Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Vũ Khúc, Tham Lang, Cự Môn: những sao làm quan không thẳng đường

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202612 phút đọc3 lượt đọc
Vũ Khúc, Tham Lang, Cự Môn: những sao làm quan không thẳng đường

Không phải ngôi sao nào cũng sinh ra để làm quan. Vũ Khúc vốn là tài tinh, Cự Môn vốn là miệng lưỡi, Thiên Cơ vốn là trí xảo — quan lộc chỉ đến với chúng như một lối rẽ, khi gặp đúng vị trí và đúng bạn đồng hành. Nhưng ngay trong nhóm tám sao này, cũng có hai cái tên mà đắc địa vẫn chưa chắc đã là điều đáng mừng...


Vì sao gọi là quan lộc gián tiếp

Sáu chính tinh gồm Chủ Tinh, Thái Dương, Liêm Trinh, Thiên Tướng, Thất Sát và Thiên Phủ, đều tự mang tư cách quý tinh, quyền tinh hoặc dũng tinh, nên nghĩa quan lộc nơi chúng hiện ra thẳng thắn và rõ nét. Nhóm chính tinh còn lại thì khác: bản thân chúng chẳng phải quý tinh, quyền tinh hay dũng tinh, cho nên con đường làm quan qua các sao này không rành mạch, dứt khoát như nhóm đầu. Người xưa vì thế gọi đây là nhóm quan lộc gián tiếp. Hình dung cho dễ: sáu sao trước như những chức danh phong sẵn từ đầu, hễ đắc địa là có phẩm hàm phân minh; còn tám sao trong nhóm này giống những năng khiếu riêng, phải gặp đúng cảnh ngộ, đúng vị trí, đúng bạn đồng hành mới kết thành một quan cách cụ thể. Dẫu vậy, đã là chính tinh đắc địa thì ít nhiều cũng mang bóng dáng quan tước, nên vẫn phải kê ra để biết mỗi sao góp vào đường công danh bằng lối riêng nào.

Vũ Khúc: tài tinh khoác dáng vẻ võ nghiệp

Vũ Khúc vốn là ngôi sao của tiền tài. Thế nhưng hễ đứng vào miếu địa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), vượng địa (Dần, Thân, Tỵ, Ngọ) hay đắc địa (Mão, Dậu) thì sao này cũng dựng nên được quý cách. Khi ấy nó ứng với nghiệp võ, và địa vị cao thấp tùy theo mức miếu, vượng hay đắc. Gặp thêm các võ tinh như Thiên Tướng, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang thì màu sắc binh nghiệp đậm nét hơn nữa; còn hội với Văn Khúc thì người ấy vừa có tài văn vừa có tài võ.

Vũ Khúc đắc địa cho ta hình ảnh một con người chí khí lớn, giỏi thao lược và tính toán, dám toan liệu việc lớn, lại gan dạ, quyết đoán. Chất binh nghiệp ở đây là chất của bậc chiến lược gia: vạch kế, định sách nhiều hơn là xông pha giữa trận. Đó là sao của ban tham mưu, thắng địch bằng mưu hơn bằng gươm giáo và hỏa lực. Vì thế quân nhân có Vũ Khúc tại cung Quan phát huy tốt nơi ngành tham mưu hơn nơi chiến trường. Ở điểm này Vũ Khúc đứng ngược hẳn với Thất Sát và Thiên Tướng, hai sao võ cách chuyên xung trận, sát phạt, điều quân và thực thi kế hoạch. Khi Vũ Khúc kết hợp với một trong hai sao ấy, vị sĩ quan gánh được cả việc mưu lẫn việc đánh, có dũng lại có trí.

Còn khi Vũ Khúc rơi vào hãm địa, cái tài bị lu mờ: có thể kém cỏi, có thể không có nơi thi thố, có thể chuốc thất bại. Với thế đơn thủ hoặc đồng cung Thiên Phủ, Vũ Khúc đi con đường quan văn và rất được việc trong ngành kinh tế: người có tài buôn bán, đem lợi về cho quốc gia, khéo xoay xở đồng tiền, biết nắm bắt cơ hội. So với Vũ Khúc, Thiên Phủ có lẽ chỉ ngành tài chính đúng nghĩa hơn, bởi Thiên Phủ được ví như kho báu của trời, trong khi Vũ Khúc chỉ ngành kinh tế nói chung; song sự phân biệt ấy chẳng mấy rõ ràng. Hai sao cùng cung thì đương số thông thạo cả hai mặt. Bất kể đắc địa ở thế nào, người có Vũ Khúc cũng không thiếu tiền bạc.

Sở dĩ Vũ Khúc nằm trong nhóm "gián tiếp" mà không đứng chung hàng quyền tinh chính danh là do gốc của nó thuộc về tài, tức thiên về của cải, tiền bạc, chứ không mang sẵn quyền bính như Chủ Tinh hay Thất Sát. Để Vũ Khúc thành quan cách thực sự, cần nhờ thế miếu vượng cùng sự hỗ trợ của những sao võ khác. Tức là chuyện quan lộc của Vũ Khúc chỉ là hệ quả rẽ nhánh từ cái tài sẵn có, không phải bản chất ban đầu của sao. Cũng là đặc điểm chung cho cả tám sao sắp lần lượt được xét: mỗi sao giữ một sở trường riêng, khi là tài lộc, khi là phúc đức, khi là trí xảo, khi là miệng lưỡi, còn quan lộc chỉ là biểu hiện thứ yếu, một ngả rẽ hé ra khi sở trường ấy được đặt vào đúng chỗ.

Tham Lang và Phá Quân: hai võ tinh nhiều khiếm khuyết

Tham Lang cũng nằm trong hàng võ cách. Ngoại trừ thế miếu địa ở Thìn, Tuất mới đưa tới hiển đạt, còn những vị trí khác thì Tham Lang chỉ ở mức tầm thường, có thể coi là kém tài mà nặng lòng vụ lợi. Dù được việc đi nữa, viên sĩ quan có Tham Lang ở cung Quan vẫn đeo nhiều thói xấu: ưa hơn thua, kiêu căng, chuộng vẻ ngoài, mê vui, trễ nải, và trên hết là tham đủ đường, tiền bạc lẫn rượu chè, sắc dục. Vậy nên đây là hạng quân nhân lắm nhược điểm. Chỉ khi Tham Lang miếu địa lại hội cùng Linh Tinh hay Hỏa Tinh miếu địa thì con đường binh nghiệp mới thực sự tốt đẹp.

Phá Quân cũng là võ tinh, cũng là một điều kiện dựng nên quan võ. Ở thế miếu, vượng hoặc đắc địa, quan cách có Phá Quân cho người gan góc, hoạt bát, nhưng đồng thời hiếu thắng, kiêu ngạo, nhiều mưu gian, và nặng nhất là thiếu lòng nhân. Các tính ấy tuy hữu ích cho người cầm quân, cũng làm quan cách thiên về bá đạo, khiến đời dễ đụng phải hung sự và tai ương. Hơn nữa, bản tính của Phá Quân nơi cung Quan là không giữ được lòng trung tín, thường vượt mặt người trên.

Trong bộ võ cách Sát Phá Liêm Tham, Phá Quân và Tham Lang được coi là hai sao xấu nhất, ngay cả lúc đắc địa; nếu miếu hoặc vượng thì mới đỡ hơn. Còn rơi vào hãm địa thì quan cách của Phá Quân hết sức tầm thường, dễ gặp tai nạn không thoát nổi, hại người mà cũng bị người hại. Đem đối chiếu với các chính tinh có nghĩa quan lộc trực tiếp, chênh lệch hiện rõ: Thất Sát dẫu hãm địa vẫn còn cốt cách quyền dũng để bấu víu, riêng Tham Lang và Phá Quân thì lúc đắc địa cũng đã ngậm sẵn mầm hại, khó tin cậy hoàn toàn.

Lại phải phân biệt cho thấu đáo hai loại "xấu" ở hai sao này. Cái xấu của Tham Lang sinh từ lòng tham và sự trễ nải, việc hỏng vì buông lơi, vì mải vui hưởng lạc, chứ chưa hẳn vì ác ý. Cái xấu của Phá Quân sinh từ mưu mô, gian xảo, bất nhân, việc hỏng vì chủ động lấn át, tranh cướp, sẵn lòng dẫm lên người khác để đạt mục đích. Một bên là cái xấu của thói nhu nhược, một bên là cái xấu của tính hung hãn. Từ đó, khi luận, Tham Lang tọa cung Quan mà kèm các phụ tinh thiên về hưởng thụ, tửu sắc thì phải hết sức dè chừng; còn Phá Quân gặp sát tinh thì càng dễ kéo đương số vào vòng tranh chấp, kiện tụng, thậm chí hình án.

Thái Âm: phú tinh của giới văn chương, giáo dục

Thái Âm thuộc loại phú tinh, ứng với điền trạch. Khi sáng sủa, sao này cũng tạo được quan cách, nhưng ánh hào quang không sánh với Thái Dương. Có điều, nếu người tuổi Âm, sinh về đêm, đúng lúc trăng thượng huyền, mà Thái Âm sáng đóng cung Quan thì quý cách chói lọi hơn cả người tuổi Dương sinh ban ngày. Được trợ tinh giúp sức thì rực rỡ hơn nữa: đương số sớm thành đạt, vừa ý, danh lợi song hành. Ngược lại, tuổi Dương sinh ban ngày thì danh ít mà lợi nhiều.

Đường quan mà Thái Âm chỉ là đường quan văn, đặc biệt ở văn chương, giáo dục, nghệ thuật. Nam hay nữ đều chung một tình trạng. Hãm địa thì quan cách bình thường, phát muộn, thường lâm vào cảnh không như ý, ít dịp bày tỏ tài năng. Nếu Âm Dương đồng cung ở Sửu, Mùi thì được lộc nhưng không hiển quý; muốn nên quý phải có Tuần, Triệt chặn giữa hoặc Hóa Kỵ đồng cung.

Những điều kiện về giờ sinh ngày hay đêm, tuổi Âm hay Dương vừa nêu cho thấy Thái Âm đặc biệt nhạy với hoàn cảnh xuất hiện. Thái Dương thì khác, ý nghĩa quan lộc giữ nguyên bất chấp tuổi hay giờ. Điều đó cũng khớp với bản tính của Thái Âm, phú tinh gắn liền điền trạch và sự dồn tích lặng lẽ, nên quan cách cũng tùy thuộc vào "thời điểm" nhiều hơn là tự tỏa sáng đều đặn như mặt trời. Những nghề Thái Âm hướng tới, tức văn chương, giáo dục, nghệ thuật, đều đòi hỏi sự vun đắp dài lâu, ít ai nổi danh trong một sớm một chiều, khác xa nhịp hiển đạt của các võ tinh mới bàn phía trên.

Thiên Đồng và Thiên Lương: phúc tinh và bậc mưu sĩ

Thiên Đồng là phúc tinh, nên chỉ có nghĩa quan lộc từ mức đắc địa trở lên. Thông thường sao này chỉ văn cách; riêng ở Mão thì văn võ đều đủ. Muốn quý hiển thật sự, Thiên Đồng phải đứng ở Tý, Dần hoặc Thân. Dù trường hợp nào, Thiên Đồng cũng ứng với hạng viên chức làm việc di động, hay chuyển đổi công tác, như thanh tra, đại sứ, liên lạc viên, hoặc rơi vào cảnh phải đổi nghề, đổi nơi khá nhanh. Khi đồng cung Thiên Lương, Thiên Đồng nổi bật ở chính trị, y khoa, sư phạm. Đồng cung Thái Âm tại Tý thì Thiên Đồng lỗi lạc. Còn hãm địa thì quan cách thấp bé, lên xuống bấp bênh, không toại chí trong nghề.

Thiên Lương thuộc cách quan văn. Từ đắc địa trở lên, Thiên Lương cho tài của người mưu sĩ, cố vấn, chuyên hiến kế về đường lối, chiến lược, chính sách, nhất là ở Thìn, Tuất (đồng cung Thiên Cơ) hoặc Mão (đồng cung Thái Dương). Nơi những vị trí đó, người có Thiên Lương ham tìm tòi, chuộng học hỏi, đủ khả năng nghiên cứu và vẽ ra những chương trình lớn nhất, thật hợp với việc tham mưu. Được thêm các sao khoa bảng thì công danh rực rỡ, ở gần bậc quyền cao chức trọng.

Thiên Lương ở Sửu, Mùi thì quan cách chỉ tầm thường. Đến khi hãm địa ở Tỵ, Hợi, chức vị thấp hơn, tính tình phóng túng, hay đổi ý chí, thích phiêu bạt mà không thỏa nguyện, buộc phải lang thang, xa quê kiếm sống. Đồng cung Thái Dương ở Dậu cũng mang nghĩa tương tự.

Đặt hai sao cạnh nhau, ta thấy Thiên Đồng và Thiên Lương đều hiền hòa, thiên về trí tuệ hơn quyền lực trực tiếp, mà vai trò lại khác biệt. Thiên Đồng là người biết thích nghi: sẵn lòng đổi nghề, đổi chỗ, uốn mình theo cảnh ngộ mà vẫn giữ được nếp an nhàn, phúc hậu. Thiên Lương là người biết hoạch định: ở phía sau hậu trường mà vạch lối, dâng kế, khuyên bảo người nắm quyền. Bên này là sự mềm mại của phúc tinh, bên kia là cái đầu lạnh của mưu sĩ. Cũng do tính hay dời đổi ấy mà Thiên Đồng hãm địa dễ rơi vào bất đắc và lận đận nghề nghiệp hơn nhiều so với Thiên Lương hãm địa, vốn chỉ dừng ở phóng túng, mê phiêu lưu.

Cự Môn và Thiên Cơ: tài ăn nói và sự khéo léo

Ở thế miếu, vượng, đắc địa, Cự Môn ứng với quan văn, nhất là chính trị gia, luật gia, nhà ngoại giao. Sao này rất thích hợp với thẩm phán, giáo sư, dân biểu, nghị sĩ, tức những người học rộng, có tài biện thuyết, nghiêng về đường chính trị. Đi cùng Thiên Cơ ở Mão, Dậu, hoặc cùng Thái Dương ở Dần, Thân thì chức vị cao, phú quý song toàn. Hãm ở Tỵ thì quan cách nhỏ; hãm ở Hợi thì cao vọng nhưng hay bất mãn; ở Thìn, Tuất tuy có tài, có chức lớn, nhưng thường bị thị phi, ganh ghét, cạnh tranh, dèm pha đeo bám.

Thiên Cơ, cũng là sao quan văn, đại diện cho kỹ năng, kỹ thuật, độ tinh xảo trong nghề chuyên môn, nhất là về máy móc. Nghề của Thiên Cơ có thể là kỹ sư. Ngoài ra, thuộc bộ Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, Thiên Cơ chỉ hàng công chức, quan lại, cụ thể như ngành y hoặc dược. Gặp Cự Môn đồng cung ở Mão, Dậu, hay Thiên Lương đồng cung ở Thìn, Tuất, Thiên Cơ hiện ra là viên chức tham mưu, sở trường về kế hoạch và chiến lược. Ở mọi vị trí đắc địa, Cơ luôn là viên chức khéo tay, tinh xảo, lão luyện, giàu lương tâm và đạo đức nghề nghiệp.

Điều đáng chú ý là Cự Môn và Thiên Cơ cùng thuộc hàng sao trí tuệ, nhưng phô bày trí tuệ bằng hai cách trái nhau. Cự Môn lấy lời nói làm khí giới, dùng tài hùng biện và tranh luận để thuyết phục: đây là trí tuệ hướng ra ngoài, cần đông người mới bung sức, hợp với chính trường, tòa án, giảng đường. Thiên Cơ lấy sự khéo léo, tinh xảo trong kỹ thuật và kế hoạch làm sức mạnh: đây là trí tuệ hướng vào trong, lộ ra nơi sản phẩm, bản vẽ, phương án, chẳng cần đến tài ăn nói. Bởi vậy Cự Môn hãm địa thì họa thường đến từ thị phi, cãi vã, dèm pha do chính miệng mình gây ra; còn Thiên Cơ đứng một mình, thiếu phối hợp thì họa chỉ là lận đận, loay hoay chưa tìm được chỗ dùng cho khả năng kỹ thuật, hiếm khi vướng thị phi ầm ĩ như Cự Môn.

Nhóm quan lộc gián tiếp gồm tám sao bao gần trọn những ngành dân sự còn lại mà sáu chính tinh quan lộc trực tiếp chưa chạm tới: tài chính, kinh doanh, văn chương, giáo dục, y dược, kỹ thuật, luật pháp, ngoại giao. Song chỉ riêng chính tinh đắc địa thì chưa đủ chốt hết một quan cách. Phải cân cả những phụ tinh đi kèm, vì chính chúng mới định ra phẩm trật quan lộc cao hay thấp, vẻ vang đến đâu.

Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề