Bài tổng quan
Thiên Lương Củng Nguyệt, Văn Tinh Ngộ Giáp Và Khôi Việt Hung Xung Cách
Một danh sĩ mang Thiên Lương ở cung Hợi, tài hoa nhưng phong lưu lãng đãng, bị người xưa quy cho tội "nữ dâm bần" chỉ vì đứng lạc chỗ. Một người khác mang Văn Xương ở cung thân, vốn lợi về khoa cử, nhưng chỉ cần Địa Không Địa Kiếp giáp cung là học hành tới già vẫn không xong, chẳng ai lý giải nổi vì sao. Đến cả hai sao quý nhân Khôi Việt, vốn được xem là bảo chứng cho một đời thi đỗ, cũng có thể biến quý nhân thành tiểu nhân chỉ vì một sao hung đứng cạnh. Bốn cách cục khép lại phần phân tích cách cục cho thấy ranh giới giữa vinh và nhục trong một lá số mỏng hơn người ta tưởng. Đâu là điều thực sự quyết định, tên gọi cách cục hay vị trí chính xác của từng sao?
Thiên Lương củng Nguyệt cách
Cách cục "Thiên Lương củng Nguyệt" tức là hai sao "Thiên Lương, Thái Âm" thủ mệnh mà rơi vào hãm địa (Xem hình 144, 145). Cổ ca nói:
月梁落陷最堪伤,
必定飘蓬在外乡,
唱舞酣歌终日醉,
风流荡尽祖田庄.Phiên âm:
Nguyệt Lương lạc hãm tối kham thương,
Tất định phiêu bồng tại ngoại hương,
Xướng vũ hàm ca chung nhật túy,
Phong lưu đãng tận tổ điền trang.Dịch nghĩa:
Nguyệt Lương lạc hãm nhiều tổn thương,
Tất sẽ phiêu bồng tại tha phương,
Ca nhạc hát múa suốt ngày say,
Phong lưu phá tán sạch điền trang.


Vương Đình Chi cho rằng cách cục này có chỗ lẫm lẫn, bởi vì Thiên Lương và Thái Âm không bao giờ đồng cung. Cổ quyết thì có các thuyết như sau:
"Thái Âm thủ mệnh lạc hãm, hóa làm Khoa, Lộc hay Quyền thì "phản hung" (thành không còn hung), đi xa rời xa quê hương thì cát. Còn gặp tứ sát thì tửu sắc dâm tà." (太阴守命落陷,化科禄权返凶,出外离祖获吉,更遇四煞,酒色淫邪 Thái Âm thủ mệnh lạc hãm, hoá Khoa Lộc Quyền phản hung, xuất ngoại li tổ hoạch cát. Canh ngộ tứ sát, tửu sắc dâm tà).
"Thiên Lương ở hãm địa mà gặp Kình Dương, Đà La, thì phạm thuần phong mĩ tục." (天梁陷地见羊陀,伤风败俗 Thiên Lương hãm địa kiến Dương Đà, thương phong bại tục).
"Thiên Lương Thái Âm thì nữ dâm bần." (天梁月曜女淫贫 Thiên Lương Nguyệt diệu nữ dâm bần).
Theo Vương Đình Chi, "Thiên Lương củng Nguyệt" là Thiên Lương cư hai cung Tị hoặc Hợi, Thái Âm cư hai cung Sửu hoặc Mùi; hoặc Thái Âm cư Dần Thân, Thiên Lương cư hai cung Tí hoặc Ngọ. Tức theo thuyết: "Thiên Lương ở Tị Hợi, Thái Âm ở Dần Thân, chủ về dâm dật, không ở hãm địa thì no ấm, nếu ở hãm địa thì nghèo hèn." (梁巳亥,阴寅申,主淫侠,不陷衣禄遂,如陷,下贱 Lương Tị Hợi, Âm Dần Thân, chủ dâm dật, bất hãm y lộc toại, như hãm, hạ tiện).
Cách cục này thực ra cũng chẳng có gì là không tốt. Bởi vì Thiên Lương là sao có khí chất của danh sĩ, thực ra không phải là tầm thường. Chỉ là người trông có vẻ phong lưu lãng tử, cho nên người xưa đánh giá thậm tệ mà thôi.
Vương Đình Chi cho rằng ở đây có chỗ khó hiểu là, tại sao Thái Âm lạc hãm mà Hóa Khoa, Hóa Lộc hay Hóa Quyền lại biến thành không còn hung. Suy nghĩ kĩ, thấy Thái Âm gặp cát tinh chủ về giàu tình cảm, phong lưu lãng tử một khi xảy ra chân tình, tự nhiên tinh thần sẽ gặp nhiều bối rối khó xử, khó mà làm kẻ vong tình.
Văn tinh ngộ giáp cách
Thiên Lương Thái Âm bị chê phong lưu lãng đãng chỉ vì đứng lạc chỗ; hai sao văn tinh dưới đây thì ngược lại, tốt xấu tùy vào việc có hai sao nào kèm sát bên hay không.
Cách cục "Văn tinh ngộ giáp" tức là Văn Xương hoặc Văn Khúc thủ cung thân, gặp Địa Không, Địa Kiếp giáp cung (Xem hình 146).
Cổ ca nói:
夹地文星遇守身,
一生劳碌败无成,
逢财得禄世间好,
数尽还教夭且贫.Phiên âm:
Giáp Địa văn tinh ngộ thủ thân,
Nhất sinh lao lục bại vô thành,
Phùng tài đắc lộc thế gian hảo,
Số tận hoàn giáo yểu thả bần.Dịch nghĩa:
Sao văn ở thân gặp Địa giáp,
Một đời vất vả bại thành không,
Phùng tài được lộc đời bỗng vui,
Số hết trở về nghèo còn yểu.

Cách cục này không có trong bản chép tay đời Nguyên, có lẽ do người đời Minh định cách. Theo bí truyền của phái Trung Châu, cách cục này được giải thích khá tỉ mỉ. Vương Đình Chi tiết lộ như sau:
Văn Xương thủ cung thân, bất luận có hay không có chính diệu, thông thường đều lợi về khoa cử công danh, nhưng nếu bị Địa Không, Địa Kiếp giáp cung, trái lại, có thể bất lợi về thi cử. Nguyên nhân bất lợi chẳng phải vì không đủ trình độ, mà là thất bại chẳng rõ lí do.
Nếu như cung mệnh có chính diệu tốt, thì còn có phương pháp bổ cứu, có thể bỏ thi cử mà chuyển sang kinh doanh buôn bán, hoặc đi "con đường khác" mà tìm công danh.
Văn Khúc thủ cung thân, bất luận có hay không có chính diệu, đều lợi về kiếm sống bằng ngòi bút, nhưng nếu bị Địa Không, Địa Kiếp giáp cung, thì trái lại, chủ về thất lợi trong việc sống bằng ngòi bút, nếu như cung mệnh có chính diệu tốt, thì có thể làm nghề khác để sống.
Nên những điều được truyền lại ở trên chỉ thích hợp với xã hội đời Thanh mà thôi, ngày nay chưa chắc đã thích hợp. Vì vậy không nhất định thê lương như "Số hết trở về nghèo còn yểu".
Khoa tinh sát tấu cách
Sao văn gặp Không Kiếp giáp cung thì hỏng chuyện thi cử, chuyện bút nghiên; sao khoa dưới đây, khi gặp sát tinh quá nặng, lại hỏng đúng vào thứ mà nó vốn giỏi nhất.
Cách cục "Khoa tinh sát tấu" tức là sao Khoa thủ thân mệnh, gặp tứ sát, Hóa Kị, Địa Không, Địa Kiếp quá nặng (Xem hình 147).
Cổ ca nói:
命宫科曜正为清,
凶众多为林下人,
甚至吉星不失局,
读书至老没功名.Phiên âm:
Mệnh cung khoa diệu chính vi thanh,
Hung chúng đa vị lâm hạ nhân,
Thậm chí cát tinh bất thất cục,
Độc thư chí lão một công danh.Dịch nghĩa:
Mệnh cung khoa diệu thật thanh cao,
Sao hung như núi thành người dưới,
Thậm chí cát tinh không thất cục,
Học hành tới già vẫn không xong.
Cổ nhân rất trọng khoa cử công danh, cho nên thuật sĩ hai đời Minh Thanh cũng rất trọng "Hóa Khoa". Phàm có sao Khoa thủ mệnh thì cho rằng thi cử đắc lợi, do đó có thể xuất thân theo con đường chính. Ngày nay lấy Hóa Khoa làm danh dự, không nhất định "cung mệnh có sao Khoa" thì có thể được công danh theo con đường chính.
Hóa Khoa rất sợ Địa Không, Địa Kiếp, cổ nhân cho rằng công danh hiểm trở, gập ghềnh.
Nếu Văn Xương, Văn Khúc Hóa Khoa mà có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, người này tuy có tiếng về văn chương nhưng cũng chẳng được gì. Cho nên nói "Học hành tới già vẫn không xong" là vậy.

Ở xã hội hiện đại, chỉ cần nổi tiếng trong nghề nghiệp, không cần phải đỗ đạt cao mới có thể lập thân trong xã hội, do đó cách cục "Khoa tinh sát tấu" biến thành có ý nghĩa khác. Có một số người thanh danh rất lớn, nhưng lại gây nên nhiều tình huống lúng túng khó xử vô vị, thậm chí chuốc lời oán trách, có khả năng thuộc cách cục này.
Vả lại, không chỉ văn nhân mới vậy, trong xã hội thương nghiệp có nhiều văn thư qua lại, nếu gặp "Khoa tinh sát tấu" sẽ dễ vì hợp đồng làm ăn mà dẫn tới tranh chấp thị phi. Vương Đình Chi có một người bạn, Thiên Cơ Hóa Khoa thủ mệnh, có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, "Khoa tinh sát tấu", lúc trong lưu niên cũng rất tốt thì bị ngân hàng cho rằng "chữ kí không đúng", có thể nói là cười ra nước mắt, sự "gập ghềnh" này hoàn toàn không liên quan gì tới thi cử.
Khôi Việt hung xung cách
Sao Khoa lận đận vì hợp đồng, vì chữ kí; hai sao quý nhân dưới đây, khi bị sát tinh xung phá, lại lận đận ngay chính trong chuyện thi cử mà chúng vốn được người xưa tin cậy nhất.
"Khôi Việt hung xung" tức là Thiên Khôi thủ mệnh, hội Thiên Việt; hoặc Thiên Việt thủ mệnh, hội Thiên Khôi; mà đồng thời gặp tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp xung phá (Xem hình 148). Cổ ca nói:
魁钺文星守贵荣,
何愁金榜不题名,
若然星众无星救,
痴疾烟霞耳自宁.Phiên âm:
Khôi Việt văn tinh thủ quý vinh,
Hà sầu kim bảng bất đề danh,
Nhược nhiên tinh chúng vô tinh cứu,
Cố tật yên hà nhĩ tự ninh.Dịch nghĩa:
Khôi Việt thủ mệnh là quý vinh,
Sao buồn kim bảng chẳng đề danh,
Nếu như nhiều sao không được cứu,
Bệnh khó khói mây tự khỏi thôi.

Thiên Khôi, Thiên Việt lợi về thi cử, nhưng tính chất khác với Văn Xương, Văn Khúc. Văn Xương, Văn Khúc là bản thân có học vấn, có thể dựa vào thực học để thi cử, thuộc về "tự lực". Còn Thiên Khôi, Thiên Việt là "quan thi đỗ", không nhất định phải có học vấn, chỉ cần đủ vận may, thì lúc thi cử sẽ được thuận lợi bất ngờ. Cổ nhân nói: "Thiên Khôi, Thiên Việt ở mệnh thân phần nhiều thi đỗ" (魁钺命身多折桂 Khôi Việt mệnh thân đa chiết quế), là ý này. Nếu nói: "Thiên Khôi, Thiên Việt là văn chương cái thế" (天魁天铖,盖世文章 Thiên Khôi Thiên Việt, cái thế văn chương), thì ngược lại, là tại vì người ta luận văn chương theo kiểu "ông hàn lâm", thông thường đương nhiên cho là "cái thế".
Thiên Khôi, Thiên Việt gặp Kình Dương Linh Tinh thì chủ về bệnh khó lành; Thiên Khôi, Thiên Việt gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì trái lại, chủ về không đỗ đạt, cho nên bài cổ ca nói "Bệnh khó khói mây tự khỏi thôi", do vừa suốt đời mang bệnh khó, vừa suốt đời phải ẩn cư, không thể ra làm quan.
Xã hội ngày nay không còn chuyện "tiếu ngạo chốn khói mây", bởi vì ngày nay không còn rừng núi để ẩn dật! Do đó hai cung mệnh thân có Thiên Khôi, Thiên Việt mà lại gặp Kình Dương Linh Tinh đồng độ, tuy vẫn chủ về bệnh nan y đeo vào người, nhưng gặp Địa Không, Địa Kiếp lại là quý nhân biến thành tiểu nhân. Ví dụ như vốn có người muốn để bạt, nhưng bỗng nhiên trở mặt, có thể vì xảy ra chuyện hiểu lầm mà thành thù oán, quan hệ giao tế không tốt, trở nên đơn độc. Đây cũng là một dạng "tiếu ngạo chốn khói mây".
Đến đây, mục phân tích 51 cách cục thường gặp của phái Trung Châu đã khép lại trọn vẹn: từ những cách chính tinh thủ mệnh đơn giản, đến các tổ hợp bốn sao phức tạp, đến những cách cục mà chính Vương Đình Chi cũng phải đặt lại nghi vấn với người xưa. Sợi chỉ xuyên suốt vẫn là một điều: tên gọi đẹp hay xấu của cách cục chỉ là vỏ ngoài, còn cát hung thực sự luôn nằm ở việc sao có đúng vị, đúng thời hay không.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
