Bài tổng quan
Chạy lưu niên qua ba lá số: đại vận Âm sáu năm, đại vận Dương chín năm
Một người đến năm mươi hai tuổi thì quẻ đổi từng năm như bước chân đi lên cầu thang sáu bậc. Người khác mới hai mươi lăm đã phải chia chín năm làm hai nhịp, ba năm quay quanh hai ngôi rồi sáu năm bước đều... Ba lá số này cho thấy nhịp ấy chạy ra sao.
Mục lục · 6 phần
Hình thức của sáu mươi bốn quẻ: những gì phải nắm trước khi tính
Một quẻ Hà Lạc được dựng nên từ hai lớp: lớp hình thức là chính sáu mươi bốn quẻ của Kinh Dịch, lớp nội dung là những việc phải tính trên quẻ ấy. Ai muốn tự tay lập một lá số thì cần thuộc cả hai lớp, vì thiếu một lớp là vấp ngay ở bước kế tiếp.
Về hình thức, cần nắm theo thứ tự: vạch và hào, tức Âm và Dương; tám quẻ đơn với ý nghĩa của từng quẻ; rồi quẻ trùng với mọi chi tiết của nó. Trong phần quẻ trùng gồm tám quẻ thuần đứng đầu tám nhóm quẻ; cách tổ chức bên trong mỗi quẻ trùng, nghĩa là quẻ thượng hay quẻ ngoại, quẻ hạ hay quẻ nội; sáu hào thuộc Tam tài và hào Thế, hào Ứng của mỗi quẻ; danh sách sáu mươi bốn quẻ cùng cách gọi tên từng quẻ; tiến trình của Thế và Ứng suốt tám quẻ của một nhóm; và biểu đồ tổng quát của sáu mươi bốn quẻ.
Sáu việc về nội dung phải làm được
Có hình thức rồi vẫn chưa thành lá số. Phải biết lấy quẻ ấy ra làm sáu việc, mỗi việc một bước, nối nhau thành sợi dây của cả đời người.
- Thế nào là quẻ Tiên Thiên và quẻ Hậu Thiên.
- Nguyên Đường là gì và cách tính. Cách tính áp cho những quẻ có từ một đến năm hào Âm hoặc Dương, và riêng cho hai quẻ thuần hào. Cần thuộc lòng bài ca khởi Nguyên Đường gồm bốn câu và hai bảng thuần hào.
- Cách biến quẻ Tiên Thiên ra quẻ Hậu Thiên.
- Cách tính quẻ Hỗ.
- Cách tính đại vận.
- Cách tính lưu niên theo hai trường hợp.
Với việc thứ sáu, trường hợp đầu là đại vận hào Âm: biến ngay, đi hết sáu hào là vừa đúng sáu năm. Trường hợp thứ hai là đại vận hào Dương, chín năm, chia hai nhánh. Gặp Dương tuế thì bất biến năm đầu, rồi qua Thế Ứng ba năm. Gặp Âm tuế thì biến ngay năm đầu, cũng qua Thế Ứng ba năm, rồi mới bắt đầu biến theo lệ thường thêm sáu năm nữa cho đủ chín năm.
Ví dụ một: nam, đại vận Âm, từ năm mươi hai đến năm mươi bảy tuổi
Một người nam sinh năm Quý Sửu, tháng Nhâm Tuất, ngày Đinh Sửu, giờ Ất Tị. Số của từng trụ lấy từ Hà Đồ: năm Quý là hai, chi Sửu là năm và mười; tháng Nhâm là sáu, chi Tuất là năm và mười; ngày Đinh là bảy, chi Sửu là năm và mười; giờ Ất là hai, chi Tị là hai và bảy. Cộng các số chẵn được tổng số Âm, cộng các số lẻ được tổng số Dương. Tổng số Âm là bốn mươi hai, trừ ba mươi còn mười hai, giữ lại hai là Khôn (Địa). Tổng số Dương là hai mươi chín, trừ hai mươi lăm còn bốn là Tốn (Phong). Được quẻ Tiên Thiên Địa Phong Thăng, và quẻ Hậu Thiên là Phong Lôi Ích.
Các đại vận của quẻ Tiên Thiên Thăng bắt đầu từ Nguyên Đường ở hào bốn Âm: một đến sáu tuổi. Kế đó hào năm Âm từ bảy đến mười hai tuổi, hào sáu Âm từ mười ba đến mười tám, hào một Âm từ mười chín đến hai mươi bốn. Hai hào Dương kế tiếp mỗi hào chín năm: hào hai từ hai mươi lăm đến ba mươi ba, hào ba từ ba mươi bốn đến bốn mươi hai. Sang quẻ Hậu Thiên Ích, hào một Dương từ bốn mươi ba đến năm mươi mốt; hào hai Âm, nơi Nguyên Đường của hậu vận đứng, từ năm mươi hai đến năm mươi bảy; hào ba Âm từ năm mươi tám đến sáu mươi ba; hào bốn Âm từ sáu mươi bốn đến sáu mươi chín; hào năm Dương từ bảy mươi đến bảy mươi tám; hào sáu Dương từ bảy mươi chín đến tám mươi bảy.
Giờ lấy đại vận hào hai Âm của quẻ Ích, từ năm mươi hai đến năm mươi bảy tuổi, để chạy lưu niên. Đại vận Âm thì biến ngay, mỗi năm một hào, không cần xét tuế.
- Năm Giáp Thìn, năm mươi hai tuổi: hào hai Âm của quẻ Ích biến thành hào hai Dương, ra quẻ Trung Phu.
- Năm Ất Tị, năm mươi ba tuổi: hào ba Âm của quẻ Trung Phu biến thành hào ba Dương, ra quẻ Tiểu Súc.
- Năm Bính Ngọ, năm mươi bốn tuổi: hào bốn Âm của quẻ Tiểu Súc biến thành hào bốn Dương, ra quẻ thuần Càn.
- Năm Đinh Mùi, năm mươi lăm tuổi: hào năm Dương của quẻ Càn biến thành hào năm Âm, ra quẻ Đại Hữu.
- Năm Mậu Thân, năm mươi sáu tuổi: hào sáu Dương của quẻ Đại Hữu biến thành hào sáu Âm, ra quẻ Đại Tráng.
- Năm Kỷ Dậu, năm mươi bảy tuổi: hào một Dương của quẻ Đại Tráng biến thành hào một Âm, ra quẻ Hằng.
Thế là đủ sáu năm của một đại vận hào Âm. Năm đầu ứng ngay với hào hai nên không có độ trễ nào giữa lúc đại vận mở ra và lúc quẻ năm đổi; đến hào sáu của vòng biến thì quay về hào một, vừa khép đủ sáu bước. Người xem chỉ việc ghi tuổi hoặc năm lên bên cạnh từng quẻ rồi đối chiếu ý nghĩa của quẻ với từng năm sống thật của người đó.
Ví dụ hai: nữ, đại vận hào Dương gặp Âm tuế
Một đại vận chín năm có nhịp đi riêng: ba năm đầu quay quanh hai ngôi Thế và Ứng, sáu năm sau mới bước đều từng hào.
Một người nữ sinh năm Đinh Tị, tháng Nhâm Dần, ngày Bính Thân, giờ Mậu Tuất. Đại vận của người này đứng ở hào năm Dương của quẻ Tiên Thiên Hàm, bắt đầu từ năm Tân Tị lúc hai mươi lăm tuổi và kéo dài đến ba mươi ba tuổi. Năm Tân Tị là Âm tuế, nên hào năm Dương phải biến ngay từ năm đầu.
- Năm Tân Tị, hai mươi lăm tuổi: hào năm Dương của quẻ Hàm biến thành hào năm Âm, ra quẻ Tiểu Quá.
- Năm Nhâm Ngọ, hai mươi sáu tuổi: hào hai Âm của quẻ Tiểu Quá biến thành hào hai Dương, ra quẻ Hằng.
- Năm Quý Mùi, hai mươi bảy tuổi: hào năm Âm của quẻ Hằng biến thành hào năm Dương, ra quẻ Đại Quá.
- Năm Giáp Thân, hai mươi tám tuổi: hào sáu Âm của quẻ Đại Quá biến thành hào sáu Dương, ra quẻ Cấu.
- Năm Ất Dậu, hai mươi chín tuổi: hào một Âm của quẻ Cấu biến thành hào một Dương, ra quẻ Càn.
- Năm Bính Tuất, ba mươi tuổi: hào hai Dương của quẻ Càn biến thành hào hai Âm, ra quẻ Đồng Nhân.
- Năm Đinh Hợi, ba mươi mốt tuổi: hào ba Dương của quẻ Đồng Nhân biến thành hào ba Âm, ra quẻ Vô Vọng.
- Năm Mậu Tý, ba mươi hai tuổi: hào bốn Dương của quẻ Vô Vọng biến thành hào bốn Âm, ra quẻ Ích.
- Năm Kỷ Sửu, ba mươi ba tuổi: hào năm Dương của quẻ Ích biến thành hào năm Âm, ra quẻ Di.
Chín năm gồm ba năm đầu đi theo cặp Thế và Ứng, rồi sáu năm sau mỗi năm một hào theo thứ tự thường lệ. Mỗi quẻ năm sinh từ quẻ năm trước, không quay về quẻ gốc.
Ba nhịp của lưu niên nhìn qua hai ví dụ
Đặt hai ví dụ cạnh nhau thì thấy ngay chỗ khác nhau. Đại vận Âm của người nam đầu tiên chỉ có sáu năm, mỗi năm biến đúng một hào kế tiếp, không ngôi nào đặc biệt. Đại vận Dương của người nữ có chín năm: hào năm là hào Thế, hào hai cách đó hai hào là hào Ứng. Năm đầu biến hào Thế, năm thứ hai biến hào Ứng, năm thứ ba trở về hào Thế; từ năm thứ tư trở đi mới đi từng hào theo thứ tự thường. Nhớ một điều dễ nhầm: quẻ năm sau luôn sinh ra từ quẻ năm trước, chứ không phải từ quẻ Tiên Thiên hay Hậu Thiên lúc mở đầu đại vận.
Nếu năm đầu gặp Dương tuế thì hào đại vận Dương bất biến, và chính hào ấy được tính là quẻ năm thứ nhất; chỉ khi gặp Âm tuế mới biến ngay như người nữ trong ví dụ vừa đi qua. Phần còn lại của nhịp điệu thì giống hệt nhau.
Ví dụ ba: nam, đại vận Âm ở đầu đời
Một người nam sinh năm Bính Tý, tháng Quý Tị, ngày Bính Ngọ, giờ Tân Mão. Số từng trụ: năm Bính tám, chi Tý một và sáu; tháng Quý hai, chi Tị hai và bảy; ngày Bính tám, chi Ngọ hai và bảy; giờ Tân bốn, chi Mão ba và tám. Tổng số Dương là mười tám, trừ mười còn tám, là Cấn (Sơn). Tổng số Âm là bốn mươi, trừ ba mươi còn mười, giữ lại một, là Khảm (Thủy). Được quẻ Tiên Thiên Sơn Thủy Mông, và quẻ Hậu Thiên là Thủy Địa Tỷ.
Ở quẻ Tiên Thiên Mông, Nguyên Đường ngồi hào sáu Dương, đại vận chín năm từ một đến chín tuổi. Kế đó hào một Âm từ mười đến mười lăm, hào hai Dương từ mười sáu đến hai mươi bốn, hào ba Âm từ hai mươi lăm đến ba mươi, hào bốn Âm từ ba mươi mốt đến ba mươi sáu, hào năm Âm từ ba mươi bảy đến bốn mươi hai. Người này có Hóa Công là Chấn, hiện ở quẻ Hỗ Tiên Thiên; Thiên Nguyên Khí là Cấn, có ở quẻ chính Tiên Thiên và quẻ Hỗ Hậu Thiên; Địa Nguyên Khí là Khảm, có ở quẻ chính Tiên Thiên và quẻ chính Hậu Thiên.
Sang quẻ Hậu Thiên Tỷ, Nguyên Đường đứng ở hào ba Âm từ bốn mươi ba đến bốn mươi tám tuổi, hào bốn Âm từ bốn mươi chín đến năm mươi bốn, hào năm Dương từ năm mươi lăm đến sáu mươi ba, hào sáu Âm từ sáu mươi bốn đến sáu mươi chín, hào một Âm từ bảy mươi đến bảy mươi lăm.
Chạy lưu niên cho đại vận hào một Âm, từ mười đến mười lăm tuổi, bằng cách biến liên tiếp từng hào:
- Mười tuổi: hào một Âm của quẻ Mông biến thành hào một Dương, ra quẻ Tổn.
- Mười một tuổi: hào hai Dương của quẻ Tổn biến thành hào hai Âm, ra quẻ Di.
- Mười hai tuổi: hào ba Âm của quẻ Di biến thành hào ba Dương, ra quẻ Bí.
- Mười ba tuổi: hào bốn Âm của quẻ Bí biến thành hào bốn Dương, ra quẻ thuần Ly.
- Mười bốn tuổi: hào năm Âm của quẻ Ly biến thành hào năm Dương, ra quẻ Đồng Nhân.
- Mười lăm tuổi: hào sáu Dương của quẻ Đồng Nhân biến thành hào sáu Âm, ra quẻ Cách.
Có quẻ năm rồi, đọc tiếp thế nào
Khi đã rõ Nguyên Đường, đại vận hay lưu niên tuế vận đứng ở quẻ nào, hào nào, muốn giải đoán thì dùng biểu đồ sáu mươi bốn quẻ và xem ý nghĩa của quẻ ấy. Ở mỗi quẻ, mỗi hào lại phải xác định mình thuộc mệnh hợp cách hay mệnh không hợp cách, và thuộc thành phần nào trong ba hạng quan chức, giới sĩ hay người thường. Chú ý đặc biệt vào mục dành cho hạng của mình, dù điều ấy cũng linh động tới mức tối đa.
Nghĩa là quẻ nào cũng chưa nói hết một mình, dù là quẻ Tiên Thiên, quẻ Hậu Thiên, quẻ đại vận hay quẻ lưu niên của một năm cụ thể. Muốn thấy tốt xấu thật, phải ghép quẻ với mệnh của người đang xét, vì cùng một hào mà người này gặp phúc, người kia gặp họa, tùy người ấy thuộc hạng nào và mệnh có hợp cách hay không. Quẻ cho biết thời, còn mệnh của từng người mới cho biết thời ấy đến với người đó ra sao.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
