Bài tổng quan
Sáu sao Phủ, Âm, Tham, Cự, Tướng, Lương khi ngồi vào cung Mệnh
Có người sinh ra cạnh cái kho vững mà về già lại hỏng, có người đẹp và nhiều tình mà mất người thân từ sớm, có người miệng tài đến mức được cả cấp trên tin cậy, lại có người chỉ cần cơm no áo đủ và một bàn ăn ngon. Sáu ngôi sao ấy đổi chỗ ngồi thì đời người đổi hướng…
Mục lục · 6 phần
- 01Thiên Phủ tọa Mệnh: chiếc kho vững vàng nhưng dễ đóng cửa quá chặt
- 02Thái Âm tọa Mệnh: ánh trăng dịu dàng, tình cảm và những mất mát sớm
- 03Tham Lang tọa Mệnh: miệng tài, hứng thú rộng và cái giá của sự phong lưu
- 04Cự Môn tọa Mệnh: cái miệng sắc và sự do dự của kẻ nhiều nghi
- 05Thiên Tướng tọa Mệnh: dáng người đôn hậu, lòng ưa cái đẹp và bàn ăn
- 06Thiên Lương tọa Mệnh: bóng cây che chở và những cung khiến người lưu lạc
Thiên Phủ tọa Mệnh: chiếc kho vững vàng nhưng dễ đóng cửa quá chặt
Thiên Phủ ngồi một mình ở bốn cung Mão, Dậu, Tỵ, Hợi. Kho đầy hay kho rỗng tùy người ấy sinh năm nào và gặp sao gì đi cùng.
Thiên Phủ ở Mão, Dậu, Tỵ, Hợi
Người sinh năm Ất, Bính, Tân thì tài lộc và quan chức đều đẹp. Người sinh năm Kỷ thì chủ quý. Người sinh năm Giáp, Canh thì không quý, trước lớn sau nhỏ, có đầu không đuôi. Giàu tri thức, giỏi tùy cơ ứng biến. Nữ mệnh hợp làm phụ nữ có nghề nghiệp, là hiền thê lương mẫu. Môi hồng răng trắng, tính tình ôn hòa, trời sinh thông minh, chân đạp đất thực.
Gặp bảy cát tinh thì vận thi cử tốt, dự các kỳ thi đều đậu được, và đại phú. Gặp Lộc Tồn thì phú quý. Gặp sáu sát tinh thì thuở trẻ mệnh tốt, về già lại hỏng; mọi việc đều oán trời trách người; nam mệnh hiếu sắc, có tài cán, nói với phụ nữ lời hoa mỹ ngọt ngào để làm mê hồn, lừa tình; đi vào đường bàng môn tả đạo, kiếm tiền bất chính.
Thiên Phủ ở Sửu, Mùi
Bảo thủ, cẩn thận quá độ. Hay thấy cái khác mà đổi ý, không thể có đầu có đuôi. Cuộc sống thoải mái. Gặp bảy cát tinh thì dự thi có thể đỗ với thành tích ưu dị, làm quan lớn. Gặp sáu sát tinh thì cả đời bình thường, cô độc, gian trá.
Thái Âm tọa Mệnh: ánh trăng dịu dàng, tình cảm và những mất mát sớm
Trăng sáng mà lạnh. Người có Thái Âm ở Mệnh phần nhiều đẹp, sạch sẽ, nhiều tình, nhưng cũng hay mất người thân từ sớm hoặc mất người yêu giữa đường.
Thái Âm ở Mão, Thìn, Tỵ
Phối ngẫu chết trước, bản thân thọ nguyên cũng không dài. Sớm rời nhà, hoặc làm con thừa tự nhà khác. Nếu Thân cùng cung với Mệnh thì trên nhà có "hai mẹ". Nam mệnh anh tuấn, nữ mệnh dung mạo đẹp. Ưa sạch sẽ. Học thức phong phú, là nghệ thuật gia bẩm sinh, có sức sáng tạo phong phú. Thích cuộc sống lãng mạn. Có bệnh về tuyến, sức khỏe không tốt.
Nữ mệnh rất lãng mạn, đời người cô quạnh, tình ái phong phú nhưng thường bị người yêu bỏ rơi; phần nhiều làm tình nhân của người đàn ông đã có vợ, hoặc sa vào phong trần.
Gặp tứ sát thì chân tay thân thể thương tàn, thích rượu sắc, đời sống tình dục quá độ, chết yểu. Gặp Xương, Khúc thì giác quan thứ sáu rất nhạy, nên nghiên cứu siêu tâm lý học, làm nhà tôn giáo, thầy tướng số, nhà kỹ thuật đặc biệt. Gặp bảy cát tinh thì lòng dạ thiện lương, ôn hòa.
Thái Âm ở Dậu, Tuất, Hợi
Cả đời vui vẻ, thuở trẻ đắc chí, kết hôn sớm. Cả đời nhiều đào hoa, duyên đẹp bất ngờ, tình cảm nhiều phiền não. Nữ mệnh xinh đẹp, ôn nhu, hiền thục, đại phương, có lễ, thông minh năng cán, giỏi việc nhà, là hiền thê lương mẫu. Thích văn nghệ, triết học, học vấn uyên bác. Có thể ngóc đầu lên. Khoan hồng đại lượng, ưa sạch sẽ. Nam mệnh hướng nội, tình cảm phong phú, giỏi suy nghĩ cơ trí, thông minh, hiểu ý người. Nên làm văn học gia, nghệ thuật gia, thi nhân.
Gặp sáu sát tinh thì rất có tài cán, phong lưu, văn chương thi ca đều đầy thi ý, lãng mạn, nam nữ đều có đào hoa, duyên ngoài, chỉ nhiều chuyện tình cảm rắc rối. Gặp bảy cát tinh thì có phú quý; nữ mệnh càng tốt, sẽ gả được người chồng tốt, có địa vị mà lại giàu có.
Tham Lang tọa Mệnh: miệng tài, hứng thú rộng và cái giá của sự phong lưu
Tham Lang khéo ăn nói, khéo đối nhân. Tham Lang cũng là sao của cơn mê: mê người, mê rượu, mê cái lợi nhỏ trước mắt.
Tham Lang ở Tý, Ngọ
Miệng tài giỏi, rất biết đối nhân xử thế. Phúc như Đông Hải, thọ như Nam Sơn. Hứng thú rộng; ở cung Ngọ gặp Dương Nhận thì có phú quý.
Gặp Xương, Khúc thì có nạn nước: khi lưu niên hay đại hạn, tiểu hạn gặp thì không được xuống biển bơi lội, người làm thuyền không được lên thuyền. Người này mọi việc không so đo, việc qua không nhớ thù, nhiều hư ít thực. Gặp Dương, Đà thì dễ bị người khác phái dụ dỗ, đời sống tình dục quá độ; hợp làm bác sĩ ngoại khoa, nghề giết mổ, chế biến thịt. Gặp bảy cát tinh thì có tài vận. Gặp Không, Kiếp thì tham nhỏ mất lớn. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì bất ngờ phát tài (lấy năm Mậu, Tham Lang hóa lộc làm chuẩn).
Tham Lang ở Dần, Thân
Tính toán quá đáng, đến mức mất cơ hội và mất tín dự. Đa tài đa nghệ. Chí cao khí ngạo. Có hứng thú với chính trị.
Gặp tứ sát thì thị phi nhiều, thường bị phiền nhiễu, tổn thất tiền bạc và hao tổn tinh thần (ở cung Dần gặp Đà La thì là tài tử phong lưu). Gặp bảy cát tinh thì cả đời bình thường. Gặp Xương, Khúc thì mọi việc không so đo, việc qua không nhớ thù, nhiều hư ít thực. Gặp Đà La thì người xưa gọi là "phong lưu thái trượng", vì người khác phái mà phát sinh vấn đề pháp luật, đời sống tình dục quá độ.
Tham Lang ở Thìn, Tuất
Thọ như núi Nam, phúc như Đông Hải. Nữ mệnh tình cảm nhiều trắc trở. Gặp hóa kỵ thì có thú ham chính đáng, có kỹ thuật chuyên môn. Gặp Dương, Đà thì dễ có tranh chấp về tài vụ. Gặp Không, Kiếp thì tham nhỏ mất lớn.
Cự Môn tọa Mệnh: cái miệng sắc và sự do dự của kẻ nhiều nghi
Cự Môn đứng ở Tý, Ngọ thì sáng suốt, nhạy bén, được tin cậy. Đứng ở Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi thì thành người do dự, hay ngờ, sống cho qua ngày.
Cự Môn ở Tý, Ngọ
Rất có tài cán, cần mẫn tự khích lệ. Vóc người khôi ngô, thanh tú. Đầu óc sáng rõ. Nên nghiên cứu học thuật hoặc pháp luật. Chưa từng làm việc qua loa, rất được cấp trên tín nhiệm. Miệng tài giỏi, giỏi lời lẽ. Ánh mắt sắc, trí nhớ tốt. Có tâm nghiên cứu mạnh, quan sát tỉ mỉ sâu sắc. Khoan hồng đại lượng. Nữ mệnh sinh năm Quý, Tân thì phúc hậu.
Gặp Tả, Hữu thì trường thọ. Gặp Dương Nhận, Không, Kiếp thì chết yểu giữa tuổi thanh xuân. Gặp tứ sát thì tình cảm trắc trở. Gặp bảy cát tinh thì có thân phận, miệng tài đặc biệt tốt, hợp ngoại giao hoặc truyền thông, nghệ thuật, có phú quý, hoặc thành diễn viên nổi tiếng, nghệ sĩ nổi tiếng.
Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi
Thiếu khí phách, làm việc do dự không quyết, dịu dàng ít quyết đoán, cả đời khẩu thiệt thị phi. Sống buông thả, vất vả, tâm nổi khí gắt. Người sinh năm Tân, Quý thì chủ quý. Lòng chứa đố kỵ, hay ngờ vực, thiếu nhẫn nại.
Gặp sáu sát tinh thì có thể tự kết liễu, chết yểu; cố ý không nói lý, hôm nay có rượu hôm nay say; tranh chấp nhiều, có chuyện đau lòng, thất tình. Gặp bảy cát tinh thì cả đời bình thường. Gặp Dương, Đà thì đời sống tình dục không bình thường, đối với tình yêu không chuyên, sớm ba chiều bốn. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chết nơi xa.
Thiên Tướng tọa Mệnh: dáng người đôn hậu, lòng ưa cái đẹp và bàn ăn
Thiên Tướng ít gây sóng gió: cơm áo đủ đầy, nhân duyên tốt, nói năng không cay nghiệt. Cái cần xem là sao nào đi cùng.
Thiên Tướng ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi
Tướng mạo đôn hậu, không nói lời khắc bạc chua cay. Tính tình ôn hòa. Cả đời cơm no áo đủ. Nhân duyên tốt, phong độ tốt, cử chỉ cao nhã. Ưa những thứ đẹp đẽ trên đời, chuộng thời thượng, rất hiếu khách, tinh tường đạo ăn uống. Phú quý song toàn. Nữ mệnh có vận giúp chồng, có chí khí, thông minh đoan trang.
Gặp bảy cát tinh thì tài lộc và quan chức đều đẹp, có quyền uy. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tàn tật. Gặp sáu sát tinh thì nên làm nghề tay khéo để mưu sinh.
Thiên Tướng ở Mão, Dậu
Nên kinh doanh buôn bán nhỏ. Bảo thủ, không thích ra mặt. Gặp bảy cát tinh thì cát lợi. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tàn tật. Gặp sáu sát tinh thì dựa vào nghề khéo mà yên thân.
Thiên Lương tọa Mệnh: bóng cây che chở và những cung khiến người lưu lạc
Thiên Lương đứng ở Tý, Ngọ thì thanh liêm, có tài lãnh đạo, được lòng người. Đứng ở Tỵ, Hợi lại thành người trôi dạt, tình ái không chuyên.
Thiên Lương ở Tý, Ngọ
Quan vận hanh thông, là vị quan thanh liêm. Có tài lãnh đạo sâu sắc, bình dị, dễ gần gũi người. Đức cao vọng trọng, rất được lòng người. Mưu sâu lo xa, tùy cơ ứng biến. Thiên tính trung hậu, có lòng trắc ẩn. Thích nghiên cứu triết học. Thông minh cương trực, gặp việc quyết đoán. Năng lực mạnh, miệng tài giỏi, phản ứng nhạy bén. Nữ mệnh hợp làm phụ nữ có nghề, có chí khí.
Người này có tài hoa, thẳng thắn sảng khoái, không đứng sau lưng phê bình chuyện phải trái của người khác, cũng không vì việc vặt mà khổ não; có phú quý, vượng phu ích tử, vui giúp người. Cả đời phúc thọ song toàn, thọ như núi Nam, không sợ hung nguy.
Gặp bảy cát tinh thì có thể đại triển hồng đồ ở chính giới hoặc giới tài chính kinh tế, ra tướng vào tướng; nữ mệnh khỏe mạnh trường thọ, chủ được phong tặng. Gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì có thể làm danh y, luật sư nổi tiếng, kỹ sư nổi tiếng, chuyên gia. Gặp Văn Xương, Lộc Tồn thì vận thi cử tốt, đỗ đầu bảng.
Thiên Lương ở Sửu, Mùi
Thông minh, thẳng thắn. Người sinh năm Mậu thì đại quý. Người sinh năm Ất, Nhâm thì tài lộc và quan chức đều đẹp. Thọ như núi Nam. Nếu Thái Dương, Thái Âm không có tứ sát đồng cung thì người sinh năm Ất, Bính, Đinh, Tân phú quý.
Gặp sáu sát tinh thì cả đời bình thường. Gặp bảy cát tinh thì có phú quý, có danh tiếng, cả đời phúc thọ, ra tướng vào tướng. Gặp Xương, Khúc thì xuất đầu vinh hoa. Gặp Văn Xương, Lộc Tồn thì thi cử chiếm đầu bảng.
Thiên Lương ở Tỵ, Hợi
Nam mệnh phiêu đãng, nữ mệnh hiếu sắc. Nữ mệnh nhu cầu tình dục nhiều, cô độc, nghèo khốn, tình ái không chuyên, sớm ba chiều bốn, hợp làm vợ lẽ.
Gặp sáu sát tinh thì cô quả, chết yểu, cam chịu sa đọa, khắc phối ngẫu và con cái, mệnh lao lực, nên dựa vào tay nghề mà mưu sinh. Gặp bảy cát tinh thì cả đời bình thường. Gặp Thiên Mã thì lưu lãng khắp nơi.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.
