tại sao không bỏ. Ông cũng nêu một điểm bất đồng: đồng ý cách an sao của phái Đông A nhưng không đồng ý việc ghi đại hạn đầu tiên nằm ở hai cung Huynh Đệ và Phụ Mẫu. Ví dụ trong lá số Đoàn Nhữ Hài, hạn Huynh Đệ có Tử Vi cư Ngọ, gặp vua quá rõ ràng, đẩy sang hạn Thiên Cơ thì gượng ép. Câu phú về Hạng Võ cũng vậy: nói "hạn ngộ Thiên Không nhi táng quốc" là nói tiểu hạn chết chứ không phải đại hạn. Muốn hiểu chuyện nhà trời, trước mắt ta đã gặp quá nhiều khó khăn từ lòng dạ con người.
Bốn chữ để đặt lên lá số: số, phận, định, đoạt
Có một tầng chữ nghĩa nơi ông bà xưa đã nói sẵn bằng những câu quen thuộc trong ca dao, truyện thơ.
Người viết gợi ý một cách học rất trực tiếp: lấy lá số của mình ra, ghi chữ "số" bên cạnh sao Thiên Cơ, chữ "phận" và chữ "định" bên Tử Vi, chữ "đoạt" bên Thất Sát, rồi ngồi nghĩ cho ra. Để ta cùng đi qua từng chữ.
Số: những con số lạ của Thiên Cơ
Ta hay nghe xem số, coi số, số đỏ, số xui, xấu số, số kiếp. Nguyễn Du viết "Đoạn trường là số thế nào, Bài ra thế ấy vịnh vào thế kia", hoặc "Đã sinh ra số long đong, Còn mang lấy kiếp má hồng được sao". Chữ "số" ở đây gắn với Thiên Cơ, ngôi sao mang trên mình những con số lạ kỳ: thời kỳ tai nạn, thời kỳ vui buồn kéo dài bao lâu. Nhìn Thiên Cơ có thể tạm đoán số may, số xui, nhưng muốn biết kỳ hạn cụ thể thì người viết cũng thú nhận là đành bó tay.
Phận: chỗ ngồi của mình
Phận bạc như vôi, thân phận lạc loài, phận hồng nhan, phận làm anh, phận gái chữ tòng. Phận là Tử Vi, chủ địa vị. Sao tốt thì phận tốt, sao xấu thì phận xấu; phận ta ngồi đâu thì ta đúng chỗ đó. Phận bắt ta cầm gì ta cầm nấy, bắt làm con bất hiếu thì đành làm con bất hiếu, bắt làm đồ chơi cho thiên hạ thì cũng đành. Làm khác phận có được không? Nghe thì dễ, nhưng thử đặt người quen dùng máy tính vào chỗ phải cầm cuốc, người quen sai khiến phải làm kẻ hầu, rồi sẽ thấy họ ngồi không đúng chỗ. Vì thế mới có câu "vô phận sự miễn vào". Phận quan trọng như vậy nên nằm ở Mệnh mới hay; rơi vào cung Nô thì quyết định số phận lại thuộc về bạn bè, người dưới.
Định: ý nghĩ đầu tiên
Tôi có ý định, tôi định đi, tôi định nói, trời định như vậy. Muốn làm điều gì thì trước hết phải nảy ra ý định, rồi mới thực hiện. Chữ "định" cũng thuộc Tử Vi. Kiều có câu "Định ngày nạp thái vu quy, Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong" và "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều". Nhưng nếu Tử Vi không nằm ở Mệnh, cung đại hạn của ta lấy gì để định? Có chăng chỉ là người khác định thay. Vì vậy Tham Lang ở Tý Ngọ không thật sự tốt: ngoài cung đối diện có Tử Vi lo hết chuyện quyết định, cho ăn thì ăn, bắt gác thì gác, mi khỏi phải suy nghĩ. Tham Lang đã không được nghĩ thì lấy đâu ra chuyện tốt.
Đoạt: điều đứng sau định
Định ngon rồi nhưng chưa chắc ngon bằng đoạt. Cha mẹ định đoạt hôn nhân của tôi, hay bọn họ định đoạt với nhau tôi biết gì. Đoạt tốt là giành được thành trì, công danh, địa vị, ngôi vàng, thậm chí giành cả mạng sống kẻ khác. Đoạt xấu là bị mất tất cả những thứ ấy. Chữ "đoạt" thuộc Thất Sát. Thế nên cách Tử Vi tọa thủ mà Thất Sát chiếu từ ngoài vào như cuộc đấu giữa người ra quyết định bên trong và kẻ chực cướp quyền bên ngoài.
Người viết lấy ví dụ từ lịch sử. Với nhà vua đánh giặc giữ nước, bên ngoài là ý định, bên trong là Thất Sát đoạt được thành công. Với vị vua mất ngôi hay người dấn thân khởi nghĩa mất mạng, bên trong ta định nhưng bên ngoài Thất Sát quá mạnh, đoạt mất cả ngai vàng, cả mạng sống. Với Phan Thanh Giản, Thất Sát tại Ngọ vốn đẹp nhưng gặp Kình Dương: nhiệm vụ được giao là chuộc lại ba tỉnh miền Đông, ông không đoạt lại được mà còn mất luôn ba tỉnh miền Tây. Hoàn cảnh éo le như thế, đặt vào ai cũng khó, nên người viết nói thẳng: tôi không dám đặt mình vào, tôi lập luận là phận tôi không có cách thương thảo.
Sao tốt chỉ tốt khi gặp sao hợp
Cuối cùng, mọi ví dụ trên chỉ có nghĩa khi ta nhớ rằng không sao nào tự đứng một mình mà phát huy được.
Khi sao tốt, cần có sao hỗ tương. Nếu gặp sao không tương thích thì chẳng khác lạc hãm. Người viết ví như cài thêm một tiện ích vào trình duyệt để lướt web an toàn, an toàn đâu chẳng thấy mà trình duyệt thì hấp hối. Ví dụ ấy vui nhưng đúng ý: một cách cục hay trên giấy vẫn phải được kiểm tra bằng các sao đi kèm, và lá số của ai thì người ấy tự soi cho ra. Chữ nghĩa trong sách chỉ là cái đuốc, đi đường vẫn là chân mình.
Vì thế cách học bền nhất là bắt đầu bằng việc nhìn đúng hai chòm sao, hiểu vì sao bốn bộ lại hợp thành và vì sao hai bộ gặp nhau lại sinh chuyện. Sau đó lấy bốn chữ số, phận, định, đoạt làm thước đo: nhìn ra cái số đang chạy, cái phận đang ngồi, cái định đang nảy, cái đoạt đang đứng bên ngoài cửa. Nhìn được bốn thứ ấy là đã đọc được phần cốt lõi của một lá số.
Học dàn bài, rồi tự soạn sách cho mình
Để những chữ trên không trôi khỏi đầu, người viết đưa ra một cách học mượn từ thời đi học.
Các thầy ngày xưa dặn học trò chỉ cần thuộc dàn bài, thuộc đại khái, đừng học thuộc lòng, rồi khi làm bài thì viết theo ý mình. Môn có hình thì phải tự vẽ được hình: vẽ được bản đồ là thuộc Địa, nhớ năm có biến cố rồi hình dung bối cảnh là thuộc Sử, như năm Kỷ Dậu 1789 Quang Trung đánh Thanh, cùng năm ấy bên Pháp nổ ra cách mạng. Áp dụng vào Tử Vi cũng vậy: chỉ cần thuộc dàn bài, và điều quan trọng là chính bạn phải soạn bài mà học. Bạn tự viết một cuốn sách Tử Vi của mình, đọc các sách có sẵn để đối chiếu, gạn đục khơi trong, rồi sắp xếp theo khuôn mẫu riêng. Muốn nghiên cứu nghiêm túc, hãy tập an lá số bằng tay, thậm chí an được trên bàn tay, thuộc cách an như cháo. Làm được như vậy, bốn bộ sao và bốn chữ số, phận, định, đoạt sẽ không còn là chữ trong sách mà là điều chính mình nhìn thấy.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
