Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân, Xương Khúc, Tả Hữu, Lộc Tồn

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề30/09/202617 phút đọc3 lượt đọc
Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân, Xương Khúc, Tả Hữu, Lộc Tồn

Thiên Lương hậu trọng, thanh tú, ưa làm phúc bố thí nên sống lâu. Thất Sát thì mắt to, tính mau mắn, vui giận bất thường. Còn Phá Quân là sao ít người đương nổi, chỉ hỉ gặp Khoa Quyền Lộc…


Thiên Lương

Là Nam Đẩu tinh thuộc Thổ, hóa Âm chủ Thọ, người hậu trong thanh tú, thông minh, cảnh vẻ, ngay thẳng không có khuất khúc, ưa làm phúc bố thì sống lâu. Gặp Thiên Cơ là ở nơi “Hàn uyển dâm Binh” là người mưu sĩ xuất phàm có Tả Hữu Xương Khúc gia hội là số người Xuất Tướng Nhập Tướng. Được nhập miếu là cách Phú Quí. Nếu ở hãm địa ngộ Hỏa Dương là Phá cục là cách Hạ Tiện, cô quả yểu bần, Phùng Thiên Cơ Hao Sát là người thanh nhàn tăng đạo, nếu không thì bị chế khắc.

Người sinh năm Lục Nhâm an Mệnh ở Hợi Mão Mùi có Thiên Lương tọa thủ thì Phú Quí song toàn.

Đàn bà có Thiên Lương an Mệnh thì có chí khí như đàn ông, nhập miếu thì Phú quí, ở Hãm địa gia Sát thì thương Phu khắc Tử và dâm đãng.

Cung Tý Ngọ là nhập miếu, người sinh năm Đinh Kỷ Quí thì Phúc hậu, là Tài cách.

Cung Mão là nhập miếu, cung Dậu đắc địa gặp Thái Dương người sinh năm Ất Nhâm Tân là Tài Quan cách.

Cung Dần nhập miếu, cung Thân là Hãm địa gặp Thiên Cơ người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh là Tài Quan cách.

Cung Thìn Tuất là nhập miếu gặp Thiên Cơ người sinh năm Đinh Kỷ Nhâm Canh là Tài Quan cách.

Cung Sửu Mùi nhập miếu là người sinh năm Nhâm Ất là Tài Quan cách, người sinh năm Lục Mậu thì Đại quí.

Nam Mệnh

Sao Thiên Lương là sao Trung Cường (cương vừa). Hình thần ẩn trong, tính ôn lương, hội có Tả Hữu Xương Khúc là người được Phú Quí, làm quan trong triều đình. Thiên Lương là Thọ Tinh gặp Cơ Nhật Tả Hữu Văn Xương nhập miếu ở cung Tý Ngọ Dần là làm quan thanh hiển đến Tam Công.

Gặp Hỏa Tinh lạc ở nhàn cung, có Đà Sát nữa thì hung cô hình, dại tật, phá gia tài chỉ nên làm Kỹ nghệ không thì ở Không Môn.

Cơ Lương cư Thìn Tuất làm quan không phải chức nhỏ, gặp Phá Quân Mão Dậu phải người lương thiện, Đàn bà gặp là người cô độc, khắc tử hình phu chủ lãnh phòng (phòng lạnh lẽo là góa bụa).

Hạn

Thiên Lương hòa với Cát tinh, hai hạn mà gặp ắt được phúc nhiều, lại ở cung miếu vượng thì quí đến cực phẩm, làm Đống Lương trong nước.

Hạn đến Thiên Lương thật là hiền lương như mùa thu bông cúc trổ mùi hương, làm quan thì được thăng chức và thêm lương lộc, thứ dân thì lương tiền no đủ.

Hạn gặp Thiên Lương thì Thọ, làm việc cầu mưu ắt cát xương. Nếu gặp Hỏa Linh Dương Đà, nên phòng sự khuynh gia bại sản

Thất Sát

Sao tướng của Nam Đẩu, Hỏa đái Kim, đến đâu cũng mang khí sát.

Là Nam Đẩu tướng tinh, thuộc Hỏa đái kim, gặp Tử Vi là Quyền tính, còn dư là Sát tinh, người mắt to, tính mau mắn bất thường, vui giận bất nhất, làm việc lui tới thì trầm ngâm.

Ở cung Miếu Vượng là người có mưu lược. Gặp Tử Vi là người có Quyền Bính về Bịnh bị làm Vũ chức thì lợi gặp thêm Tả Phù, Xương Khúc Khôi Việt thì vị đến Cực Phẩm. Lạc vào cung có Không Vong thì lại không có uy lực ngộ hung tinh ở cung sinh nó thì làm Đồ Tể, hội với Hình Tú là bị thương khắc.

An Mệnh ở cung Dần Hợi Tị Ngọ người sinh năm Đinh Kỷ thì hợp cục. An ở cung Thân người sinh năm Lục Canh thì Cát nếu ở cung Tý Ngọ Dần thì không hợp, người sinh năm Nhâm Canh Ngọ Tuất, lục Bính lục Mậu thì Trung bình. Có Dương Đà Hỏa Linh xung hội, tại hãm địa thì tàn tật, và là Hạ cục, tuy Phú phí mà không lâu.

Đàn bà Mệnh có Thất Sát nhập miếu gia Quyền Lộc thì vượng phu ích tử, ở hãm địa ngộ Dương Hỏa thì thương khắc, hạ tiện.

Cung Tý Ngọ là Vượng địa, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp là Tài Quan cách.

Cung Mão Dậu là Vượng địa có Vũ Khúc người sinh năm Ất Tân là Phúc hậu Tài Quan cách.

Cung Dần Thân là nhập miếu người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là Hòa bình gặp Tử Vi đồng cung người sinh năm Bính Mậu Nhâm là Phúc hậu.

Cung Thìn Tuất nhập miếu gia Cát tinh là Tài quan cách.

Cung Sửu Mùi là miếu gặp Liêm Trinh gia Cát tinh là Tài quan cách.

Nam Mệnh

Sao Thất Sát ở cung Tý Ngọ Dần Thân là bực anh hùng, Tây man di phải chắp tay bái phục (đây chỉ man di hướng Tây, hướng Tây thuộc Kim: Thất Sát là Hỏa khắc Kinh, nên nói Tây Man di sợ vậy - Học giả nên lấy đó làm ví dụ để luận bàn những chỗ thắc mắc và nhờ đó Lý Học ắt rõ ràng và có thể đưa các bạn lên đến bậc Cao Siêu).

Gặp Tả Hữu Khôi Việt Xương hội có Khoa Lộc thì danh cao, lương lộc đến muôn chung.

Sát ở Hãm địa thì sự hung họa không thể nói được như ôm hổ ngủ, nếu Sát mà cường mạnh thì không có gì chê nổi, thiếu niên ắt bị chết đuối ở Hoàng Tuyền. Thất Sát tọa Mệnh lạc nhàn cung gặp Cự Dương Đà chiếu xung hợp nếu không bị thương tổn chân tay thì đến gẫy xương chỉ có tăng đạo ở cửa Thiền thì mới hưng long.

Nữ Mệnh

Nữ Mệnh mà gặp Sao Thất Sát, thì bình sinh làm việc rất thông minh, khí cao trí lớn, không thua bậc mày râu. Lạc vào Hãm địa thì không tránh khỏi hình phu, khổ sở đắng cay. Thất Sát là Cô tinh gặp Tham Lang ngộ Hỏa Đà không được Quí đàn bà mà gặp là bất lương, chủ thay chồng hay làm nô tỳ.

Hạn

Nhị hạn phùng Thất Sát miếu vượng là gia đạo được hòa khí phát đạt, đối cung có Thiên Phủ chính chiếu lại, sĩ hoạn ắt được hiển đạt.

Hãm địa thì nhiều chuyện buồn bực, làm việc gian nan rất thất bại, nếu trong cung lưu bạn lại có ác tinh nữa là chủ quan tai nhiều bệnh tật.

Phá Quân

Còn sao thuộc Thủy này là sao hao tinh, ít giao du, ưa tranh đấu.

Là Bắc đẩu tinh thuộc Thủy, hóa Hao Tinh chủ Thê Tử, Nô Bộc. Người hình ngũ đoản, lưng đầy, mi thưa, lưng vẹo, tính cương, ít giao du, tranh đấu, cưỡng bỏ tổ tông, phát phúc thích săn bắn.

Hỉ gặp Tử Vi vị chí Tam Công người sinh năm Bính Mậu Dần Thân, Mệnh tọa cung Tý Ngọ có Phá Quân thì cô đơn tàn tật, tuy Phú Quý nhưng không lâu, yểu triết. Người sinh năm Bính Mậu, Mệnh tọa Thìn Tuất Sửu Mùi gặp Tử Vi thì được Đại phú quí, ngộ Liêm Trinh Dương Đà Hỏa Linh ở Hãm địa là người thích tranh đấu, nhiều tật bịnh nên đi tư.

Đàn bà an Mệnh ở cung Tý Ngọ nhập miếu thì có Tật bịnh, Hãm địa gia Sát là Hạ tiện dâm dục.

Cung Tý Ngọ là nhập miếu, người sinh năm Đinh Kỷ Quí là phúc hậu, người sinh năm Bính Mậu là khốn cùng.

Cung Mão là lợi Dậu là đắc địa gặp Liêm Trinh, người sinh năm Ất Tân Quí thì Lợi ích, người sinh năm Giáp Canh Bính thì không bền.

Cung Thìn Tuất là Vượng địa, người sinh năm Giáp Quí là Phúc.

Cung Dần Thân là Hãm địa, người sinh Giáp Canh Đinh Kỷ là Tài Quan cách.

Cung Sửu Mùi là Vượng địa gặp Tử Vi, người sinh năm Bính Mậu Ất là Tài Quan cách.

Cung Tị Hợi là Hòa bình người sinh năm Mậu là Phúc Hậu

Nam Mệnh

Mệnh có Phá Quân, Thất Sát hội với Tham Lang ở cung nhập miếu là người anh hùng của thế hệ không ai đương đầu nổi.

Mệnh của Quan Vân Trường gặp Phá Quân nên làm Thượng Tướng, người thường thì giàu có, ruộng nương nhà cửa nhiều.

Phá Quân ở cung Tý Ngọ hội với Văn Xương Tả Hữu đều nhập miếu là người rất khẳng khái, tài bạch phong dinh, làm tướng phó tá Quân Vương.

Phá Quân là sao ít người đương nổi, hỉ gặp Khoa Quyền Lộc, nếu ở Hãm địa lại Gia Sát là người bỏ tổ tông Xuất ngọai, không nên an nó ở cung Thân (Mệnh) gặp Liêm Hỏa Dương Đà hội lại thì hung hại, không bị tai ương tàn khốc thì yểu triết.

Nữ Mệnh

Phá Quân ở cung Tý Ngọ là nhập miếu, đàn bà gặp thì được Phúc Thọ, tính cách hơn người nhưng hay thay đổi, vượng phu ích tử, danh tiếng lẫy lừng.

Đàn bà không nên gặp Phá Quân ở Mệnh lạc hãm, lại gặp Kình Dương ắt rất Hung, khắc hại chồng hiền không phải chỉ một lần, nên “chiều chiều sầu cảm khóc thầm thương”.

Hạn

Hạn gặp Phá Quân nên suy cho kỹ, miếu vượng thì được Phúc Lộc xương, lại gặp Xương Khúc Khôi Việt hạn gặp thì cực kỳ là Vinh quang, gặp Sát thì phùng sự phá bại, nên phòng Thê Tử hay mình có khi chết.

Hạn gặp Phá Quân về đàn bà thì chủ về máu huyết, hãm địa thì chủ sự mất mác trái lòng không thể nói được, đàn bà sợ có đại tang, không thì bị nạn về sanh đẻ gặp tai ương.

Văn Xương

Từ chiến trường bước vào trường thi, có sao mắt sáng, cơ sảo, học hành lỗi lạc.

Là Nam Bắc đẩu tinh thuộc Kim, là Văn Khôi Tinh, Mệnh có Văn Xương tọa thủ là người có cặp mắt thanh tú phân minh, cơ sảo học hành lỗi lạc, hội với Thái Dương, Lương Lộc Tồn ở Tài Quan hợp chiếu thì Phú quí, trước khó sau dễ. Ở Hãm địa gia Dương Hỏa là người làm công nghệ khéo, ngộ Kình Đà Linh là đái tật cũng được sống lâu, mặt dỗ, ở Vượng Địa thì có nốt ruồi kín.

Đàn bà Mệnh nhập miếu vượng thì bình thường, gia cát tinh thì phú quí. Ở Hãm địa ngộ Hỏa Dương Cự Cơ Sát Kỵ là hạ tiện, dâm dục ca kỹ, nô tỳ.

Cung Dần Ngọ Tuất là hãm địa, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh là Tài quan cách.

Cung Thân Tý Thìn là đắc địa, người sinh năm Quí Canh Giáp là Quí cách.

Cung Tị Dậu Sửu là nhập miếu người sinh năm Ất Mậu Tân là Đại quí.

Cung Hợi Mão Mùi là lợi ích người sinh Ất Mậu là Tài quan cách.

Nam Mệnh

Ở cung Vượng Địa Mệnh có Văn Xương tọa thủ là có Tài cao Trí lớn đáng muôn kim, văn nghệ tinh hoa tám tráng đại là cách “Bình Bộ thượng Thanh Vân” (đi bộ lên được mây xanh, phát Công khanh dễ dàng).

Văn Xương thủ Mệnh thì thật là phi thường, hạn đến thì không sợ yểu thương mà lại Phúc thọ lâu dài, chỉ sợ hạn xung phùng Hỏa Kỵ nếu không yểu triết ắt bị hình thương.

Nữ Mệnh

Nữ nhân Thân Mệnh có Văn Xương là người đẹp đẽ thanh kỳ, phúc lại bền, tam hợp đối xung có Tử Phủ chiếu ắt được Phú quí và phong tặng.

Văn Xương cư Mệnh lại ngộ Liêm Trinh ở Hãm địa lại có Hình Hỏa Kỵ nếu không hóa chồng thì ắt yểu vong.

Hạn

Sao Văn Xương là sao rất thanh tú, hàng sao thứ nhì của Đẩu Số, nếu gặp Thái Tuế trong hai hạn là học trò chiếm Bảng vàng. Nếu hạn không đắc địa lại có Dương Đà Hỏa Linh Kỵ thì bị quan tụng khẩu thiệt mà phá tán gia tài chưa hết hình thương lại bị nhiều sự che ám đình trệ.

Văn Khúc

Đi cùng Văn Xương là một sao thuộc Thủy, tượng cho khoa giáp.

Là Bắc Đẩu tinh thuộc Thủy, là Tý Khoa Giáp

An Mệnh cùng với Văn Xương gặp Cát tinh chủ người Khoa Bảng. Tọa một mình ở Thân Mệnh lại có Ác Sát hợp lại là người không có tên tuổi, hèn kém phụ tiếp người sinh năm Lục Giáp, an ở cung Tị Dậu Sửu là Quí cách làm đến Hầu Bá. Lại cùng với Tham Lang Hỏa Tinh đồng cung hay tam hợp ở Miếu Vượng Địa là Mệnh Lưỡng Tướng.

Nếu gặp Vũ Tinh Phá Sát lâm ở Hãm địa là táng Mệnh chi ách (chết non)

Có Đồng Lương Vũ hội ở vượng cung là người thông minh quả quyết. Như gặp Dương Đà Hỏa Linh xung phá chỉ nên đi tu.

Ở Vượng địa thì có nhiều nốt ruồi kín, hãm địa thì mặt bị rỗ hay nhiều sẹo.

Đàn bà Mệnh nhập miếu địa có Văn Khúc tọa thủ là người thanh tú, nếu ở hãm địa có Cự Hỏa Kỵ Cơ chiếu hội, có Tham Phá đồng cung xung phá là người hạ tiện, cô quả, dâm dục.

Cung Dần là bình hòa, Ngọ Tuất là hãm địa người sinh năm Giáp Canh là Tài Quan cách.

Cung Thân Tý Thìn là đắc địa người sinh năm Đinh Quí Tân Canh là phúc hậu

Cung Tị Dậu Sửu là nhập miếu, người sinh năm Tân gặp Tử Vi là Đại phú quí.

Cung Hợi Mão Mùi là vượng địa, người sinh năm Tân Bính Nhâm Mậu là Tài quan cách.

Nam Mệnh

Văn Khúc thủ Mệnh thì người hiền lành, tướng mạo đường đường trí khí hiên ngang. Là Sĩ Thứ gặp thì được Phúc hậu, người Trượng Phu ắt được phong tặng Kim chương. Nếu gặp Hỏa Kỵ và Ác tinh tụ hội là người bẻm mép hay nói, chỉ ở “Không môn” thì được Quí hiển.

Nữ Mệnh

Đàn bà Mệnh có Văn Khúc là người tướng mạo thanh kỳ phúc hậu, thông minh lanh lợi không phải là người tầm thường. Nếu bị Hãm địa gặp Sát Tinh thì bỏ chồng và dâm dục.

Hạn

Hai hạn gặp Văn Khúc, Sĩ Thứ thì phát phúc, lại có Tả Hữu Thiên Đồng hội chiếu thì tài lộc thao thao bất tuyệt là Thượng Cục.

Hạn có Văn Khúc có cả Liêm Dương Đà lạc hãm nếu không phải tai ắt họa ương.

Nếu Mệnh ở nhược cung ắt năm đó chết.

Tả Phụ

Sau các chính tinh còn những sao phò tá, hiền như Tả Phụ, phó tá lệnh quân vương.

Là Nam Bắc đẩu tinh thuộc Thổ là sao Thiện, phó tá Lệnh Quân Vương. Nếu gặp Phủ Tướng Xương Tham Vũ hội lại, hay có Hữu Bật đồng cung thì đại Phú Quí, Tài Quan song mỹ. Nếu gặp Dương Đà Hỏa Kỵ là Trung cục, ở cung Vượng là có nốt ruồi. Gặp Tam Sát ở hãm địa gia Cự Môn Thất Sát, Thiên Cơ là Hạ cục.

Đàn bà Tả Phụ thủ Mệnh có Cát tinh thì vượng phu ích tử, làm Tăng đạo thì thanh khiết.

Nam Mệnh

Tả Phụ là Tôn Tinh hay dáng phúc, là người long lưu đôn hậu, thông kim bác cổ, có Tử Phủ Quyền Lộc Tham Vũ hội lại, làm Văn quan, Vũ chức đều là thanh quí.

Gặp Dương Đà Hỏa Linh ba phương chiếu lại, nếu có Tài Quan lại không phải triệu cát tường, lại gặp Liêm Phá Cự xung lại, nếu không bị thương tàn ắt bị yểu vong.

Nữ phùng Tả phụ chủ người hiền hậu hay làm lụng siêng năng, có trí khí cao, lại hợp với Tử Vi và Thiên Phủ ắt được phong tặng kim khôi vinh diệu.

Gặp Hỏa Đà thì bất lương, gặp Thất Sát, Phá Quân thọ không lâu, số phải bỏ chồng mới được phú túc người thông minh, về già còn lắm kẻ chuộng người yêu.

Hạn

Hạn gặp Tả Phù thì Phúc đầy, người thường thì giàu có thiên kim. Làm quan mà lại có Khoa Quyền chiếu thì chức vị được thăng lên Phò Tá Thánh Quân.

Không nên gặp Sát tinh chủ bi ai, sầu khổ, gặp Hỏa Linh Không Kiếp thì tài phá nhân vong, công việc xung bại.

Hữu Bật

Bên Tả Phụ có Hữu Bật, cũng là sao thiện, phò tá lệnh Tử Vi.

Là Nam Đẩu tinh thuộc Thổ, sao Thiện, là sao phò tá các lệnh của Tử Vi.

Nhập miếu thì được hậu trọng thanh tú, cảnh vẻ thẳng thắn tâm tính khoan hồng, ưa điều phước thiện, người đa mưu túc kế, ở vào các cung khác là đáng phúc. Ở vào Tứ Mộ lại càng tốt thêm, nếu hội với Tử Phủ Tướng Xương Khúc thì chung thân phúc thọ, nếu gặp các Sát tinh và Dương Đà Hỏa Kỵ xung hợp là Phúc bạc cũng chưa đến nỗi là hung, nhưng có nốt ruồi kín, sẹo rỗ, thương tàn đái tật.

Đàn bà có Hữu Bật tọa thủ Mệnh hội có Cát tinh là vượng phu ích tử tăng đạo thì thanh khiết.

Nam Mệnh

Hữu Bật với Thiên Cơ là Thượng tể tinh, mệnh phùng thì người trọng hậu tối thông minh, nếu không có Dương Đà Hỏa Kỵ hội, lại thêm Cát tinh là bậc Anh hùng cái thế Tài Quan đại quí.

Hữu Bật là Tôn Tinh nhập Mệnh cung nếu có Sát Tinh là người thường. Gặp Dương Đà Không Kiếp nếu bị đái tật thì miễn tai hung.

Hạn

Hạn gặp Hữu Bật thì tốt vĩnh viễn là người có tài năng thì rất thịnh vượng, làm quan được cất nhắc, nhà sư thì vui cùng đạo đức. Sĩ thứ ắt được hiển danh. Gặp Hung tinh ắt khuynh gia bại sản, đến hết như người quét sạch, trăm sự đều bất thành. Học trò, nhà sư thì bị thương hại, tớ khinh Thầy, chủ phá gia tan nát.

Lộc Tồn

Rồi tới sao giữ của, tước lộc quý tinh, người trì trọng tâm từ thiện.

Là Bắc Đẩu tinh thuộc Thổ, là Tước ti, Quí tinh là người trì trọng tâm từ thiện, tình cảm trực, có tài cơ biến, đa học đa năng. Chủ Phú quí, là văn nhân có thanh danh; ở các cung khác thì đáng phúc, tiêu tai nạn, bỏ tổ tông. Ở Hãm địa thì giảm phúc. An ở cung Mệnh, Quan Lộc, Điền Trạch là Phúc Đức.

Đàn bà là người thanh bạch, đẹp đẽ có trí khí đàn ông.

Nam Mệnh

Người Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ thì có tính cương cường cứng rắn, trăm sự đều thành, làm Quan phải đổi, gặp Xương Khúc hội lại thì y Lộc thao thao, hiển đạt ở Môn đình.

Nếu gặp Đà Hỏa ắt phúc bất toàn, gặp Thiên Cơ Không Kiếp Kỵ chỉ có nhà Sư mới được thanh nhàn.

Nữ Mệnh

Lộc Tồn an Mệnh gặp Tử Phủ thì trăm sự đều được yên ổn, lại gặp Đồng Trinh tất là hạng Phu Nhân.

An ở cung Hãm có Không Kiếp Linh Hỏa thì tất là có tai nạn, nếu không có Cát Tinh đến chiếu thì vợ chồng ắt phải phân ly nhau không hợp.

Hạn

Hai hạn gặp Lộc Tồn chủ rất lành, làm việc cầu mưu ắt Cát Tường. Trong Sĩ Hoạn mà gặp thì bị nhiều sự thuyên chuyển thay đổi, thứ dân gặp thì được lương tiền đầy đủ.

Gặp Lộc Tồn ắt được sống lâu, làm việc mưu kế vạn sự đều được vinh xương, lại gặp Khoa Quyền Tả Hữu thì giàu có đầy kho đụn, chủ Phú túc, về gả cưới ắt lại thêm con nối dõi, lại gia Khoa Lộc đồng cung ắt hưởng vinh hoa phúc hậu.

Hạn gặp Lộc Mã giao trì chỉ sợ Kiếp Không, nếu lại có Thái Tuế và Ác Tinh xung chiếu thì hạn năm đó chắc chết.

Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề