Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Tật Ách và Thiên Di: bệnh tật trong số và đường ra ngoài

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Tật Ách và Thiên Di: bệnh tật trong số và đường ra ngoài

Người đến xem số hỏi hôn nhân, hỏi sự nghiệp, hiếm ai hỏi thân thể mình ra sao, dù vinh hoa phú quý mà thiếu sức khỏe thì có ích gì. Và khi bước chân ra khỏi nhà, con ngựa của lá số có yên có chuồng hay không sẽ quyết định áo gấm về làng hay chết nơi đất khách...


Tật Ách: bệnh nằm sẵn trong lá số, xem sớm để giữ thân

Rất nhiều người đến xem số, hỏi toàn chuyện hôn nhân, sự nghiệp, không ai hỏi thân thể mình ra sao. Họ chỉ quan tâm sự nghiệp và hôn nhân, còn sức khỏe thì chẳng đoái hoài, nào biết dù vinh hoa phú quý mà không có một thân thể khỏe mạnh thì có ích gì? Cho nên Tử Vi Đẩu Số chia mười hai cung, trong đó có một cung gọi là Tật Ách, đủ thấy người xưa coi trọng tật bệnh biết bao.

Các sao ở Tật Ách cho thấy người này sẽ mắc bệnh gì. Nhưng ngoài cung Tật Ách ra, còn phải tham khảo thêm những chỗ khác.

Từ tổ hợp thập tự

  • Nếu có Dần có Tỵ, đề phòng trúng phong, đề phòng tiểu đường, trẻ nhỏ đề phòng chứng bại liệt.
  • Thủy thổ bại ở Dậu: chết vì ung thư gan.
  • Dương Nhận đạp lên nhau: chết non giữa đường.

Từ tổ hợp sao

  • Thất Sát gặp Dương, Đà, Hỏa, Linh: có thương tổn xương cốt.
  • Thái Dương gặp sát: đề phòng bệnh mắt.
  • Thái Âm gặp sát: đề phòng bệnh gan.
  • Thái Âm ở cung đối, có Dương Nhận: chết vì ung thư gan.
  • Tử Vi, Thiên Tướng tọa Tật Ách: đề phòng ung thư vú.
  • Thiên Cơ tọa Tỵ, Hợi: không được nát rượu.
  • Thiên Cơ tọa Tật Ách: dễ mắc bệnh thần kinh.

Ngoài ra còn phải xem Mệnh tọa ở đâu, và Mệnh tọa can gì.

Không sợ sinh nhầm mệnh, chỉ sợ sinh bệnh lạ.

Vì nghèo khó còn dễ sống qua ngày; nhưng nếu mắc bệnh khó chữa, hoặc bệnh lạ dây dưa, như người thực vật, cầu sống không được cầu chết không xong, thế mới đáng thương. Cho nên người ta nên quý thân thể mình: đừng thức khuya, đừng rượu chè, đừng buông thả, giữ mình sạch sẽ, biết tự thương, tự cầu nhiều phúc. Nếu không vì mình thì cũng nghĩ cho gia đình: cha mẹ trông đợi, vợ con phó thác. Mạng một người sống chết là chuyện nhỏ, cả nhà đau thương mới là chuyện lớn.

Mệnh tọa từng cung thì dễ gặp bệnh gì

Mỗi chỗ ngồi của Mệnh có một điểm yếu riêng trong thân thể.

  • Mệnh ở Tỵ: đau cơ lưng, tỳ thận đều hư, hay quên, mệt mỏi.
  • Mệnh ở Ngọ: tim đập nhanh, vàng da.
  • Mệnh ở Mùi: tiêu hóa kém.
  • Mệnh ở Thân: ho, bệnh phổi.
  • Mệnh ở Dậu: viêm khí quản, tim không yên.
  • Mệnh ở Tuất: trúng phong, chóng mặt, tư tưởng rối loạn, đau răng.
  • Mệnh ở Hợi: thống phong, chi thể tê dại, phong thấp.
  • Mệnh ở Tý: hay quên, tim suy yếu, hồi hộp bất an, tinh thần chán mệt.
  • Mệnh ở Sửu: chân vô lực, bệnh ngoài da, phong thấp.
  • Mệnh ở Dần: bệnh chi dưới, ung thư, bệnh đờm.
  • Mệnh ở Mão: sỏi thận, trĩ.
  • Mệnh ở Thìn: tỳ thận đều hư, hay quên, xương sống yếu mềm.

Những thế sao của cung Tật Ách

Sao nào nằm ở cung bệnh thì bệnh theo sao ấy.

Liêm Trinh cùng Thiên Hình

Tật Ách có Liêm Trinh cùng Thiên Hình, cùng Tham Lang (Tỵ, Hợi), Thiên Tướng (Ngọ, Tý), Thất Sát (Mùi, Sửu), Thiên Phủ (Thìn, Tuất), Phá Quân (Mão, Dậu) hoặc một mình (Thân, Dần): đề phòng bại liệt, ít nhất đi đứng không tốt.

Người thận hư

Tật Ách có Tham Lang cùng Dương Nhận hoặc Đà La: tính thần kinh suy nhược, thận hư, tình cảm khó tránh rắc rối, vì sắc mà phá tài, rước họa, thậm chí mất mạng.

Quý nhân ngồi Tật Ách

Tật Ách có quý nhân ở cả mười hai cung: nổi giận bạo phát thì tổn thương gan, có thể một đêm mất mạng.

Thiên Mã tọa Tật Ách

Thiên Mã tọa Tật Ách ở Tỵ, Thân, Dần, Hợi: nhiều bệnh đau; nếu không câm điếc thì ngón tay cong như củ gừng. Kỵ nhất ác tinh đến cùng tụ, dù giàu sang cũng yểu thọ.

Thiên Lương tọa Tật Ách

Thiên Lương ở Tật Ách (một mình ở Tỵ, Ngọ, Mùi, Tý, Sửu, Hợi; Đồng Lương ở Thân, Dần; Cơ Lương ở Thìn, Tuất; Nhật Lương ở Dậu, Mão): nữ mệnh bát lạt.

Tử Vi, Thiên Tướng

Tật Ách có Tử Vi, Thiên Tướng ở Thìn hoặc Tuất: đề phòng ung thư vú.

Tử Vi, Phá Quân

Tật Ách có Tử Vi, Phá Quân ở Mùi hoặc Sửu: chớ lui tới chốn kỹ nữ, dễ nhiễm bệnh.

Người khổ mệnh

Tật Ách có Thái Dương ở các cung Giáp Tuất, Giáp Tý, Giáp Hợi: nếu không phải bệnh đầu thì ắt là bệnh mắt.

Thiên Cơ, Thái Âm

Tật Ách có Thiên Cơ, Thái Âm ở Tỵ, Thân, Dần, Hợi: thần kinh suy nhược, thần kinh quá nhạy, dương suy, nữ mệnh có bệnh ngầm. Thêm Dương Nhận thì bệnh gan; thêm Đà La cũng bệnh gan, lại dây dưa rất lâu.

Liêm Trinh, Thiên Tướng

Tật Ách có Liêm Trinh, Thiên Tướng ở Ngọ hoặc Tý: đề phòng tiểu đường.

Dương Nhận và tàn tật

Dương Nhận cùng Thân Ngâm ở Tỵ; Dương Nhận cùng Phá Toái ở Dậu; Dương Nhận cùng Bạch Y ở Sửu: ắt có tàn tật. Thiên Hình, Dương Nhận ở Ngọ, Mùi, Thìn, Mão, Dậu, Tuất, Sửu, Tý: chi thể không toàn vẹn.

Phá Toái ở Mệnh

Mệnh có Phá Toái ở Tỵ, Dậu, Sửu: đầu dễ bị thương.

Hồng Loan cùng Hỏa Tinh, Linh Tinh

Hồng Loan cùng Hỏa Tinh (Linh Tinh) ở cả mười hai cung: nếu không bị lửa làm thương thì ắt bị bỏng.

Những dấu hiệu trong thập tự

Giờ sinh, ngày sinh và chi của năm cũng kể chuyện bệnh tật.

Chi phạm Thiên Thương

Phàm mệnh có giờ sinh "sau ba thìn" thì cả đời nhiều bệnh nhiều thương. Tính theo năm sinh và chi khác trong ngũ chi: người tuổi Tý với chi Tuất; Sửu với Hợi; Dần với Tý; Mão với Sửu; Thìn với Dần; Tỵ với Mão; Ngọ với Thìn; Mùi với Tỵ; Thân với Ngọ; Dậu với Mùi; Tuất với Thân; Hợi với Dậu.

Nếu không gặp hình thì mù mắt

Năm Ất, ngày Tân, giờ Tân, thai Tân. Người tuổi Ất gặp hai Tân: nếu không gặp hình phạt thì ắt mù mắt. Lại e làm điều không danh dự mà bị bắn chết. Hoặc phá bại, một lần ngã không dậy nổi.

Mệnh phạm tam chiến

Phàm mệnh có ngũ chi mang các tổ hợp Tý Ngọ Mão, Mùi Tuất Sửu, Dần Thân Tỵ thì phạm tam chiến.

Tam chiến như hình một lượt, ngũ chi phạm phải đề phòng thương tàn. Nếu không đầu sông thì chết dữ; tai điếc, miệng câm cùng kéo đến.

Mệnh này nếu làm quan, e bị biếm trích; dù có quý nhân lộc mã cũng chủ nghèo khó tiều tụy. Ví dụ: năm Tý, tháng Ngọ, ngày Mão; năm Mùi, tháng Tuất, ngày Sửu; năm Dần, ngày Thân, giờ Tỵ. Ba chi hoán đổi cho nhau thì luận như nhau.

Hình sát khắc thân, bệnh nặng quấn thân

Phàm mệnh phạm hình, sát, Đại Hao, nạp âm khắc bản mệnh (tức nạp âm của năm sinh) thì ắt mắc bệnh nặng khó chữa. Một bà họ Lâm: năm Mậu Dần (Thành đầu thổ), tháng Mậu Ngọ, ngày Mậu Tuất, giờ Tân Dậu (Thạch lựu mộc). Người tuổi Dần có Dậu thì phạm Đại Hao; nạp âm Thạch lựu mộc của Tân Dậu khắc nạp âm Thành đầu thổ của năm sinh, mộc khắc thổ; quả nhiên bà mắc ung thư tụy tạng mà qua đời.

Lộc xung mệnh, chi thể có thương

Phàm Lộc đối xung với một chi, ngồi ở Mệnh cung hoặc Tật Ách cung, thì chi thể có thương. Năm Giáp: Lộc ở Dần, đối xung Thân. Năm Ất: Mão, Dậu. Năm Bính: Tỵ, Hợi. Năm Đinh: Ngọ, Tý. Năm Mậu: Tỵ, Hợi. Năm Kỷ: Ngọ, Tý. Năm Canh: Thân, Dần. Năm Tân: Dậu, Mão. Năm Nhâm: Hợi, Tỵ. Năm Quý: Tý, Ngọ.

Chi thể có thương

Phàm chi Sửu, Tuất, Mùi hình đủ cả: chi thể có thương. Một ông họ Khang, năm Sửu, ngày Mùi, giờ Tuất. Một là làm người cương ngạo, tự dụng, đánh giá mình quá cao, tất gặp thất bại. Hai là chi thể có thương. Ba là vợ chồng không bạc đầu giai lão. Bốn là đề phòng gặp tai họa khó lường.

Mệnh phạm Ám Kim

Ám Kim tức Phá Toái, lại gọi là cốt tủy phá, gọi là Đích Sát, gọi là Bạch Y, còn có tên Thân Ngâm. Mệnh phạm Đích Sát e không sống thọ, hoặc tàn tật quấn thân. Tính theo năm sinh và chi trong thập tự: tuổi Tý, Mão, Ngọ, Dậu với Tỵ: trúng phong. Tuổi Sửu, Thìn, Mùi, Tuất với Sửu: ăn vợ ăn con, chết dữ. Tuổi Dần, Tỵ, Thân với Dậu: ung thư. Tuổi Hợi với Dậu: bướu nước.

Trúng phong

Bệnh trúng phong từ xưa đã có; đến ngày nay có thể do dinh dưỡng quá tốt mà bệnh trúng phong ngày một tăng. Cũng có thể do thiếu vận động: người xưa đi bộ nhiều, người nay hay lấy ô tô, xe máy thay thế. Cách bổ mệnh: vận động nhiều; ít ăn đồ dầu mỡ, ăn nhiều trái cây và rau.

Phàm mệnh phạm Huyết Nhận thì nên đề phòng trúng phong. Tính theo tháng sinh Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, ứng với các chi Ngọ, Tý, Sửu, Mùi, Dần, Thân, Mão, Dậu, Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi trong ngũ chi. Phàm ngũ chi phạm hình Dần Tỵ thì mệnh này cũng nên đề phòng tiểu đường, bại liệt ở trẻ nhỏ, chân bị thương.

Phá tướng

Ngày trụ phạm Thiên Cẩu thì phá tướng. Người tuổi Tý với ngày Tuất; Sửu với Hợi; Dần với Tý; Mão với Sửu; Thìn với Dần; Tỵ với Mão; Ngọ với Thìn; Mùi với Tỵ; Thân với Ngọ; Dậu với Mùi; Tuất với Thân; Hợi với Dậu.

Ngày quỷ khóc và ngày thăm bệnh

Ngày quỷ khóc thế gian hiếm, mười thầy thuốc thì chín không biết. Dù là thần tiên cũng thôi hạ thuốc, vội vàng đắp mộ đã chê muộn.

Phàm mỗi tháng, ngày Tuất gọi là ngày Quỷ khóc; ngày ấy không nên khám bệnh uống thuốc, càng kỵ mổ xẻ. Đó không phải mê tín, chỉ là tận lượng tránh đừng phạm.

Thăm người bệnh cũng phải chọn ngày, không phải ngày nào cũng đi được:

Nhâm Dần, Nhâm Ngọ liền Canh Ngọ, Giáp Dần, Ất Mão, Kỷ Mão phòng. Thần tiên để lại sáu ngày này: đi thăm bệnh người là chết thay người.

Thiên Di: xem con ngựa trước, rồi mới xem đường ra ngoài

Muốn xem Thiên Di, trước hết phải xem Mã. Phép này ít người biết: Thiên Di có Mã thì cát sẽ nhiều động, hung sẽ lao lục.

  • Ngựa phải có yên. Ngựa nếu không có yên thì luận hung, có yên thì luận cát.
  • Ngựa phải có chuồng rào. Không có rào thì là mệnh lao lục; có rào là mệnh phú quý. Nếu thập tự cát thì có thể làm đến bậc đứng đầu.
  • Như Dần, Ngọ, Tuất mà Mã ở Thân: thập tự cần có Mùi thì có yên, có Dậu thì có rào, phú quý đáng mong.
  • Thiên Mã mừng cùng Lộc Tồn đồng cung, chủ áo gấm về làng. Ai mà chẳng mong áo gấm về làng, đem khoe với thân hữu?

Rồi mới xem chủ tinh của cung Thiên Di: kỵ nhất là Cự Môn, kế đến là Vũ Khúc, Tham Lang, Phá Quân, Thất Sát.

  • Hóa Quyền: ở nơi khác sẽ thành công thành danh, được người trọng dụng.
  • Hóa Lộc: sự nghiệp ở ngoài thuận lợi, kiếm được nhiều tiền.
  • Hóa Khoa: nhân duyên ở ngoài rất tốt, làm việc thuận lợi.
  • Hóa Kỵ: nhiều điều không thuận; chỉ có cung vượng thì không sợ Hóa Kỵ.

Những thế sao của cung Thiên Di

Cùng một cánh cửa mở ra ngoài, có người gặp tiền, có người gặp rắc rối.

Khách bèo bồng

Thiên Di có Thiên Mã ở Tỵ, Thân, Dần, Hợi: dời gốc đổi lá, ra khỏi tổ sang phòng khác.

Thái Dương ở Thiên Di

Thiên Di có Thái Dương ở Tỵ, Ngọ, Thân, Thìn, Tuất, Hợi, Tý; Thái Dương, Thái Âm ở Mùi, Sửu; Thái Dương, Thiên Lương ở Dậu, Mão; Thái Dương, Cự Môn ở Dần: nữ mệnh dời gốc đổi lá, hôn nhân hai lần.

Ngựa ra ngoài

Thiên Di có Vũ Khúc, Thiên Tướng, Thiên Mã ở Thân hoặc Dần: ra ngoài càng tốt, ở nơi khác sẽ phát tài.

Tìm tiền nơi quê người

Thiên Di có Vũ Khúc, Tham Lang ở Mùi hoặc Sửu: tìm tiền ở quê lạ, nhận lộc ở nước khác, di dân ra ngoại quốc. Thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh thì càng tốt. Thêm Dương Nhận, Đà La, Không, Kiếp thì tiền đến rồi tiền đi.

Người phát tài

Thiên Di có Thất Sát, Thiên Mã, Lộc Tồn ở Thân hoặc Dần: phát tài ở nơi khác.

Thiên Lương ở Ngọ

  • Phát tài ở quê người.
  • Cung Tý có sát xung thì gặp tai họa.
  • Thêm sát thì chỉ là thương nhân bình thường.
  • Kỵ nhất người sinh năm Giáp Ngọ: chịu oán hận, chịu tội thay người.

Thiên Đồng gặp sát

Thiên Đồng, Thái Âm và sát tinh ở Ngọ; Thiên Đồng và sát tinh ở Mùi hoặc Sửu: ở nơi khác sẽ bị cuốn vào tranh chấp, rước thêm phiền toái.

Khách chết nơi quê người

Thiên Di có Liêm Trinh, Thất Sát ở Mùi hoặc Sửu: khách chết nơi đất khách. Gặp thêm sát thì chết vì tai nạn xe cộ.

Bị người cầm dao cướp tình

Thiên Di có Tham Lang: Liêm Trinh, Tham Lang ở Tỵ, Hợi; Tham Lang ở Ngọ, Thân, Thìn, Tuất, Dần, Tý; Vũ Khúc, Tham Lang ở Mùi, Sửu; Tử Vi, Tham Lang ở Dậu, Mão: bị người cầm dao cướp tình.

Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Bổ Mệnh Thư, quyển 3.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề