Bài tổng quan
Quyền thật, quyền hờ: Hóa Quyền, Quốc Ấn và nhóm sao chức phận
Có người nắm quyền thật sự, có người chỉ có hư quyền, có thế lực mà không có quyền — ranh giới ấy nằm gọn trong một dải phụ tinh mà khoa Lý số học gọi là phụ tinh chỉ quyền uy, chức phận. Từ tấm ấn vua ban đến cái đai, ngọn cờ, con hổ thêu trên áo quan, mỗi biểu tượng đều xác nhận thêm một tầng nấc quyền lực. Nhưng ngay giữa dải sao tưởng như toàn điều tốt lành ấy, vẫn ẩn chứa một cái bẫy ít ai để ý...
Sáu nhóm phụ tinh dự phần vào việc tạo nên quan cách
Các chính tinh, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều cần phụ tinh đi kèm thì quan cách mới thật cao; phụ tinh mà đắc địa nữa thì càng tốt. Cho dễ xét đoán, phụ tinh về quan cách có thể xếp thành sáu loại: chỉ quyền uy, chức phận; chỉ tài năng; chỉ khoa bảng; chỉ thời thế, hoàn cảnh; chỉ người phụ tá; chỉ bổng lộc, tài lợi. Cách chia này chủ yếu để tiện gọi tên, còn ngoài đời, khoa bảng, quyền chức, tài năng và bổng lộc vốn gắn bó mật thiết với nhau: người đỗ đạt cao thường có cơ hội lên quan, người quyền chức lớn thường kéo theo bổng lộc dồi dào, và tài năng thực sự luôn là nền chung cho tất cả. Nhóm đầu, cũng là nhóm trọng yếu nhất, là các phụ tinh chỉ quyền uy, chức phận; chúng tượng trưng cho sự hiển đạt công danh, rất cần có ở cung Quan Lộc và rất cần hội tụ cùng các quyền tinh, dũng tinh khác.
Nhóm này đứng đầu vì nó đáp thẳng vào câu hỏi cốt lõi của mọi quan cách: người này có thực quyền hay không, và thực quyền lớn đến đâu. Một chính tinh dù đắc địa đến mấy, như Chủ Tinh hay Thái Dương, cũng chỉ cho biết đương số có tư chất và có cơ hội bước vào quan trường; còn quyền hành cụ thể, chức tước rõ ràng thì phải nhờ dàn phụ tinh này mới định được. Nói bằng hình ảnh, chính tinh là tư cách của một con người, còn nhóm phụ tinh chỉ quyền uy là văn bằng, sắc phong, phẩm hàm mà người ấy thực sự nhận được trong đời. Hai người có cùng một chính tinh quyền tinh ở cung Quan vẫn có thể sống hai sự nghiệp cách nhau trời vực, chỉ vì một người đủ cả Hóa Quyền lẫn Quốc Ấn còn người kia thì không. Bởi thế, phần này phải xét kỹ, không thể bỏ qua chỉ vì chúng "chỉ là" phụ tinh.
Hóa Quyền và Quốc Ấn: hai dấu hiệu của quyền lực chính thức
Hóa Quyền là biểu tượng của quyền hành và thế lực. Thường thì hai điều này đi liền nhau, nhưng đôi khi tách rời: có người nắm quyền hành mà thiếu thế lực, có người thì ngược lại. Quyền hành là khả năng khiến người khác làm theo ý mình; thế lực là chỗ dựa giúp quyền hành dễ thành công. Quan cách toàn vẹn phải có đủ cả hai, khi ấy con người mới có thực quyền, như trường hợp Hóa Quyền đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Chính tên "Hóa Quyền" đã nói lên bản chất: đó là quyền được "hóa" ra, nghĩa là quyền lực chẳng có sẵn từ đầu như ở Chủ Tinh hay các quyền tinh chính tông, mà sinh thêm từ can chi năm sinh của mỗi người, đậu vào một chính tinh cụ thể để chính tinh ấy thêm phần quyền biến.
Rơi vào chỗ bình thường hoặc hãm địa, tức các cung Tý, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, thì quyền vừa thấp vừa ít, chẳng mấy ý nghĩa: khi là hư quyền, khi là thứ quyền chỉ nằm trong bóng tối, khi là thế lực mà không có quyền, khi chỉ là phẩm hàm suông. Đứng trên quý cách mà nhìn, quyền phải lớn, phải sáng, phải tỏa công khai ra đám đông và khiến nhiều người cúi theo thì người ta mới nên việc. Do đó, quyền chính danh phải mọc lên từ một thế lực chính danh, như được sắc phong tử tế và loan báo khắp thiên hạ; thiếu lệnh phong tặng ấy thì cái người ta có chỉ là thế lực hay sự tín nhiệm tầm thường.
Địa hạt của Hóa Quyền khá rộng, gồm võ quyền, văn quyền (quyền nơi quan văn) và giáo quyền (quyền nơi thầy tu, giáo sĩ). Tuy vậy, sao này không nói rõ mình thuộc địa hạt nào; người làm quan theo lối nào thì Hóa Quyền mang nghĩa võ, văn hay giáo quyền theo lối ấy. Dù sao, hễ đã có Hóa Quyền thì đường làm quan nào cũng rạng rỡ. Khi Hóa Kỵ đồng hành mà cung Quan vốn tươi đẹp, hai sao ấy báo hiệu một người vừa nắm quyền vừa giàu mưu kế, biến hóa khôn ngoan, chỉ hiềm có Kỵ nên hay bị người đời dè chừng. Khi Địa Không, Địa Kiếp hợp vào ở Tỵ, Hợi, quyền nổi lên vừa nhanh vừa lớn, thời thế đẩy đưa mà tạo nên anh hùng, chỉ tiếc Không, Kiếp đi kèm nên khó giữ lâu.
Người có Hóa Quyền thường hay tự đắc, tự tôn, kiêu ngạo, thích lấn lướt và hiếu thắng, thành ra sao này giúp công danh mà không giúp tính nết; cần có thêm những sao mang đức hạnh thì Hóa Quyền mới quay về điều thiện. Ở đây hiện ra quan niệm xưa về quyền: quyền chỉ bền khi dùng để nhân trị, gieo đức, yên dân, làm lợi cho muôn người; ngược lại, quyền hóa thành họa, làm hại người và cuối cùng mình cũng thân bại danh liệt. Nguyên lý "quyền phải đi cùng đức" ấy không phải do Lý số học tự đặt, mà là chắt lọc từ cả một truyền thống chính trị Nho giáo đã nói ở phần đầu. Điều người xưa ngại nhất là kẻ nắm quyền mà thiếu đức, bởi quyền nếu không có đức cầm cương sẽ sinh chuyên quyền, độc đoán, khổ lây cả cộng đồng chứ không chỉ khổ cho người giữ quyền. Vì lẽ đó, gặp hung tinh hay vận xấu, Hóa Quyền đem họa đến cho đương số rất gấp. Tại cung Quan, Hóa Quyền là dấu hiệu của việc tham gia chính sự và lối làm quan hiển đạt, đặc biệt khi có Hóa Khoa và Lộc Tồn cùng đi.
Quốc Ấn chính là chiếc ấn nhà vua trao, là tờ sắc phong thưởng, là văn kiện bổ nhiệm. Vì thế nó chứa nhiều nghĩa về công danh, chỉ người giữ chính chức, có vị thế từ buổi đầu. Ý nghĩa của Quốc Ấn giống Hóa Quyền song nhẹ ký hơn. Khi Quốc Ấn kết hợp với Phục Binh, Thiên Hình, Tướng Quân, nghiệp võ vinh hiển vô cùng, đó là quân nhân nắm binh, nắm quyền, có oai. Quốc Ấn còn hàm nghĩa huy chương, bằng khen: kẻ giữ Quốc Ấn ở cung Quan là viên chức có công được thưởng bằng việc thăng chức, sắc phong, huy chương, tưởng lục; dù quan võ hay quan văn, hễ có Quốc Ấn đều được huy chương. Nếu Quốc Ấn đóng ở các cung ban đêm thì có thể chỉ là lời khen bình thường, hoặc là sự truy tặng sau lúc đã khuất. Chi tiết ấy chứng tỏ Lý số học biết tách bạch khá tinh tế giữa vinh dự nhận khi còn sống và vinh dự đến khi đã mất, và người xem số phải chú ý các sao đồng hành để biết Quốc Ấn trong lá số thuộc trường hợp nào. Tóm lại, Quốc Ấn tọa Quan, Mệnh, Thân thì người ấy dễ tiến, được kính trọng, được ghi công trên đường hoạn lộ.
Đặt Hóa Quyền cạnh Quốc Ấn, ta thấy một điểm khác đáng lưu ý: Hóa Quyền là quyền lực đang vận hành, chi phối người khác ngay trong hiện tại, nên kèm theo mặt trái là tính tự đắc, hiếu thắng như đã nói. Quốc Ấn nghiêng về sự ghi nhận, là một tấm bằng khen, một tờ sắc phong, một chiếc huy chương, tức thành quả của công lao đã qua, nên ít mang tính kiêu căng như Hóa Quyền. Có thể ví Hóa Quyền là quyền hành đang nắm trong tay, còn Quốc Ấn là chứng thư nhà nước xác nhận cho quyền hành đó. Quan cách có đủ cả hai, vừa cầm quyền thực sự vừa được chính thức tấn phong, mới trọn vẹn cả nội dung lẫn hình thức.
Tứ Linh và các bộ sao mang danh hiệu, phẩm hàm
Long, Phượng, Hổ, Cái hợp thành Tứ Linh, cũng là một quý cách khá cao nhờ các biểu tượng đi kèm: rồng, phượng, cọp, lọng che. Thanh Long, Long Đức đóng ở Thìn là cách rồng nằm trong động rồng, rất hợp vị, tượng trưng cho quyền tước và tài năng được dùng đúng chỗ.
Ba sao Phong Cáo, Thai Phụ, Đường Phù có nghĩa gần nhau, đều chỉ bằng sắc, công trạng, huy chương, quyền hành, nhưng yếu hơn Hóa Quyền hay Quốc Ấn. Đó là người viên chức có danh tiếng, có huy chương; trong ba sao này, Đường Phù có ý nghĩa kém nhất.
Cung Quan mà phía trước giáp Hoa Cái, phía sau giáp Thiên Mã là một biểu tượng của quyền uy, có lọng (Cái) và ngựa (Mã) theo hầu. Có điều cách Tiền Cái, Hậu Mã này nên nằm ở cung ban ngày mới rạng rỡ trọn vẹn. Quan Đới là chiếc đai, biểu tượng cho chức vị và quyền hành; quyền chức ấy có thể cao, vì thuở xưa chỉ quan phẩm cao mới được đeo loại đai này.
Cách Tiền Cái, Hậu Mã và sao Quan Đới có chung một điểm: cả hai đều mượn hình ảnh trang phục, nghi trượng đi theo người làm quan để nói về quyền uy, thay vì mượn hình ảnh linh thú như Tứ Linh hay Bạch Hổ. Đây cũng là một cách chia khác trong cùng một nhóm phụ tinh: có sao lấy biểu tượng từ muông thú (rồng, phượng, hổ) để chỉ khí phách, sức mạnh tự thân; có sao lấy biểu tượng từ y phục, phẩm vật (đai, ấn, sắc phong) để chỉ địa vị được nhà nước công nhận. Hai lối biểu tượng này bổ khuyết cho nhau: một bên nói bản lĩnh cá nhân, một bên nói sự thừa nhận chính thức từ bên ngoài.
Bạch Hổ cùng Tấu Thư tạo thành cách hổ đội hòm sắc, khá thuận cho đường công danh, ngụ ý người ấy được tin dùng và giao trọng trách, đặc biệt khi hai sao chung một cung ở Dần, vì hổ nằm đúng nơi hổ ngự. Ở Dần, Bạch Hổ rất vừa vị trí; nếu Phi Liêm, sao của sự cất cánh và thăng tiến, cùng góp mặt, công danh nhẹ bước đi lên, trong ngành văn và nhất là ngành võ.
Điều dễ thấy ở cả dãy sao vừa kể, gồm Tứ Linh, Phong Cáo, Thai Phụ, Đường Phù, Tiền Cái, Hậu Mã, Quan Đới, Bạch Hổ, Tấu Thư, Phi Liêm, là chúng đều mượn hình ảnh nghi trượng, phẩm phục của triều đình xưa làm biểu tượng: cái lọng, con ngựa, chiếc đai, tờ sắc, con hổ thêu trên áo quan... Mỗi vật ấy ngoài đời vốn để phân biệt phẩm trật, nên khi vào Lý số học, chúng cũng chỉ đóng vai tô điểm và xác nhận thêm cho một quan cách đã có nền từ chính tinh; tự thân chúng không đủ sức dựng nên một sự nghiệp lớn nếu đứng một mình mà không có chính tinh vững chãi làm gốc.
Tướng Quân: võ tinh nhỏ, cần quý tinh lớn nâng đỡ
Tướng Quân thuộc hàng võ tinh, hợp với nam giới và võ cách, ám chỉ lối làm quan võ có nắm quân. Song vì chỉ là sao nhỏ, quân nhân mang nó chỉ ở hạng thấp và huy động những đơn vị bé. Được Thiên Tướng đi cùng thì nâng lên thành võ quan cao cấp, thực sự cầm quyền chỉ huy. Quan cách của Tướng Quân có sự can trường, hiên ngang, nhưng cũng liều lĩnh, lại mang tinh thần sứ quân, thích tự tôn, tự phụ, có khi dùng binh quyền sai mục đích; do đó Tướng Quân mà gặp sao xấu thì dễ rơi vào cảnh nguy kịch.
Được cát tinh kề bên, Tướng Quân cho ra một hạng viên chức hay quân nhân rất lanh lẹ, hăng hái xông pha, sẵn lòng nhận việc khó, nhiều sáng kiến, thậm chí sáng kiến quá đà mà chệch khỏi đường lối cấp trên. Khi gặp Thiên Tướng, đặc biệt trong thế xung chiếu, Tướng Quân nổi bật trong binh nghiệp.
Trường hợp Tướng Quân minh họa rõ cho nguyên tắc chung của cả nhóm phụ tinh chỉ quyền uy: một phụ tinh nhỏ tự nó không quyết định được bao nhiêu, tốt xấu gần như hoàn toàn tùy bạn đồng hành. Vẫn là Tướng Quân, đi với cát tinh thì thành người xông xáo, nhiều sáng kiến; đi với Thiên Tướng thì vụt lên hàng võ quan cao cấp; đi với sao xấu thì chính sự hăng hái, tự tôn của nó thành mối nguy, dễ đẩy đương số vào chỗ nguy kịch. Đó cũng là bài học chung khi luận bất kỳ phụ tinh quan lộc nào: không thể thấy một sao mà kết luận vội, phải đặt nó vào toàn cảnh của cả tổ hợp sao mới thấy sức nặng thật. Nguyên tắc ấy áp dụng ngược lại cho Hóa Quyền, Quốc Ấn hay mọi phụ tinh chỉ quyền uy khác đã nói ở trên: một mình chúng chẳng dựng nên sự nghiệp, mà phải nương vào chính tinh làm gốc, y như Tướng Quân phải nương Thiên Tướng mới hiển hách.
Các phụ tinh chỉ quyền uy, chức phận giống như những tấm huân chương gắn thêm lên quan cách vốn đã có từ chính tinh: sao mạnh như Hóa Quyền, Quốc Ấn đủ sức nâng một quan cách tầm thường lên hàng hiển hách; sao yếu như Phong Cáo, Đường Phù chỉ tô thêm chút danh tiếng. Song quyền uy, chức phận mới là một mặt của quan trường; bên cạnh còn phải kể tài năng thật của con người, vì có chức mà không có tài thì quyền uy ấy cũng khó bền. Vì vậy quan cách muốn đứng vững lâu dài thì không thể chỉ dựa vào danh phận suông.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).
