Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Sao Thiên Đồng - Tử Vi Tinh Điển

Bản chất Thủy, hóa khí Phúc của sao Thiên Đồng, cách Càn cung phản bối, cách Mã đầu đới tiễn, cách Điệp Lộc, và các cách Thiên Đồng vào số nữ, số nam cùng loạt câu phú luận riêng.

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn04/09/202611 phút đọc4 lượt đọc
Sao Thiên Đồng - Tử Vi Tinh Điển

Thiên Đồng thuộc dương Thủy, hóa khí là "Phúc", chủ về phúc đức, thuộc Nam Đẩu hệ. Ở đắc địa thì người đầy đặn, vào hãm địa thì thấp nhỏ. Thiên Đồng gặp Đà La nơi Mệnh cung hay có tật ở mắt như lác, lé, cườm mắt.

Thiên Đồng thuộc hành Thủy nên cũng ưa động, nhưng là bị động chứ không chủ động, tâm thần không kiên nhẫn mà giao động, luôn luôn đổi ý. Thiên Cơ động một cách già dặn, kinh lịch; Thiên Đồng động một cách non nớt, ấu trĩ.

Thiên Đồng gặp Thiên Riêu thì tâm tình y hệt người đồng bóng, ưa giận dỗi, nay thế này mai thế khác. Số nữ có Thiên Đồng hiền thục mà khó chịu, dễ hờn mát. Thiên Đồng khoái hưởng thụ hơn phấn đấu. Chủ về Phúc nên đóng ở cung Phúc Đức kể như tốt nhất — cung Phúc Đức có sao Thiên Đồng thì đời sống mãi mãi sung túc, với điều kiện không đi cùng Cự Môn.

Điểm đặc biệt của sao Thiên Đồng là không sợ sát tinh, Hóa Kỵ — thậm chí dễ có thể dựa vào sát tinh, Hóa Kỵ làm khích phát lực, đẩy Thiên Đồng vào quyết liệt phấn đấu. Đó chính là lý do cổ nhân đưa ra câu phú: Thiên Đồng Tuất cung Hóa Kỵ, Mệnh ngộ phản vi giai (Thiên Đồng tại Tuất hội Hóa Kỵ thủ Mệnh biến ra tốt).

Đồng đóng cung Tuất yên vì
Hãm cung nhưng lại được bề hiển vinh
Nhờ sao Hóa Kỵ thêm xinh
Ấy là ưng hợp dễ thành giàu sang.

Cách Càn cung phản bối tại Tuất

Cách Thiên Đồng cung Tuất hội Hóa Kỵ, cổ thư gọi bằng "Càn cung phản bối". Không phải chỉ gặp Hóa Kỵ là đủ. Hóa Kỵ chỉ có tác dụng gây phản ứng, như kiểu thi trượt rồi đi lính mà lên tướng — nếu đỗ chắc thì cả ngày lại đi chạy trốn quân dịch. Ngoài Hóa Kỵ còn cần Cự Môn, Hóa Lộc, Văn Xương thì mới đến tình trạng bĩ cực thái lai, sức dồn ép đến mức cùng bật ngược trở lại.

Về cách "Càn cung phản bối" của Thiên Đồng tại Tuất đứng với Hóa Kỵ: cách này chỉ hiện lên với hai tuổi Tân và Đinh. Tuổi Tân, Hóa Kỵ theo Văn Xương đóng Tuất hoặc Thìn (tùy giờ sinh Tí hay Ngọ) — tuổi Tân, Cự Môn còn có cả Hóa Lộc nữa. Tuổi Đinh, Hóa Kỵ theo Cự Môn đóng Thìn — tuổi Đinh thì Thiên Đồng đứng bên Hóa Quyền. Khi giải thích về "Càn cung phản bối", cổ nhân viết câu: "Thiên Đồng tại Tuất, Đinh Tân nhân ngộ phản vi kỳ" là thế.

Thiên Đồng vốn cần đi với Hóa Lộc; nhưng ở trường hợp "càn cung", nó lại cần Hóa Kỵ để làm sức khích động — sức khích động ấy chuyển tình trạng bất lợi sang thuận lợi, chuyển hàn vi thành khá giả. Bĩ cực thái lai, cổ nhân ngầm bảo rằng cách Càn cung phản bối trước khi nên công phải bị đẩy vào chỗ bĩ đã. Thiên Đồng còn được ví như bạch thủ hưng gia (tay trắng làm nên), chính là rút tỉa từ cách "Càn cung" vậy.

Cách Càn cung phản bối, cổ nhân cho rằng không hợp với nữ mạng — đàn ông con trai phải thiên ma bách chiết mới nên việc, đàn bà mà như thế chẳng khác gì cô thôn nữ chất phác dấn thân vào chốn phồn hoa.

Chỉ thấy nói Thiên Đồng tại Tuất mới có cách phản bối, Thiên Đồng tại Thìn thì không — Đẩu Số Toàn Thư không giảng tại sao. Tuy nhiên có luận cứ của người đời sau cho rằng Thìn là cung Thiên La, Tuất là cung Địa Võng: đã thuộc Thiên thì hết khích động, phản ứng, chỉ có Địa tiếp xúc với cái thực tế trước mặt mới chịu khích động mà phản ứng. Luận cứ này cũng cho rằng Thiên La nên hiểu theo nghĩa chân trời, Địa Võng nên hiểu theo nghĩa góc biển — chân trời không tạo khích động lực như góc biển. Cái gì thuộc trời như đã an bài rồi, cái gì thuộc đất còn tiếp tục đấu tranh.

Cách Mã đầu đới tiễn tại Ngọ

Song song với cách Càn cung phản bối là cách Mã đầu đới tiễn (cung tên treo cổ ngựa). Mã đầu chỉ cung Ngọ, tiễn là Kình Dương — sao xung sát như mũi tên. Thiên Đồng đi với Thái Âm tại Ngọ mà gặp Kình Dương thì thành cách này; chỉ những người tuổi Bính, Mậu mới gặp Kình Dương tại đó. Phú nói: "Thiên Đồng Kình Dương cư Ngọ vị, uy chấn biên cương", nghĩa là Thiên Đồng đóng Ngọ cung gặp Kình Dương thì uy thế ra tới ngoài biên ải. Đừng nhầm hễ cứ thấy Thiên Đồng hội Kình Dương ở cung Tí mà cũng gọi bằng Mã đầu đới tiễn — cung tên chẳng thể treo ở cổ chuột.

Cách Điệp Lộc

Tử Vi Đẩu Số viết: "Người tuổi Bính an Mệnh Tị Hợi gặp Thiên Đồng, công danh tiền bạc tốt." Đó là cách Điệp Lộc (hai sao Lộc): Hóa Lộc tại Mệnh, Lộc Tồn từ cung xung chiếu Tị. Cách Điệp Lộc thì giàu có; nếu thêm Tả Hữu, Khôi Việt còn sang cả nữa.

Thiên Đồng đóng Dậu, người tuổi Bính cũng thành Điệp Lộc: Hóa Lộc tại Mệnh, Lộc Tồn từ cung Tài Bạch đúng cùng Cự Môn chiếu qua, Hóa Quyền đi theo Thiên Cơ chiếu lên — tiền bạc khá giả nhưng không hay bằng cách Điệp Lộc của Thiên Đồng Tị Hợi, bởi lẽ cả ba sao Đồng, Cơ, Cự đều không đắc địa.

Còn như Thiên Đồng tại Sửu mà tuổi Bính cũng điệp Lộc, thì Lộc Mệnh, Lộc Tồn ở cung Quan lại kém hơn — vì Cự Đồng đồng cung gây chướng ngại cả trên hoàn cảnh lẫn tính tình, và Lộc ở Quan chẳng bằng Lộc ở Tài Bạch.

Điệp Lộc còn vào người tuổi Đinh khi Thiên Đồng đóng Ngọ. Nên Tử Vi trong mục Tinh luận mới viết: "Đồng Ngọ hãm, Đinh nhân nghi chi" — Đồng Âm ở Ngọ vốn hãm địa, nhưng tuổi Đinh lại tốt vì có điệp lộc. Vậy Thiên Đồng vốn cần điệp lộc.

Tranh luận về tuổi Canh: Đồng Âm hay Âm Đồng

Với tuổi Canh, cách Thiên Đồng có một điểm nghi nan trên an bài tứ Hóa: tuổi Canh, Thiên Đồng gặp Hóa Kỵ hay Hóa Khoa? Là Nhật Vũ Đồng Âm hay Nhật Vũ Âm Đồng theo đúng trình tự của tứ Hóa? Không ai đủ uy quyền mà xác định — bên Trung Quốc đã bàn cãi nhiều, rút cục phe nào cũng làm theo ý phe ấy. Người trọng tài duy nhất chỉ là Trần Đoàn tiên sinh, mà tiên sinh thì chưa sống lại. Tuổi Canh hễ dính dấp đến Thiên Đồng là vấn đề khiến người luận đoán muốn nát óc, phải mượn tướng cách mà đoán thêm.

Toàn Thư viết: "Nhược tại Hợi địa, Canh sinh nhân hạ cục cách ngộ Dương Đà Linh Kỵ xung hội, tác cô đan phá tướng mục tật" — nghĩa là nếu Thiên Đồng đóng Hợi mà tuổi Canh thì xấu, lại gặp cả Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hóa Kỵ nữa thì cô đơn, phá tướng, có tật ở mắt (cận thị nặng hoặc đui mù). Vịn vào câu trên mà lập luận chắc Thiên Đồng tuổi Canh bị Hóa Kỵ nên mới thành hạ cục, thiết nghĩ không lấy gì làm rõ lắm — vì cũng câu trên lại dùng chữ "cánh ngộ" (lại gặp cả) Hóa Kỵ; nếu Thiên Đồng tuổi Canh đương nhiên đi với Hóa Kỵ thì cần gì phải dùng chữ "lại gặp cả" ấy nữa? Rõ ràng hơn, ở mục sắp xếp các sao thì chính Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư vẫn sắp Hóa Kỵ đứng bên Thái Âm:

Canh Nhật Vũ Đồng Âm vi thủ
Tân Cự Dương Khúc Xương chí.

Riêng theo cách hiểu này thì Đồng Âm mới đúng — bên Trung Quốc, Tử Vi thấu phái cũng chủ trương Âm Đồng.

Thiên Đồng vào số nữ

Vào số nữ, cổ nhân cho rằng không nên nếu Thiên Đồng đi với Thái Âm hay Thiên Lương: Đồng Âm ở Ngọ, ở Tí; Đồng ở Tuất hội chiếu Cơ Âm ở Dần; Đồng ở Dậu đối xung với Thái Âm tại Mão; Đồng đóng Mão, Thái Âm tam hợp từ Hợi; Đồng Lương cùng đóng Dần Thân; Đồng ở Tị Lương Hợi, Đồng Hợi Lương Tị.

Đẩu Số Toàn Thư viết: "Nữ mệnh bị sát xung phá ắt hình phu khắc tử, nguyệt lương xung phá và hợp thường làm thứ thất hay lẽ mọn." Sách trên cũng có câu "tuy mỹ nhi dâm" (tuy đẹp nhưng mà dâm). Thiên Đồng cung Tí là người đàn bà nhan sắc diễm lệ:

Đồng nguyệt Tí gái hoa dung
Gặp Tang Riêu Khốc, khóc chồng có phen.

Đồng Âm ở đây nếu bị Tang Môn, Thiên Riêu, Thiên Khốc thì thường ly phu, khắc phu, thậm chí sát phu. Đồng Âm ở Ngọ đa đoan, nhan sắc không đẹp bằng Đồng Âm cung Tí nhưng tính dục cực vượng thịnh. Đồng ở Dậu, Nguyệt ở Mão, hay Đồng ở Mão, Nguyệt ở Hợi, cũng đẹp và dâm như vậy.

Luận đoán những trường hợp này đặt trên căn bản ý chí lực và tình tự. Thiên Đồng chịu ảnh hưởng của Thái Âm làm cho ý chí lực bạc nhược; nếu bị Hỏa Linh xung phá nữa thì càng bạc nhược lại thêm bị kích thích. Thiên Đồng chịu ảnh hưởng của Thiên Lương đưa ý chí vào mộng cảnh; nếu bị Kình Dương, Đà La thì càng như sống trong mơ.

Chủ yếu khi luận đoán về Thiên Đồng là xét ý chí và tình tự. Ý chí với tình tự phải cân bằng thì khi vào nữ mạng cuộc đời mới yên ổn, thảnh thơi. Bị Thái Âm làm cho bạc nhược ý chí, bị Thiên Lương làm cho viển vông tình tự, đều không hay; nếu như lại chịu xung phá của Kình Đà, Linh Hỏa thì càng thêm phiền.

Thiên Đồng mừng thấy Khoa Lộc đi bên
Ý chí tình tự vừa đúng, thăng bằng.

Nếu Thiên Đồng gặp Hóa Quyền, Hóa Kỵ, Hóa Lộc, ý chí tình tự cũng mất thăng bằng, cũng như gặp Linh Hỏa, Thiên Lương, Thái Âm, Kình Đà. Cổ nhân cho rằng cơm no áo ấm quá tất nghĩ đến chuyện dâm dật.

Phú có câu: Nữ mệnh Thiên Đồng tức thị hiền (người nữ Thiên Đồng thủ Mệnh hiền thục). Nhưng Thiên Đồng không giản đơn như thế đâu — như cách Cự Đồng vào nữ mệnh thì tâm trạng không lúc nào hết thống khổ. Bản chất hiền thục tất cần an định, êm ả, không có khả năng chống chọi với phá phách, phiền nhiễu. Nên Thiên Đồng cần ý chí vững vàng, không bạc nhược, không quá khích; tình tự phải chân chất, không viển vông mơ ước hão. Bởi vậy Thiên Đồng sợ Hóa Kỵ, Kình Đà, Thiên Lương, Thái Âm, Hỏa Linh.

Thiên Đồng vào nam mạng

Thiên Đồng Thái Âm đi vào nam mạng thì sao? Thiên Đồng với Thái Âm ở Tí, Ngọ đều là con người hào hoa, đa tình. Thiên Đồng ở Dậu, Mão dễ vướng bẫy tình. Cự Đồng đóng cung Sửu Mùi ở nam mạng thì tầm thường, cuộc đời nhiều chướng ngại.

Những câu phú khác về sao Thiên Đồng

Thiên Đồng ngộ Kiếp Không bất cát. Thiên Đồng thủ Mệnh gặp Địa Kiếp, Địa Không thành xấu.

Đồng Âm Ngọ, Bính Mậu tuế cư phúc tăng tài hoạch, gia hãm Long Trì tu phòng mục tật. Đồng Âm đóng Ngọ, tuổi Bính, Mậu thì công danh phát đạt, tiền tài phấn chấn; ngại gặp Long Trì thì tất có tật ở mắt.

Đồng Âm tại Tí, nguyệt lãng thiên môn dung nhan mỹ ái; Hổ Khốc Riêu Tang xâm nhập chung thân đa lệ phối duyên. Đồng Âm thủ Mệnh tại Tí như mặt trăng sáng nơi cửa trời, nhan sắc xinh đẹp; nếu bị Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Riêu, Tang Môn xâm nhập thì dang dở, khổ tình hay góa bụa.

Phúc điệu phùng Việt điệu ư Tí cung định thị hải hà dục tú. Đồng Âm đóng Tí thủ Mệnh mà gặp Thiên Việt thì có vẻ đẹp sang trọng, uy nghi.

Phúc điệu nhi ngộ Cự Môn thê nhi lãng đãng. Thiên Đồng Cự Môn đồng cư thủ Mệnh thì lận đận cuộc đời; nhưng Thiên Đồng Cự Môn đóng ở cung phối ngẫu thì hoặc muộn chồng, muộn con, hoặc gãy đổ duyên tình.

Đồng Lương viên, ngộ Khôi Quyền tăng phùng Linh Kỵ, giao lai song Lộc doanh thương dị đạt phú cường. Đồng Lương đóng Mệnh, gặp Thiên Khôi, Hóa Quyền lại có Linh Tinh, Hóa Kỵ và song Lộc chiếu, thì làm thương mại dễ nên giàu.

Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn