Bài tổng quan
Bệnh nằm sẵn ở cung Mệnh và Tật Ách: cách đọc từng sao
Cung Tật Ách của chính Phan Tử Ngư có Vũ Khúc, Tham Lang, Đà La, Văn Xương, Văn Khúc và Thiên Việt cùng đứng một chỗ, nhiều sao đến mức nhìn vào cũng rối. Ông tự giải từng sao một, và chỉ riêng một sao trong số đó báo rằng ông sẽ gặp được thầy thuốc giỏi…
Mục lục · 11 phần
- 01Xem bệnh không chỉ ở cung Tật Ách: Mệnh, Thân và Thiên Di cũng báo bệnh
- 02Các cặp sao đồng cung và loại bệnh chúng báo
- 03Tử Vi, Thất Sát, Thái Dương, Thiên Cơ tọa Mệnh: bệnh hiện trên lá số
- 04Thái Dương, Thái Âm, Thất Sát, Liêm Trinh gặp Không Kiếp hay sát tinh
- 05Thái Âm, Phá Quân và Kình Dương tọa Mệnh
- 06Tham Lang cùng Đà La, Thiên Tướng, Thiên Hình, Hàm Trì tọa Mệnh
- 07Cung Tật Ách có Tử Vi: bệnh hiện trên từng lá số
- 08Cung Tật Ách có Thiên Cơ
- 09Cung Tật Ách có Thái Dương
- 10Cung Tật Ách có Thiên Đồng và Liêm Trinh
- 11Cung Tật Ách có Liêm Trinh, Thất Sát, Thiên Tướng và Thái Âm
Xem bệnh không chỉ ở cung Tật Ách: Mệnh, Thân và Thiên Di cũng báo bệnh
Phan Tử Ngư đặt câu hỏi: làm sao từ Tử Vi Đẩu Số xem ra bệnh tật? Ông nói nếu nghiên cứu sâu hơn, ta có thể dựa vào mấy điểm dưới đây để thấy mình sẽ mắc bệnh gì. Hay nói cách khác, xem bệnh tuyệt đối không phải chỉ nhìn cung Tật Ách, và người học Tử Vi nên hiểu điều đó.
Điểm thứ nhất là xem từ Mệnh cung, Thân cung hoặc Thiên Di. Ví dụ Thái Âm tọa Mệnh ở Mão, Thìn hoặc Tỵ, bất kể cung Tật Ách có sao gì, người này dễ mắc bệnh tuyến. Bệnh tuyến, theo ông, là các bệnh của hệ nội tiết, như tuyến bạch huyết, amidan, ung thư vú, bướu cổ. Cung đối của Mệnh, tức cung Thiên Di, có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh thì sẽ gặp tai nạn xe; có Kình Dương thì có chấn động não.
Điểm thứ hai là xem từ các sao ở cung Tật Ách. Ông lấy ngay lá số của mình làm ví dụ: cung Tật Ách của Phan Tử Ngư có Vũ Khúc, Tham Lang, Đà La, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Việt. Nhiều sao như vậy giải thích ra sao? Tham Lang ở Tật Ách thì bệnh nổi bật nhất là thận, nếu lại gặp Hóa Kỵ thì chắc chắn bệnh thận rất nặng. Vũ Khúc ở Tật Ách báo phổi không tốt. Văn Xương, Văn Khúc báo thần kinh não suy nhược, như mất ngủ. May có Thiên Việt, mà Thiên Việt báo sẽ gặp thầy thuốc giỏi, nên ông may mắn được tiên sư truyền lại bí phương để chữa thần kinh thận suy nhược và thần kinh não suy nhược. Ngoài ra, cung Tật Ách có Thiên Lương thì tim không tốt; có Cự Môn thì tràng vị không tốt; Thái Âm lạc hãm thì gan không tốt; Thái Dương lạc hãm thì mắt không tốt.
Các cặp sao đồng cung và loại bệnh chúng báo
Nhìn từng sao riêng lẻ chưa đủ, còn phải xem sao này gặp sao kia thì thành bệnh gì.
- Thái Dương cùng Hỏa Tinh đồng cung thì mắt trái có thương tích.
- Thái Âm lạc hãm gặp sát thì phổi bị tổn thương.
- Thiên Đồng cùng Kình Dương đồng cung thì dễ bị ngoại thương.
- Tham Lang cùng Xương Khúc đồng cung thì dễ bị thương xương.
- Thiên Đồng cùng Đà La đồng cung thì mắt bị thương, hoặc mắt hoa, hoặc béo hư.
Cách nhìn thứ tư là xem từ các sao ở cung Tử Nữ. Ví dụ:
- Cung Tử Nữ có Thái Âm ở đất hãm thì bản thân và con cái dễ mắc bệnh tuyến.
- Cung Tử Nữ có Thiên Đồng gặp sát thì bản thân thần kinh suy nhược, thậm chí có cảm giác chán ghét hoặc sợ hãi đối với chuyện chăn gối. Điều này cũng khiến con cái yểu chiết hoặc bất hiếu.
- Liêm Trinh tọa cung Tử Nữ thì bản thân vì buông thả quá mức mà thân tâm mệt mỏi, sau trung niên trăm bệnh đeo thân.
- Cung Tử Nữ có Thái Dương gặp sát thì bản thân không có hạnh phúc trong đời sống chăn gối. Ví dụ lúc mình cần được an ủi thì người phối ngẫu không có đó, hoặc say rượu; lúc mình không muốn thì người phối ngẫu lại quấn quýt mãi không thôi, khiến mình bực bội.
- Tham Lang gặp sát tọa cung Tử Nữ thì sớm muộn có ngày chết vì chuyện chăn gối quá độ.
Cách nhìn thứ năm là xem cung Thiên Di. Ví dụ cung Thiên Di có Liêm Trinh, Tham Lang thì người này dễ bị chốn phong nguyệt kích thích, và dễ mắc bệnh phong lưu, nhất là năm Giáp, năm Quý là bất cát nhất.
Tử Vi, Thất Sát, Thái Dương, Thiên Cơ tọa Mệnh: bệnh hiện trên lá số
Nguyên tắc nghe thì gọn, nhưng muốn thấy bệnh hiện ra thế nào phải nhìn vào từng lá số, bắt đầu từ các sao thủ Mệnh.
Tử Vi ở Tý hoặc Ngọ, bất kể ở cung nào, người này tỳ không khỏe nên dễ phát tỳ khí. Nếu Tử Vi ngồi cung Phu Thê thì ắt bị người phối ngẫu gây sự vô lý, bắt nạt, ngược đãi.
Mệnh có Tử Vi, Thất Sát, Đà La đồng cung (ở Tỵ hoặc Hợi), hoặc Thất Sát với Đà La (ở Dần hoặc Thân), thì:
- Thương tàn, mang tật.
- Duyên với người phối ngẫu mỏng, lục thân không nương tựa được.
- Bệnh tiểu đường.
- Thân tâm mệt mỏi.
- Sinh hoạt tình dục quá độ.
Mệnh có Thái Dương, Cự Môn đồng cung ở Thân thì:
- Dễ chìm đắm vào rượu và sắc.
- Nếu gặp Thái Dương hóa Kỵ hoặc gặp sát, thì vì tình yêu trắc trở mà nản lòng, tâm tình bực bội, hoặc bỏ dở công danh (hay tiền đồ). Nữ mệnh có thể sa vào chốn phong trần mà tự làm mình tê dại, cũng dễ mắc chứng táo tạng hoặc chứng cuồng loạn.
Mệnh có Thiên Cơ gặp sát (ở Tỵ, Mùi, Sửu, Hợi) thì:
- Mặt có sẹo thương.
- Tình yêu trắc trở, trong lòng khổ muộn không vui, dễ mắc chứng ức uất.
- Gặp sát thì vì rượu mà hỏng việc.
- Tâm tình rối bời, nội tâm đau khổ mà người ngoài không biết.
- Hợp với kinh thương hoặc học một nghề để nuôi thân.
Thái Dương, Thái Âm, Thất Sát, Liêm Trinh gặp Không Kiếp hay sát tinh
Mệnh có Thái Dương, Thái Âm đồng cung (ở Mùi hoặc Sửu) gặp Địa Không, Địa Kiếp thì:
- Xương sống bị thương, hoặc gù lưng, hoặc mắt mờ.
- Gặp thêm Hóa Kỵ thì bệnh về mắt.
Mệnh có Thất Sát gặp Địa Không, Địa Kiếp (ở Ngọ hoặc Tý), còn Thái Dương, Thái Âm ở cung Tật Ách (Mùi hoặc Sửu), thì:
- Còng lưng, gù lưng.
- Mắt mờ.
Mệnh có Liêm Trinh, Thất Sát, Linh Tinh đồng cung (ở Sửu), lại bị Đà La và Kình Dương chiếu về, thì:
- Lúc nhỏ mắc chứng bại liệt trẻ em.
- Nếu không có tàn tật thì phạm pháp, ngồi tù, hoặc chết vì tai nạn xe.
Mệnh có Liêm Trinh, Tham Lang gặp Xương Khúc (ở Tỵ hoặc Hợi) thì:
- Đi máy bay gặp nạn.
- Ngã từ nhà cao xuống.
- Chết rồi còn bị người ta phân thây.
- Yểu chiết hoặc chết bất đắc kỳ tử.
Thái Âm, Phá Quân và Kình Dương tọa Mệnh
Có những sao ngồi ở Mệnh là mang sẵn gánh nặng, và bệnh của họ cũng nặng theo.
Mệnh có Thái Âm (ở Tỵ, Thìn, Mão), hoặc Thiên Đồng cùng Thái Âm (ở Ngọ), thì:
- Thể chất tiên thiên không tốt.
- Dễ mắc bệnh tuyến.
- Là mệnh lao lực.
Mệnh có Phá Quân gặp Kình Dương hoặc Đà La, kể cả các tổ hợp Vũ Khúc Phá Quân Đà La (Tỵ, Hợi), Tử Vi Phá Quân gặp Kình hoặc Đà (Mùi, Sửu), Liêm Trinh Phá Quân Kình Dương (Mão, Dậu), thì:
- Có tàn tật, chi thể bị thương.
- Hoặc mắc chứng bại liệt trẻ em.
Mệnh có Kình Dương thì:
- Phá tướng.
- Thương tàn.
- Mắt mờ.
Nếu Mệnh có Kình Dương ở Mão, còn cung Tật Ách ở Tuất có Cự Môn, hai cung ám hợp với nhau, mà là nữ mệnh, thì vùng kín phải phẫu thuật (trường hợp gọi là thạch nữ), hoặc vì bệnh khác mà vùng kín phải phẫu thuật.
Tham Lang cùng Đà La, Thiên Tướng, Thiên Hình, Hàm Trì tọa Mệnh
Mệnh, Tật Ách hoặc Tử Nữ có Tham Lang cùng Đà La đồng cung (Liêm Trinh Tham Lang Đà La ở Tỵ, Hợi; Vũ Khúc Tham Lang Đà La ở Mùi, Sửu; Tham Lang Đà La ở Thân, Dần, Thìn, Tuất), thì:
- Sinh hoạt tình dục quá độ. Nam giới dễ hưng phấn quá mức, nhất là kỵ nằm ở cung Tử Nữ, sẽ chết vì kiệt sức.
- Gặp tiểu hạn thì tự buông thả quá độ. Nữ mệnh sẽ sa vào chốn phong trần, hoặc hỏng thân, hoặc đào hoa.
Mệnh có Thiên Tướng (ở Mão hoặc Dậu) thì:
- Người này hay ăn lệch, kén món.
- Gặp sát thì vì đời tư không kiểm điểm mà bị đao thương.
- Nên học nghệ thuật, có quan niệm thẩm mỹ.
- Nữ mệnh cô độc.
Mệnh có Thiên Hình (ở Thân hoặc Sửu) thì:
- Dễ có hỏa tai.
- Nếu sao ở Mệnh cung không tốt, hoặc có sát tinh khác, thì bị lửa thiêu chết.
- Dễ mắc bại liệt trẻ em, di chứng sau viêm não, hoặc bệnh điên loạn.
- Gặp thêm Thiên Khốc thì thân thể ắt có chỗ khiếm khuyết, hoặc bệnh đau.
Thân cung có Liêm Trinh, Thất Sát (ở Mùi hoặc Sửu) thì dễ mắc bệnh ung thư, hoặc gãy chân, thương đùi.
Mệnh có Hàm Trì (ở Ngọ, Dậu, Mão, Tý) thì:
- Cả đời nhiều bệnh.
- Ham cờ bạc hoặc ham hút thuốc.
- Gặp thêm Tham Lang càng kỵ, chìm đắm vào rượu và sắc.
Mệnh có Đà La và Long Trì (ở Hợi) thì răng hỏng sớm.
Cung Tật Ách có Tử Vi: bệnh hiện trên từng lá số
Mệnh nói thể chất chung, còn cung chuyên chủ về bệnh là Tật Ách, nơi từng sao để lại dấu riêng.
Tật Ách có Tử Vi (ở Ngọ hoặc Tý) thì:
- Tỳ không khỏe, tiêu hóa kém, khiến tỳ khí nóng nảy.
- Dễ lao lực quá độ.
- Gặp sát thì đau đầu, bệnh tiểu đường.
Tật Ách có Tử Vi, Tham Lang (ở Dậu hoặc Mão) thì:
- Sinh hoạt tình dục quá độ, hao tổn thể lực quá mức mà sinh bệnh.
- Gặp sát thì đau đầu, bệnh thận, tiểu đường, vì bệnh thận mà khổ muộn vô cùng.
Tật Ách có Tử Vi, Thiên Phủ (ở Thân hoặc Dần) thì:
- Đau đầu, không chịu được kích thích.
- Gặp sát thì dễ mắc chứng phân liệt thần kinh.
Tật Ách có Tử Vi, Thất Sát (ở Tỵ hoặc Hợi) thì:
- Đời sống tình dục dồn dập, lại thêm làm việc cật lực, khiến thân tâm mệt mỏi, tứ chi vô lực.
- Thân tâm mệt mỏi, tứ chi không sức.
- Có đào hoa, mệt mỏi vì phải ứng phó.
Tật Ách có Tử Vi, Thiên Tướng (ở Thìn hoặc Tuất) thì:
- Tiêu hóa kém.
- Bệnh tuyến.
- Bệnh da.
- Gặp sát thì bệnh tiểu đường.
Tật Ách có Tử Vi, Phá Quân (ở Mùi hoặc Sửu) thì:
- Huyết dịch tuần hoàn kém, hoặc huyết áp cao.
- Bệnh tim, thần kinh suy nhược.
- Gặp sát thì kinh phế có bệnh, hay ho, đau đầu, tiểu đường.
Cung Tật Ách có Thiên Cơ
Tật Ách có Thiên Cơ (ở Tỵ, Mùi, Sửu, Hợi) thì:
- Đầu hoặc mặt có thương sẹo.
- Không được uống rượu, vì rượu hỏng việc.
- Gặp sát thì càng phải cai rượu, đồng thời đề phòng bệnh mắt, tứ chi vô lực.
Tật Ách có Thiên Cơ, Thiên Lương (ở Thìn hoặc Tuất) thì:
- Thận tạng hoặc hệ sinh dục nhiều bệnh.
- Tim không tốt.
- Thiếu máu.
- Sinh hoạt tình dục quá độ.
Tật Ách có Thiên Cơ, Cự Môn (ở Dậu hoặc Mão) thì cao huyết áp và bệnh tim. Tật Ách có Thiên Cơ, Thái Âm (ở Thân hoặc Dần), gặp lục sát thì có bệnh da, hoặc bệnh tình dục.
Cung Tật Ách có Thái Dương
Tật Ách có Thái Dương (ở Tỵ, Ngọ, Thìn) thì:
- Huyết áp cao.
- Đại tràng không tốt.
- Can hỏa quá vượng.
- Trĩ, đi ngoài ra máu.
- Bệnh mắt: mắt lé, lác, loạn thị, nội chướng, mọc mộng.
Tật Ách có Thái Dương, Cự Môn (ở Thân hoặc Dần) thì:
- Đau đầu.
- Thần kinh suy nhược.
- Bệnh thần kinh.
- Dễ chìm đắm vào rượu và sắc.
Tật Ách có Thái Dương, Thái Âm (ở Mùi hoặc Sửu) thì:
- Gặp Hóa Kỵ, tứ sát thì có bệnh mắt.
- Kỵ nhất có Không Kiếp, dễ mắc bệnh thần kinh, hoặc gù lưng, mắt mờ.
Tật Ách có Thái Dương, Thiên Lương (ở Dậu hoặc Mão) thì bệnh mắt, tim không tốt; gặp sát thì nặng hơn.
Cung Tật Ách có Thiên Đồng và Liêm Trinh
Tật Ách có Thiên Đồng (ở Dậu hoặc Mão) thì bệnh tai. Gặp Kình Dương dễ bị ngoại thương; gặp Đà La thì mắt hoa.
Tật Ách có Thiên Đồng (ở Thìn, Tuất), hoặc Thiên Đồng cùng Cự Môn (ở Mùi, Sửu) thì:
- Người này béo hư.
- Sẽ mắc bệnh phù thũng.
- Gặp Đà La thì không chỉ béo hư mà còn mắt hoa.
Tật Ách có Thiên Đồng, Thái Âm (ở Ngọ hoặc Tý) thì bệnh gan, bệnh tai; gặp sát thì bệnh gan, bệnh tai càng nặng.
Tật Ách có Liêm Trinh (ở Thân hoặc Dần) thì:
- Thể chất quá mẫn, hoặc da quá mẫn.
- Bệnh eo lưng, đau chân.
- Gặp sát thì đề phòng ung thư (có thể là ung thư dạ dày hoặc ung thư khoang miệng).
Tật Ách có Thiên Đồng, Thiên Lương (ở Thân hoặc Dần) thì thân thể khỏe mạnh. Nếu gặp sát:
- Gặp Kình Dương thì dễ bị ngoại thương, tim không tốt.
- Gặp Đà La thì phát tỳ, tim không tốt.
- Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Không Kiếp thì tim không tốt, bệnh tai.
Cung Tật Ách có Liêm Trinh, Thất Sát, Thiên Tướng và Thái Âm
Có những sao mang theo cả chuyện quan phi lẫn bệnh nặng, và Tật Ách là nơi chúng lộ rõ nhất.
Tật Ách có Thất Sát gặp sát (gồm Tử Vi Thất Sát ở Tỵ, Hợi; Thất Sát đứng riêng; Liêm Trinh Thất Sát ở Mùi, Sửu; Vũ Khúc Thất Sát ở Mão, Dậu) thì:
- Có tàn tật.
- Đặc biệt kỵ ở hai cung Mùi và Sửu, ắt có tai nạn xe.
- Gặp lưu niên Bạch Hổ thì đề phòng quan phi.
Tật Ách có Liêm Trinh, Thiên Phủ gặp sát (ở Thìn hoặc Tuất) thì:
- Ung thư khoang miệng.
- Phân liệt thần kinh.
- Nếu không có sát thì cả đời khỏe mạnh.
Tật Ách có Liêm Trinh, Tham Lang (ở Tỵ hoặc Hợi) thì:
- Rượu và sắc quá độ, thận hư, liệt dương.
- Gặp sát thì bệnh thận nặng hơn, phải đề phòng ung thư.
- Thận hư thì đau răng.
Tật Ách có Liêm Trinh, Thiên Tướng (ở Ngọ hoặc Tý) thì:
- Tiêu hóa kém.
- Gặp sát thì tiểu đường, bệnh răng.
- Gặp Kình Dương là kỵ nhất, tức thế "hình kỵ giáp ấn" như đã nói ở trên, sẽ có quan phi hoặc tai họa lao ngục.
Tật Ách có Liêm Trinh, Phá Quân (ở Dậu hoặc Mão) thì:
- Lao phổi.
- Gặp sát thì ung thư phổi hoặc ung thư khoang miệng.
- Gặp lưu niên Bạch Hổ thì có quan phi.
Một lá số mẫu đặc biệt: cung Tật Ách ở Thân có Liêm Trinh hóa Kỵ cùng Địa Không, trong khi cung Quan Lộc ở Tỵ có Thiên Lương, hai cung ám hợp với nhau. Ông ghi rằng người này đau đầu vì công việc bận rộn mà sinh ra.
Tật Ách có Thiên Tướng, Kình Dương (ở Dậu hoặc Mão) thì:
- Bệnh da.
- Bệnh tiểu đường.
- Đao thương.
- Phải mổ bụng.
Tật Ách có Thái Âm (ở Tỵ, Thìn, Mão), hoặc Thái Âm cùng Thiên Đồng (ở Ngọ) thì:
- Thân thể thường không yên ổn.
- Bệnh tuyến.
- Viêm khí quản, bệnh phổi.
- Gặp sát thì tay chân bị thương, gãy xương, bệnh mắt.
- Nữ giới huyết khí hao tổn.
- Gặp Không Kiếp thì phân liệt thần kinh.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số dự trắc tật bệnh (bản chữ Hán, Hương Cảng)
