Bài tổng quan
Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng thủ Mệnh
Người có Tử Vi thủ Mệnh mặt đỏ tía hồng hào, lưng dày, tính tình trung hậu, về già càng khiêm nhượng. Thế nhưng cũng ngôi sao ấy, đóng ở cung Thìn Tuất mà gặp Phá Quân thì giàu mà không quý, chỉ là hư danh. Điều gì khiến một ngôi sao mà kết cục khác nhau đến vậy…
Mục lục · 5 phần
Dưới đây giải thích tính cách các sao an ở 12 cung Cát hung theo từng người sinh một, cho Nam Mệnh, Nữ Mệnh và Đại Tiểu Nhị hạn.
Tử Vi
Tử Vi thuộc Thổ Nam Bắc Đẩu tinh hóa Đế Tọa chủ Quan Lộc. Người có Tử Vi thủ Mệnh thì mặt đỏ tía hồng hào lưng dày người béo (mập), tính tình Trung hậu, về già thì khiêm nhượng, cung kính cảnh vẻ, thẳng thắn.
Có quyền chế được Thất Sát, Hỏa Linh hội với Phủ Tả Hữu, Xương Khúc Nhật Nguyệt Lộc Mã ba phương hợp lại hay giúp thì cực tốt, lộc đến thiên chung, Cự Phú đại Quí lại có cả Lộc Tồn cũng chiếu lại đặc biệt hơn nữa.
Không nhập miếu, không có Tả Hữu là ông chúa cô đơn chỉ là Tăng đạo thanh nhàn, gặp Phá Quân thì làm chức lại cùng với Dương Đà Hoả Linh xung hợp, với nhiều Cát tinh thì được Phát tài, thứ nhân thì tốt, đàn bà thì Vượng Phu Ích Tử.
An ở cung Tý người sinh năm Đinh Kỷ Canh là Quí cách.
An ở cung Tý người sinh năm Nhâm Quí không được bền.
An ở cung Ngọ nhập miếu, người sinh năm Giáp Đinh Kỷ là Tài Quan cách.
Người sinh năm Bính Mậu thành thất bại và mang Tật.
Cung Mão Dậu là Vượng cung, đồng với Tham lang người sinh năm Ất Tân là Quí cách, người sinh năm Giáp Canh lại không bền.
Cung Dần Thân là Vượng địa cùng với Thiên Phủ, người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ là Tài Quan cách.
Cung Tị Hợi là Vượng địa cùng Thất Sát người sinh năm Ất Mậu là Tài Quan cách.
Cung Thìn Tuất là đắc địa cùng với Thiên Tướng, người sinh năm Giáp Ất Kỷ Canh Quí là Tài Quan cách.
Cung Sửu Mùi nhập miếu với Phá Quân đồng cung người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ Ất Nhâm là Tài Quan cách.
Nam Mệnh
Mệnh Thân gặp được Tử Vi thì Phúc tài hưng vượng nếu được Tướng Tá hội cùng thì được phú quí song toàn oai danh lừng lẫy.
Tử Vi thủ Mệnh thì hiền lành, gặp nhị Sát thì không sống lâu, gặp Dương Đà Hỏa Linh hội lại xấu lắm làm tăng đạo thì hơn.
Tử Vi ở cung Thìn Tuất gặp Phá Quân là giàu có, phú mà không quí, chỉ là hư danh, Nếu gặp Tham lang ở cung Mão Dậu là kẻ làm tôi bất trung, người bất nghĩa, Hỏa Linh Dương Đà hội lại gia Thất Sát là người ti tiện, cô đơn lại bị hình thương khắc hại.
Nữ Mệnh
Mệnh Thân có Tử Phủ Gia Cát tinh hội chiếu ắt là số Mệnh phu, phong tặng hưởng phúc lâu dài.
Tử Vi an ở cung Phu, ba phương có sao tốt chiếu lại là chồng đuợc Vinh hiển. Nếu bị Sát Phá thì ăn mặc được đầy đủ nhưng dâm dật và xảo trá.
Hạn
Hai hạn gặp Tử Vi là Phúc lộc hưng. Người thường thì hưởng lắm tài giàu có, làm Quan thì được thăng quan tiến chức Tử Vi nhập hạn gốc thì tốt nhưng chỉ sợ ba phương chiếu lại có Sát Phá Tham người thường gặp thì bất lợi và quan viên thì bị dáng trật và bị Kinh thương.
Thiên Cơ
Từ ngôi đế tọa chủ Quan Lộc, ánh sáng chuyển sang một sao mưu trí thuộc Mộc, chủ Huynh Đệ.
Thiên Cơ thuộc Mộc Nam đẩu tinh hóa Thiện tinh chủ Huynh Đệ. Nhập miếu thì người dài, béo tốt, tính mau mắn, tâm từ thiện lắm cơ mưu, biến chuyển. Cùng với Thiên Lương hợp chiếu là người có nhiều cơ mưu hay bàn về binh bị. Người sinh năm Ất Bính Đinh nhập miếu hóa cát được Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, Thái Âm cũng hợp; Mệnh ở cung Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi có Quyền Lộc là người về Văn hay Võ đều Đại Quí đến Cực Phẩm thêm có Cự Môn Dương Đà Kỵ ở Tị Dậu Sửu Hợi là Hạ cách, cô đơn bần cùng; ở cung Tài, Quan cũng được Quí hiển nhưng không bền, nên kinh doanh buôn bán, hay làm công nghệ thì tốt.
Đàn bà gặp Thiên Cơ thủ Mệnh nhập Miếu thì tính rất khó và cương trực, người cơ sảo trong tay nắm quyền trong nhà, tề gia nội trợ giỏi, vượng phu ích tử, gặp Lương lại có Cự Dương và Dương Hỏa Kỵ sum họp thì tuy có tài nhưng dâm đãng đê tiện, thay đổi chồng hay góa bụa là số tôi đòi hay thương phu khắc tử.
Cung Tý Ngọ là nhập miếu người sinh năm Đinh Kỷ Quí Giáp Canh Nhâm là Tài Quan cách.
Cung Mão Dậu là vượng địa cùng Cự Môn, người sinh năm Ất Tân Mậu Quí là Tài Quan cách.
Cung Dần Thân là đắc địa cùng với Thái Âm, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh Quí là Tài Quan cách.
Cung Tị Hợi là bình hòa người sinh năm Bính Nhâm Mậu là hợp cực nhưng cũng không bền.
Cung Thìn Tuất là lợi ích ngộ Thiên Lương, người sinh năm Nhâm Canh Đinh là Phúc.
Cung Sửu Mùi Hãm địa, người sinh năm Bính Mậu Đinh Nhâm là Tài Quan cách, năm Ất Nhâm là cách Hợp Lộc.
Nam Mệnh
Người Mệnh có Cơ Nguyệt Dương, thường nhân thì giàu có lớn, ruộng nhà nhiều; gặp Khoa Quyền Lộc là làm Quan Đại Thần, chức vụ cao cả.
Thiên Cơ ngộ Kỵ vào nhân cung Thủ Mệnh hay cung Tài Quan thì gia tài khánh tận lại bị yểu vong, người gặp số này chỉ nên xa lánh hồng trần, vui cùng non nước, ngao du trên non cao rừng thẳm luyện Đạo thì hơn.
Nữ Mệnh
Mệnh có Thiên Cơ lại có Cát Tinh phù hợp là người đàn bà hay làm, nhanh nhẩu tính tình cương quyết quá trượng phụ lại gặp Quyền Lộc cũng chiếu thì vinh hiển quí lắm.
Thiên Cơ ngộ Thái Âm đồng cung, đàn bà gặp là người xảo trá, ăn mặc tuy được đầy đủ sau không được mỹ mãn, là góa phụ hay tỳ thiếp, chủ dâm dật.
Hạn
Nam Nữ hai hạn gặp Thiên Cơ, có Lộc nữa chủ có Quyền hành lớn lao, kinh doanh ắt gặp nhiều quí nhân phù trợ, phát tài phát phúc ít người hay.
Thiên Cơ hãm địa chiếu hạn thì không được yên ổn, trong nhà công việc rối reng, ngoài thì nhiều sự lôi thôi, gặp Dương Đà và Cự Môn nên nhớ rằng không bị tai ương nặng ắt có thể chết được.
Thái Dương
Rồi vầng mặt trời lên, sao quý chủ Quan Lộc, hình mạo đường đường.
Là Nam Bắc Đẩu tinh hóa Quí, chủ Quan Lộc.
Nhập miếu thì hình mạo đường đường hùng tráng mặt đầy tròn trĩnh. Người sinh ban đêm là hãm mà Mệnh lại có Thái Dương tọa thủ ở miếu vượng địa là người có tâm từ thiện, mặt đỏ thích bố thí làm việc nghĩa, nếu hội với Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt Âm Lộc Tồn thủ chiếu cung Quan Lộc, Tài Bạch là Quí đến Cực Phẩm (số ông Thượng P.V.B); làm quan Văn Võ đều tốt, gặp được nhiều cá tính là Cực Quí, môn hạ cũng là Công Khanh hầu hạ. Người sinh năm Canh, Mệnh tọa cung Mão là được miếu địa Quí Đệ nhất, người sinh năm lục Nhâm là thứ cách Mệnh tại cung Hợi Thân là Hạ cục ắt bần yểu, tuy có phát nhưng không bền.
Nhật ở miếu vượng địa thì chung hàn Phú Quí, ở hãm địa gia Quyền Lộc cũng hung lâm vào cung Quan Lộc thì không được hiển đạt, trước thì hăng hái sau ra lơ là, thành bại bất nhất, xuất ngoại ly tổ thì tốt, cùng với Dương Đà xung phá lại bị ở hãm địa là Hạ cách, hoạnh phát hoạnh phá không đều. Người làm thương mại kinh doanh hay công nghệ cũng bị cay đắng khổ sở thì họa ít mà sống lâu, nếu thêm Hung sát tinh thì có tật. Gặp Hóa kỵ ắt đau mắt, cận thị, ở hãm địa ngộ Kỵ chắc Mù
Mệnh đàn bà mà gặp Nhật ở nơi miếu vượng thì vượng phu ích tử, nếu ở hãm địa lại gặp Dương Đà Hỏa Linh Kỵ Kiếp là bần tiện, tàn tật nhưng là người Trinh tiết thanh bần, nhà sư có Dương cư Mệnh thì được Thanh khiết.
Cung Tý thì hãm Ngọ là vượng người sinh năm Đinh Kỷ là Tài Quan cách, sinh năm Nhâm Bính Mậu thì bị lầm lẫn hối hận.
Cung Mão thì miếu, cung Dậu hòa bình người sinh năm Ất Tân là Tài Quan cách, người sinh năm Giáp Canh thì khốn cùng.
Nam Mệnh
Nam Mệnh mà gặp Thái Dương ở nơi miếu vượng thì được Phúc Thọ lâu bền, lại Quyền Lộc gặp Lưỡng Tướng có Khôi Xương Tả Hữu cũng chiếu là Phú Quí song toàn như số Thạch Sùng.
Mệnh có Nhật Nguyệt ở Sửu, Mùi ba phương không có Hóa Cát cũng chiếu thì Phúc bạc, có Cát Tinh đi nữa sau cũng không mỹ mãn, nếu gặp Sát tinh thì một đời bần cùng.
Bị thất hãm hay Phản bối gặp Hóa Kỵ thì nhiều sự bị tắc mờ ám, hay gặp việc bất ngờ phá tán gia tài, nếu Mệnh ở cường cung có Hóa Lộc thì cứu được.
Nữ Mệnh
Thái Dương chiếu Nữ Mệnh Thân là người bệ vệ có vẻ Bà tính cách đoan trang được Cát tinh chiếu ắt được phong tặng Phu nhân.
Thái Dương cư Mệnh là người có tài năng xuất chúng, ở vào hãm địa nên phòng Sát Hung tinh chiếu thì làm việc trầm ngâm lúc tiến lúc vui làm ăn khổ cực để độ nhựt thì tránh được sự khuynh gia bại sản. Thái Dương ở cung phản bối thì chủ tâm hoang mang ăn mặc bình thường, không thọ, bại chồng khắc con đến bỏ chồng lấy kẻ khác.
Vũ Khúc
Có một sao khác lại cứng cỏi, quả quyết, dáng thanh cao mà nặng cân, chủ Tài bạch.
Là sao Bắc đẩu hóa Tài, chủ Tài bạch, Người có Vũ Khúc tọa thủ Mệnh thì có tính cứng cỏi quả quyết, tâm thẳng không nham hiểm độc địa. Hình vóc thanh cao mà nặng cân. Người sinh năm Giáp Kỷ thì hợp được phúc hậu, có tóc lông kỳ lạ.
Nhập miếu với Xương Khúc đồng hành là cách Xuất Tướng Nhập Tướng. Về Vũ chức thì tốt vượng, về văn nhân thì tài học thâm thúy, hội với Tham lang ngộ Hỏa hóa Cát là thượng cách. Người sinh năm Bính Đinh Canh Tân Nhâm Quí là Trung cách.
Cùng với Phủ Tướng, Lương Nguyệt Lộc Mã hội hợp chủ Quí. Người ở Tây Bắc là Phúc, người Đông Nam là bình thường.
Ở vào Hãm địa là người làm công nghệ khéo hay Tăng đạo, Ngộ Liêm Trinh, Phá Quân Dương Kỵ Không Kiếp xung phá là Hạ cách là phá tổ bại gia.
Nữ Mệnh có Vũ Khúc nhập miếu là Quyền quí.
Hãm địa lại có Sát tinh thì cô đơn, hình phu khắc tử và còn là người bất chính.
Cung Tý Ngọ, là vượng địa gặp Thiên Phủ. Người sinh năm Đinh Kỷ Canh là Tài Quan cách.
Cung Mão, Dậu là lợi ích cùng Thất Sát người sinh năm Ất Tân là Tài quan cách.
Cung Dần Thân, là đắc địa cùng Thiên Tướng, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh là Tài quan cách.
Cung Tị Hợi hòa bình cùng Phá Quân người sinh năm Nhâm Mậu là Tài quan cách.
Cung Thìn Tuất là nhập miếu người sinh năm Ất Giáp là Tài quan cách.
Số đàn bà tam hợp có Cát tinh cũng chiếu là chủ Phong tặng, duy chỉ có Ác Sát Tinh xung chiếu cũng chưa phải là Hạ cục.
Nếu nhập miếu lại gặp Lộc thì tính cương cường, lẫm liệt cơ sảo thanh tú, vượng phu ích tử.
Số nhà sư có Liêm Trinh thủ Mệnh ngộ Cát tinh cũng chiếu thì làm đến Hoà Thượng.
Sao Liêm Trinh thích hợp với sao Thiên Tướng ắt hóa được cái xấu của nó.
Cung Tý Ngọ là Hòa bình gặp Thiên Tướng người sinh năm Đinh Kỷ Giáp là Tài quan cách.
Cung Mão Dậu là hòa bình người sinh năm Ất Tân Quí gặp sao Phá Quân thì cũng tốt.
Cung Dần là hòa bình người sinh năm Giáp Canh Kỷ là Quí cách.
Cung Sửu Mùi là lợi ích, có Thất Sát và Cát tinh cũng chiếu là Tài quan cách.
Cung Thìn Tuất là lợi ích cùng với Thiên Phủ người sinh năm Giáp Canh là Tài quan cách.
Cung Tị Hợi là hãm địa người sinh năm Giáp Kỷ Bính Mậu là có Phúc nhưng không lâu.
Nam Mệnh
Vũ Khúc thủ Mệnh là người phi thường, tính khí ương ngạnh cương cường, làm quan Văn Võ đều lại Quí, được thanh hiển danh giá, tiếng tăm lừng lẫy.
Cung Sửu Mùi, nhập miếu Tham lang, người sinh năm Mậu Tân là Đại quí Tài Quan cách.
Nam Mệnh
Đàn ông có Vũ Khúc thủ Mệnh là người có uy quyền thêm Cát tinh chiếu nữa thì Phúc Thọ song toàn, trí khí hơn người, siêu phàm nhập thánh.
Nếu bị Hao Sát xung phá thì lúc đầu được sung sướng, vinh hiển, tài lộc nhiều sau lại thành tiếng cả nhà không.
Nữ Mệnh
Đàn bà có Vũ Khúc thủ Mệnh gặp Thiên Phủ là người có trí khí anh hùng quá trượng phu, lại có Tả Hữu Lộc Tồn căng chiếu thì được phú quí song toàn đẹp đẽ vô cùng. Tính cương cường khác người y lộc thao thao bất tuyệt nếu gặp Phá Quân không chết non thì cũng bị hung vong.
Hạn
Đại tiểu hạn mà gặp, nếu nó ở nơi miếu địa thì chủ tài hưng vượng, thêm Xương Khúc, gia Tả Hữu thì Phúc Lộc song toàn vừa ý vừa lòng.
Vũ Khúc lâm hạn thì tức như sao Hóa Quyền, cầm mưu thì rất lợi, sự ắt thành, lại gặp Cát Tinh đồng hội làm Văn nhân thì tiếng tăm hiển hách, thứ dân thì hưng vượng.
Vũ Khúc chủ Quan tước, ở nơi hãm địa, hạn gặp quan chức ắt bị hình phạt, bị giáng về làm thường dân. Làm quan mà gặp hạn đó ắt có sự kinh khủng và bị giáng vậy.
Thiên Đồng
Còn sao thuộc Thủy này hiền hòa hơn, chủ về Phúc đức.
Là sao thuộc hành Thủy, Nam Đẩu tinh, Hóa Phúc chủ về Phúc đức.
Nhập miếu là người phì mãn, thanh cao, nhân từ, cảnh vẻ thẳng thắn. Gặp Thiên Lương và Hữu Bật người sinh năm Bính an Mệnh ở cung Tị Hợi Dậu thì được Tài Quan song toàn, Phúc đức lớn dày.
Ở Cung Mùi thì thứ cách. Ở cung Ngọ là hãm địa nhưng người sinh năm Đinh cũng tốt, nếu ở cung Hợi mà là người sinh năm Canh là hạ cách, lại gặp Dương Đà Linh kỵ xung hợp thì cô đơn phá tán và mắt có tật.
Đàn bà có sao Thiên Đồng tọa thủ Mệnh ở cung Miếu Vượng là Mệnh Phu, Vượng Phu Ích Tử, rất hiền năng, Mệnh cư Tị Hợi tuy đẹp mà dâm.
Cung Tý là vượng Ngọ là hãm người sinh Đinh Kỷ Quí Tân là Tài quan cách.
Cung Mão Dậu là hòa bình, người sinh Ất Bính Tân là Tài quan cách.
Dần là lợi, Thân là vượng cùng với Thiên Lương người sinh năm Ất Giáp Đinh thì phúc hậu.
Tị Hợi là nhập miếu, người sinh năm Nhâm Bính Mậu là Tài quan cách.
Thìn Tuất là hòa bình, người sinh năm Bính Đinh là lợi, người sinh năm Canh Quí là Phúc đức nhưng không bền.
Sửu Mùi là không đắc địa gặp Cự Môn, người sinh năm Ất Nhâm Giáp Tân Canh là Tài quan cách.
Nam Mệnh
Mệnh có Thiên Đồng tọa thủ là người tính ôn lương, Phúc lộc nhiều và sống lâu. Nếu ở nơi miếu vượng là hưởng thực Lộc nhiều và Vinh hiển.
Thiên Đồng gặp Cát tinh thì tính cách thông minh, trăm sự không qua mặt, trai thì hưởng lộc Trời, gái thì về đường chồng con được mỹ mãn.
Thiên Đồng thủ Mệnh lạc vào nhân và hãm địa, lại bị Hỏa Đà Sát hợp lại là hung hại.
Nữ Mệnh
Đàn bà là người thông minh lanh lợi, lại tương hội với Xương Khúc ắt được hưởng thiên lộc bất tuyệt.
Thiên Đồng ngộ Thái Âm, đàn bà mà gặp là người dâm đãng và xảo quyệt, y lộc sung túc nhưng về sau bất mãn, bỏ chồng và làm thiếp, cùng người thông dâm.
Nhập hạn
Hai bạn gặp Thiên Đồng là Hỉ khí dày nhà, vạn sự đều được hanh thông, vinh hiển, tài lộc gia phong nhà cửa thịnh vượng, phong phú.
Bị vào hãm địa phòng Ác Sát tinh sung hợp, làm việc thì trươc tốt sau hư hại, nên phòng quan tụng bị khuynh gia.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo
