Bài tổng quan
Bệnh tật từng bộ phận cơ thể và họa cách của cung Phúc
Khoa Tử Vi gọi tên bệnh của từng bộ phận, từ tai, mũi, họng đến con mắt bên trái thuộc Nhật, con mắt bên phải thuộc Nguyệt. Rồi đến chữ họa, thứ mà ngay người viết cũng phải thưa trước rằng mình không hề bi quan. Vì sao cung Phúc bị họa lại được coi là gieo bất hạnh cho cả một dòng họ…
Mục lục · 12 phần
Những bệnh về bộ máy tuần hoàn
Sách Tử Vi chỉ kể có 2 sao Tang Môn và Bạch Hổ chỉ máu. Kỳ dư không có sao nào chỉ tim, thận v.v… Những bộ sao chỉ những bệnh về máu huyết tim phổi gồm có:
- Lâm Quan, Hỏa hay Linh: bệnh chảy máu cam, xuất huyết, đứt mạch máu.
- Bạch Hổ: máu xấu, nhất khí huyết, bệnh thiếu máu, căng mạch máu, yếu tim, đau tim.
- Đào Hoa, Hồng Loan: yếu tim.
- Lưu Hà: bệnh máu loãng, hay ra máu khi bị thương tích, bệnh hoại huyết.
Một lần nữa, các sao trên có thể đi kèm với sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh.
Những bệnh về bộ máy bài tiết và sinh dục
Từ dòng máu chảy trong thân, lá số đi xuống những nơi kín đáo hơn của cơ thể — nơi ít sao dám gọi tên.
Về mặt cơ thể, không có sao nào chỉ những bộ phận bài tiết cho rõ ràng. Nhưng về bộ phận sinh dục, có sao Kình Dương chỉ dương vật, sao Thai chỉ âm hộ.
- Thiên Riêu hay Thiên Hư: bệnh suy thận, dương hư.
- Tham, Riêu; Đào, Hồng, Không, Kiếp; Riêu, Cái: ba bộ sao kể trên chỉ bệnh phong tình.
- Đào, Hồng, Kỵ, Mộc; Đào, Hình, Thai, Mộc: theo Thái Thứ Lang, 2 bộ sao này chỉ bệnh “phạm phòng” nhưng không được mô tả rõ ràng.
- Đào, Hồng, Riêu, Hỷ; Mộc, Cái: hai bộ sao này chỉ bệnh mộng tinh, di tinh.
- Thai, Không, Kiếp: ba bộ sao này chỉ bệnh đau tử cung, lệc hay sa tử cung.
- Cự, Kình, Hỏa; Tham ở Tý, Ngọ (có thể đi kèm với Đà La): hai bộ sao này chỉ bệnh do tửu sắc, sinh dục quá độ.
Tất cả các sao trên có thể đi chung với sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh. Đi với Không Kiếp thường là nặng và có máu mủ, với Thiên Hình, Kiếp Sát có thể bị mổ xẻ v.v…
Những bệnh về tai, mũi, họng
Về mặt cơ thể, Long Trì chỉ mũi, Phượng Các chỉ tai, Phá Toái chỉ cuống họng. Những bộ sao liên hệ gồm có:
- Phượng, Kình, Đà: bệnh ở tai, cứng tai, lãng tai, sớm lãng tai, điếc.
- Trì, Khốc, Hư: bệnh lở mũi, như thối cuống mũi, có Thiên Hình là có mổ, có Hỏa Tinh, Linh Tinh là có đốt.
- Lâm Quan, Địa Kiếp: bệnh yếu hầu, thịt dư ở cổ họng.
- Phá Toái, Hình hay Hư, Khốc: đau cuống họng, tiếng khàn rè.
- Riêu: đau răng, hay hư răng, sớm rụng răng.
Sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh vẫn có thể đi chung với sao trên.
Những bệnh của sản phụ
Những bệnh này thường liên quan đến bộ phận sinh dục, đến máu huyết, đến tử cung, đến sự sinh đẻ.
- Đào, Hồng, Kình, Kỵ, Mộc: bệnh tiểu sản, hậu sản.
- Không, Kiếp, Mộc hay Kỵ, Mộc: bệnh sản thai, đau dạ con, khó đẻ.
- Nguyệt hãm hay Nguyệt, Kỵ, hay Nhật, Kỵ, Hư: đàn bà âm hư, kinh nguyệt không đều, dương hư, có bệnh về bộ phận sản dục âm dương đến sự thụ thai, sinh đẻ.
- Lưu Hà, hay Tang, Hổ: khi sinh đẻ, hay bị băng huyết vì máu loãng.
Những bệnh ngoài da
- Vũ, Cơ: bệnh ngoài da hoặc tê thấp.
- Tướng ở Mão Dậu: da mặt vàng. Có thêm thuộc khí huyết hoặc ngoài da.
- Cơ, Nguyệt: hay có mụn nhọt.
- Không, Kiếp, Cơ: mụn nhọt, lở chốc có máu mủ.
- Phá: máu nóng lúc nhỏ tuổi sinh nhọt.
- Liêm, Phá: chân tay có tỳ vết.
- Kình, Cái, Không, Kiếp: phát ban, lên đậu.
- Hỏa, Linh, Mộc: phỏng nước, phỏng lửa.
- Liêm hãm, Hình, Kỵ: máu nóng sinh nhọt.
- Cự Môn hãm: môi thâm.
- Tham Xương: lang ben, da loang lổ.
Những bệnh ở mắt
Nhật, Nguyệt chỉ cặp mắt. Nhật là mắt bên trái. Nguyệt bên phải. Đi với sát, hình hao bại tinh, mắt bị bệnh từ nặng đến nhẹ.
Ngoài ra còn ghi nhận thêm vài bộ sao dưới đây chỉ đau mắt:
- Nhật, Kình, Kỵ ở Hợi, Tý: bị đau mắt có thể mù.
- Nguyệt, Riêu, Hình, Kỵ: cũng đồng nghĩa.
- Đà, Riêu, Kỵ: mắt kém.
- Phá, Vũ: hay đau mắt.
Những bệnh về thần kinh
Về mặt thần kinh, Thái Dương và Thái Âm sáng sủa thường là chỉ dấu của bệnh thần kinh, biểu lộ dưới nhiều hình thái như mất ngủ, căng thẳng tinh thần, tăng huyết áp, lo âu quá đáng.
Những bệnh về thần kinh nặng hơn là khùng và điên do những bộ sao dưới đây mô tả:
- Nhật, Cự: ngây ngô, hơi khùng, suy luận không bình. Nhật càng sáng bệnh càng nặng.
- Nhật, Không, Kiếp.
- Phá, Hỏa, Linh.
- Nhật và nhiều sao hỏa ở cung Hỏa.
- Phá, Kình, Đà, Hình, Kỵ.
Ngoài ra, Mệnh nào có Tang Hổ, Khốc Hư, Cô Quả, Đẩu Quân thường u buồn, uỷ mị, dồn ép.
Những bệnh ở chân tay, gân cốt
Về cơ thể, chân tay do Thiên Mã chỉ danh. Về bệnh lý, hai sao Kình, Đà cũng có nghĩa bệnh tật liên quan đến tứ chi. Sau đây là những bộ sao đáng lưu ý:
- Mã, Đà: có tật ở chân tay.
- Mã, Hình: có thương tích ở chân tay.
- Hình, Đà: chân tay bị yếu gân.
- Vũ, Riêu: tê thấp hoặc phù chân tay.
Những bệnh lạ
Theo dị đoan, có vài bệnh lạ mà sách Tử Vi có liệt kê gồm có:
- Cơ, Hỏa, Linh: bệnh ma làm, quỷ ám.
- Riêu, Hỏa, Linh: bị ma quỷ phá phách, quấy nhiễu.
Ngoài ra, Thái Thứ Lang có ghi nhận vài bệnh lạ khác như ung thư (Sát, Hao, Mộc, Kỵ), hủi (Bệnh Phù, Hình, Kỵ).
Những tật
Tật là những bất thường trong sự cấu tạo cơ thể hay những mất mát trong bộ phận cơ thể, có ảnh hưởng đến hình dáng của bộ phận, những cử động của bộ phận, những năng khiếu của bộ phận.
Ví dụ như người gù, bướu (hình dáng cơ thể), người què, người nói lắp (cà lăm), người cận thị, viễn thị là có tật (cử động năng khiếu).
Những bộ sao tật ghi nhận được tương đối ít, không liệt kê được hết các tật.
- Vương, Kình, Đà hay Hình: lưng có tật, có thể là lưng tôm, lưng gù, sát chiều nghiêng về phía phải hay trái.
- Mã, Đà hay Tuần, Tuần: có tật ở chân tay, có thể là què, chân dài chân ngắn, tay cán sảng, tay lọi, chân hay to nhỏ không đều, có thể cụt một chân một tay, hoặc mất bàn chân bàn tay.
- Việt, Đại, Tiểu Hao: so vai, vai cao, vai thấp. Khôi, Việt gặp Hình cũng có nghĩa này.
- Tướng, Hình: nói ngọng.
- Tuế, Đà, Riêu, Cái: nói lắp (cà lăm).
- Vũ, Riêu, Việt, Toái: câm.
- Sát, Kình, Đà, Linh, Hỏa: tật gù lưng.
- Cự, Hỏa hay Linh: miệng méo.
- Kỵ, Riêu: sứt môi.
- Phượng, Kiếp, Kình: điếc.
- Trì, Kình: mũi sống trâu, mũi lệch.
- Nhật, Nguyệt gặp Riêu, Đà hay Kỵ: mắt có tật, có thể là cận thị, viễn thị, loạn thị. Nếu gặp cả 3 thì tật nặng có thể lòa, quáng gà.
- Vũ, Tướng: có ám tật, tật kín.
- Cự, Nhật: hình dáng dị kỳ.
- Tồn, Không, Kiếp: có ám tật mới sống lâu.
Thông thường, các sao Thiên Hình, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ, Thiên Riêu là những sao thường gây tật khi đi chung với những sao chỉ bộ phận cơ thể.
Định nghĩa danh từ Họa
Sau chuyện bệnh và tật của thân xác, lá số nhìn sang những tai ách đến từ bên ngoài — và trước hết, phải hiểu chữ họa nghĩa là gì.
Khi đặt bút viết về cách họa, cũng như độc giả xem phần họa cách, chúng ta không khỏi sửng sốt trước số lượng, hình thái và phạm vi của chúng. Họa cách kể ra quá nhiều: điều đó không có nghĩa là tác giả bi quan.
Tác giả chỉ muốn khách quan và thực tiễn. Đó là hai tiêu chuẩn mà khoa Tử Vi nhìn họa cách của con người. Thật vậy, khoa Tử Vi không quan trọng hóa những hoạn nạn của cá nhân. Khoa này chỉ là một tấm gương phản chiếu sự đời. Ở đời, họa nhiều phước ít thì Tử Vi học phải diễn xuất sự chênh lệch đó sao cho đúng mức. Có thể nói khoa Tử Vi cũng chưa nói hết tai họa trùng điệp của con người, mà chỉ liệt kê một số lượng tương đối khiêm nhường, thấp hơn thực tế. Họa cách hãy còn ở mức độ tổng quát, phải dùng đến các sao đa nghĩa để diễn tả. Sánh với quan niệm Trung Hoa, họa cách trong Tử Vi Việt Nam hãy còn nhẹ.
Dù vậy, với cái kho tàng họa hoạn hiện có của khoa Tử Vi thì số lượng họa không phải nhỏ.
Đó là chúng ta mới hiểu danh từ họa theo nghĩa hẹp, bao gồm những tai ách, biến cố xảy ra cho cơ thể, sinh mạng, nghề nghiệp, tài sản, gia đạo. Chúng ta không kể và chưa kể tới bệnh tật cũng nguy hiểm cho cơ thể, tính mệnh, lẽ ra phải coi là họa nốt mới phải. Chúng ta tách bệnh tật ra để khảo cứu riêng cho cặn kẽ và chi tiết. Nhờ đó, ta mới có thể đi sâu hơn vào từng lãnh vực giải đoán một cách cụ thể, đầy đủ và chính xác hơn.
Mặt khác, chúng ta không xem nghèo là một mối họa. Nghèo là nghèo, họa là họa. Người nghèo vẫn có thể bị họa cho cơ thể, tính mạng, nghề nghiệp, gia đạo, cũng có thể bị họa cho tài sản (cháy nhà). Và thiếu phương tiện, họ phải chịu cả bất trắc của thời cuộc, của kinh tế, của tài chánh mới với mức độ và cường độ còn nặng nề hơn các giới khác. Hung sát tinh đối với họ mang ý nghĩa đầy đủ, đa diện và tích cực.
Ở đây, chúng ta cứu xét theo phạm vi, rồi phân biệt trong mỗi phạm vi những hình thái và cường độ khả hữu. Xét về phạm vi, có thể phân biệt 6 địa hạt:
- Họa cho cơ thể, tính mạng.
- Họa cho nghề nghiệp, công danh.
- Họa cho tài sản.
- Họa cho gia đạo.
- Họa cho con cái.
- Họa cho cha mẹ, quyến thuộc.
Họa của mỗi địa hạt sẽ di lụy cho lãnh vực đó cũng có thể di lụy đến một hay nhiều lãnh vực khác.
Sự phân chia này cốt cho ngăn nắp, chớ kỳ thật có khi họa xảy ra dây chuyền (họa đôi, họa ba, họa vô đơn chí…)
Trước khi đi vào chi tiết của mỗi lãnh vực, thiết tưởng cần vị trí hóa họa cách trong lá số Tử Vi, tức là xem họa thể hiện ở những cung nào, ở những sao nào?
Họa cách qua các cung
Đã biết họa gồm những gì, lá số chỉ ra những cung nơi tai ách dễ đóng chốt.
Vì họa liên quan đến nhiều lãnh vực, cho nên có nhiều cung can dự. Sao họa đóng ở cung nào thì lãnh vực đó bị thiệt hại.
Tuy nhiên, trong 12 cung, có cung mạnh, cung yếu. Họa cách đóng ở cung cường sẽ mạnh mẽ và đa diện, tức là ảnh hưởng đến nhiều cung khác. Còn nếu đóng ở cung nhược thì chỉ thiệt hại cục bộ mà thôi. Cần nhắc lại rằng sự phân biệt cung cường, cung nhược không bao giờ cố định. Sự mạnh, yếu của các cung thay đổi tùy theo người, tùy theo tuổi. Thành thử, phải linh động đánh giá họa cách theo bối cảnh các cung cường, nhược của mỗi người, mỗi tuổi.
Nói chung, bất luận tuổi nào, người nào mà gặp họa cách ở năm cung Phúc, Mệnh, Thân, Tật, Hạn, đều bất lợi.
Cung Phúc
Khoa Tử Vi vốn xem cung Phúc có ảnh hưởng đa diện, cho nên họa cách ở Phúc thì tai nạn lớn. Đặc biệt khi cung này có nhiều họa cách nặng nề thì tầm ảnh hưởng sẽ rộng thêm ra.
Nếu gặp với cách vừa phải, họa sẽ ít hơn là thu hẹp hơn. Dù sao, cần lưu ý rằng vì Phúc liên quan dây chuyền đến Tài, Di và Phu Thê, cho nên họa nơi cung Phúc sẽ ảnh hưởng đến tài sản, thời thế và gia đạo. Nếu với cách vừa nhiều, vừa nặng thì có thể cả ba địa hạt đó đều liên lụy hết. Nếu họa cách vừa phải thì chỉ di lụy đến một hoặc hai địa hạt mà thôi. Tùy theo sao họa hội tụ vào cung nào thì cung đó bị thiệt hại nhiều nhất.
Mặt khác, vì cung Phúc ám chỉ dòng họ cho nên họa đó còn xảy ra cho tông tộc nói chung, hoặc nhiều người trong tông tộc.
Xem thế, cung Phúc bị họa sẽ hết sức bất lợi, gieo bất hạnh căn bản cho đương số và dòng họ, trên cả 3 phương diện tiền bạc, thời thế và gia đạo. Thành thử, thuật Tử Vi đòi hỏi phải xem thật kỹ cung Phúc.
Cung Mệnh, cung Thân
Họa cách của Phúc có ảnh hưởng lớn đến hiện kiếp con người ở Mệnh và ở Thân. Nếu tại Mệnh, Thân mà có thêm một số họa cách khác thì hai loại này chồng chất nhau, bổ túc nhau phá hoại đời người đến cùng cực. Đặc biệt là nếu họa cách ở cung Phúc, Mệnh, Thân đã vừa nhiều lại vừa nặng thì số người đó không có cách gì khá được: đó là số cùng đinh, cơ bần, yểu tử, hèn mạt, tật nguyền hay tu hành.
Nếu Mệnh, Thân khá hơn thì còn giảm nhẹ ít nhiều.
Họa cách tập trung ở cung Mệnh thì họa xảy ra nhiều cho tiền vận (từ nhỏ đến khoảng 30 tuổi), nếu tập trung ở Thân thì chịu họa về sau. Nếu Thân, Mệnh đồng cung mà có họa thì suốt đời cơ khổ.
Nếu họa cách tập trung ở Mệnh, Thân thì những thiệt hại cũng sâu rộng không kém gì ở Phúc, bởi lẽ đây là mối họa xảy ra cho con người sinh thời, liên quan đến cá nhân mình. Trong thời buổi nhiễu nhương, họa cách rất dễ xảy ra. Thông thường, họa là hậu quả của ác tính, sát nghiệp của đương số. Nếu họa cách đóng ở Mệnh, Thân thì quả báo nhãn tiền: con người phải trả ác nghiệp của mình ngay trong kiếp này. Đó là mối nguy lớn nhất, vì trong trường hợp đó, con cái, chồng vợ cùng chịu ảnh hưởng liên đới.
Cung Tật
Tuy gọi là Tật song cung này hàm chứa cả bệnh lẫn họa. Vì thế cho nên rất khó phân biệt rõ rệt cả 3 phương diện.
Nếu Tật, Phúc, Mệnh, Thân cùng xấu thì có thể con người chịu cả 3 ách một lúc. Nếu được tốt ở trong 1 trong 3 cung này, thì có thể chỉ gánh một hoặc hai ách là cùng.
Tuy nhiên, đối với người bệnh nặng, cung Tật trở thành cung cường: nếu Tật xấu, dù Mệnh, Thân có tốt cũng khó quân bình bất lợi.
Một cung Tật xấu vừa còn có thể được Mệnh Thân tốt cứu gỡ đến một mức nào đó, đến một tuổi nào đó. Quá mức đó, quá tuổi đó, cung Tật vẫn tác họa được. Cung này không bao giờ bị tê liệt hoàn toàn bởi sự tốt đẹp của những cung khác: đến một lúc nào đó, bệnh tật hay tai họa vẫn có thể xảy ra. Cái mức, cái tuổi, cái họa lúc này là hàm số của việc giải đoán.
Nếu họa cách xuất hiện ở bốn cung Phúc, Mệnh, Thân, Tật, cá nhân đó nhất định yểu sớm. Trong trường hợp này rất khó họa nào xảy ra trước nên bắt buộc phải xem cung hạn để định thời gian.
Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc
