Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thái Âm Độc Tọa Tị, Hợi Và Tham Lang Độc Tọa Tí, Ngọ

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202618 phút đọc4 lượt đọc
Thái Âm Độc Tọa Tị, Hợi Và Tham Lang Độc Tọa Tí, Ngọ

Hướng nội hay hướng ngoại, dục vọng mạnh hay yếu, là hai câu hỏi then chốt của hai tinh hệ này. Thái Âm độc tọa ở Tị, Hợi đối Thiên Cơ, tam hợp Thái Dương, Thiên Lương. Thái Âm hướng nội là tốt, nhưng quá đáng thì thành âm mưu thủ đoạn. Thái Âm Hóa Lộc hay Hóa Kị thuộc hướng nội, Hóa Quyền hay Hóa Khoa thuộc hướng ngoại; gặp Linh Tinh, Đà La là hướng nội, gặp Hỏa Tinh, Kình Dương là hướng ngoại. Tham Lang độc tọa ở Tí, Ngọ đối Tử Vi, tam hợp Phá Quân và Thất Sát. Sinh năm Thân, Tí, Thìn có Tham Lang ở Tí, hoặc sinh năm Dần, Ngọ, Tuất có Tham Lang ở Ngọ, là dục vọng mạnh; đảo lại thì yếu. Tham Lang Hóa Quyền làm tăng dục vọng, thiên về vật chất.


Thái Âm Độc Tọa Ở Hai Cung Tị Hoặc Hợi

Thái Âm độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, ắt sẽ đối nhau với Thiên Cơ; cung tam hợp là "Thái Dương, Thiên Lương" và mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" nhập cung.

Muốn luận đoán bản chất của Thái Âm của hai cung này, cần chú ý tính hướng ngoại và tính hướng nội của nó, xem thiên nặng bên nào. Thái Âm hướng nội là tốt, cho nên Thái Âm nặng tính hướng ngoại không bằng Thái Âm nặng tính hướng nội, nhưng cũng không nên hướng nội một cách quá đáng, mà biến thành người âm mưu thủ đoạn, hay dùng kế đắc nhân tâm.

Lấy bản thân Thái Âm để nói, Thái Âm Hóa Lộc hay Hóa Kị đều thuộc tính hướng nội; còn Thái Âm Hóa Quyền hay Hóa Khoa đều thuộc tính hướng ngoại.

Thái Âm gặp Linh Tinh, Đà La là hướng nội; Thái Âm gặp Hỏa Tinh, Kình Dương là hướng ngoại; Thái Âm gặp Tả Phụ, Hữu Bật là hướng nội; Thái Âm gặp Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài thì chủ về phát vượt lên.

Thái Âm gặp Lâm Quan thì chủ về phát vượt lên; gặp sao Bệnh là hướng nội.

Thái Âm ở cung Hợi, người sinh vào ban đêm chủ về phát vượt lên, người sinh vào ban ngày cũng chủ về phát vượt lên nhưng ở mức độ nhỏ hơn. Thái Âm ở cung Tị, bất kể là người sinh vào ban ngày hay người sinh vào ban đêm đều thuộc tính hướng nội, nhưng người sinh vào ban ngày sẽ có tính hướng nội nhiều hơn.

Hội "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Dậu có tính hướng nội mạnh; hội "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Mão, tính hướng ngoại mạnh; hội "Thái Dương, Thiên Lương" Hóa Khoa, tính hướng ngoại mạnh; hội "Thái Dương, Thiên Lương" Hóa Lộc, lại gặp Văn Xương, tính hướng ngoại và tính hướng nội quân bình; hội "Thái Dương, Thiên Lương" Hóa Quyền thì tính hướng nội tăng mạnh.

Hội "Thiên Đồng, Cự Môn" mượn sao an cung, Hóa Lộc hay Hóa Kị đều chủ về hướng nội; nếu gặp thêm các sao khoa văn, các sao đào hoa thì thuộc tính hướng ngoại.

Thái Âm nặng tính hướng nội, nhưng không nên hướng nội quá mức, cần phải có độ hướng ngoại thích hợp, mới là "anh hoa nội liễm" (tài năng không lộ). Nếu đồng thời gặp tính hướng nội của sao lộc, nhất là gặp tính hướng nội của sao kị; trường hợp trước chỉ là tính cách trầm lặng, kín đáo, không khoa trương phù phiếm; trường hợp sau thì hay dùng kế đắc nhân tâm, giở thủ đoạn.

Nếu Thái Âm hướng ngoại quá đáng, dù gặp cát tinh cũng chỉ chủ về hư danh. Ví dụ như có tiếng giàu nhưng không giàu thực, thanh danh lớn nhưng cuộc sống cảm thấy trống rỗng.

Vì vậy, kết cấu tốt nhất của Thái Âm là hơi nặng về tính hướng nội, nhưng lại có độ hướng ngoại thích hợp. Nếu Thái Âm Hóa Lộc, hội Văn Xương, Văn Khúc, và hội hợp thêm Thiên Đồng Hóa Quyền, Thiên Cơ Hóa Khoa, Cự Môn Hóa Kị, lại gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, như vậy là tính hướng ngoại và tính hướng nội điều hòa.

Thái Âm có tính hướng ngoại và tính hướng nội thích đáng, lúc đến 12 cung hạn chỉ cần không có các sao sát, kị, hình quá nặng, còn gặp cát hóa và các sao phụ, tá, đều là điểm lành. Có điều, nó không ưa các cung hạn "Thiên Đồng, Cự Môn" Hóa Kị; Vũ Khúc Hóa Kị; Thất Sát đồng cung với Liêm Trinh Hóa Kị; Tử Vi là "tại dã cô quân" gặp Phá Quân đồng cung với Vũ Khúc Hóa Kị. Nếu gặp các tình huống trên đều là điểm khuynh gia phá sản, thất bại; lúc cung tật ách không tốt (hoặc Thái Âm ở cung tật ách), chủ về bệnh hoạn do âm hư hoặc rối loạn hệ nội tiết, thậm chí là điểm ứng có bệnh kín tiềm phục.

Thái Âm của nguyên cục có tính hướng nội quá mức, ưa các cung hạn có tinh hệ hướng ngoại; như Tham Lang Hóa Quyền hay Hóa Lộc; "Thái Dương, Thiên Lương" Hóa Khoa (Thái Dương Hóa Khoa ưu hơn Thiên Lương Hóa Khoa); Thất Sát Hóa Quyền; Tử Vi Hóa Quyền; Phá Quân Hóa Lộc hay Hóa Quyền. Không nên gặp các cung hạn có tinh hệ hướng nội; như Tham Lang Hóa Kị; "Thiên Đồng, Cự Môn" mà Thiên Đồng Hóa Kị; "Vũ Khúc, Thiên Tướng" mà "Hình kị giáp ấn"; "Thái Dương, Thiên Lương" mà Thái Dương Hóa Kị; Thất Sát đồng cung với Liêm Trinh Hóa Kị; Thiên Cơ Hóa Kị; Tử Vi là "cô quân" gặp Phá Quân đi với các sao sát kị; "Liêm Trinh, Thiên Phủ" là "kho lộ", "kho trống". Ứng nghiệm cát hung, đều căn cứ vào tính chất của các sao hội hợp thực tế để định.

Thái Âm của nguyên cục có tính hướng ngoại quá mức, lúc đến 12 cung hạn, gặp phải các sao hướng nội cũng không có hại gì mấy, có lúc còn chủ về cát tường. Ví dụ như đến cung mệnh của lưu niên "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thuộc "Hình kị giáp ấn", nếu có các sao phụ, tá cát hội, trái lại sẽ chủ về được người ta trọng dụng đề bạt, nhờ vậy mà có vận tốt. Lúc này ý nghĩa của "Hình kị giáp ấn" trở thành bị thượng cấp kiểm soát, điều khiển, hoặc được tập đoàn tài chính hay công ti nào đó ủng hộ; cũng không phải là không tốt.

Cho nên, cũng cùng là Thái Âm thủ mệnh của nguyên cục, cũng cùng là gặp "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thuộc Hình Kị giáp của lưu niên, nhưng cảnh ngộ lại thuận nghịch khác nhau, đây là do Thái Âm thủ mệnh có bản chất khác nhau. Cần phải lãnh hội tính chất khác nhau này mới có thể hiểu được sự đặc biệt trong phép luận đoán Đẩu Số của phái Trung Châu Vương Đình Chi.

Thái Âm thủ mệnh, cần phải xem kèm cung phúc đức, bởi vì trong cung ắt sẽ có Cự Môn, tính chất của sao Cự Môn này (hoặc tính chất của tinh hệ Cự Môn) có thể ảnh hưởng đến bản chất của Thái Âm, như đã biết. Lúc Thái Âm đến 12 cung hạn, cũng cần phải tính đến điểm này. Tức là nói, muốn phán đoán bản chất của Thái Âm ở nguyên cục, cần phải tính đến sự ảnh hưởng của các sao hội hợp với Thái Âm và sự ảnh hưởng của cung phúc đức, tiến hành suy tính cùng lúc mới có thể phán đoán chính xác tính chất thực tế của Thái Âm.

Ngoài ra, Thiên Cơ đồng cung với Thái Âm sẽ có ảnh hưởng như thế nào, điều này cũng rất quan trọng.

Nếu bản thân Thái Âm hướng nội quá mức, mà Thiên Cơ lại hội hợp các sao hướng ngoại, chủ về mệnh tạo rời khỏi quê hương có thể được cát lợi, còn ở lại giữ gia nghiệp thì lại không tốt.

Nếu bản thân Thái Âm hướng ngoại một cách quá đáng, mà Thiên Cơ lại hội hợp với các sao hướng nội, mệnh tạo cũng nên tính đến mối quan hệ giao tế với người ở nơi khác (như người ngoại quốc), để tạo cơ hội cho sự nghiệp tiến tài của bản thân.

Nếu hai sao Thái Âm và Thiên Cơ cùng nặng tính hướng ngoại, thì thành người hay khoa trương phù phiếm, không có thực chất. Ngược lại, nếu hai sao Thái Âm và Thiên Cơ cùng nặng tính hướng nội, thì thành người thủ đoạn, thâm trầm, nhiều mưu kế. Bản chất như vậy không nên vào các đại vận hay lưu niên quá trái nghịch với bản chất.

Ví dụ như, Thái Âm thuộc loại khoa trương phù phiếm vào vận "Thái Dương, Thiên Lương" gặp các sao hình, kị; chủ về dễ xảy ra phạm pháp, điều tiếng, hơn nữa còn chuốc oán, nhất là đố kị, chê bai, phỉ báng. Thái Âm thuộc loại thâm trầm, vào vận "Thái Dương, Thiên Lương" gặp Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Lộc, Hóa Khoa, thì trái lại, sẽ dễ gặp phải tình huống lực bất tòng tâm, dẫn đến phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ.

Đến đây, bạn đọc đã biết được ít nhiều về phương pháp luận đoán đặc biệt của phái Trung Châu Vương Đình Chi. Do trong thực tế, các tổ hợp sao quá phức tạp, không thể liệt kê hết ở đây. Vì vậy, chỉ có thể nêu ra những nét chính của vấn đề để bàn luận, trong lúc luận đoán thực tế, bạn đọc có thể xem lại phần 1 và chương 1 "Chính diệu luận" của phần 2; chỉ cần nắm vững bản chất của tinh hệ ở cung mệnh, thì có thể biết được cảnh ngộ của mệnh tạo khi đến 12 cung đại vận hoặc lưu niên.

Bây giờ xin cử một ví dụ để bạn đọc tham khảo, giúp suy ra những trường hợp khác.

Ví dụ, Thái Âm thủ mệnh ở cung Tị, lạc hãm, người sinh năm Tân, hội hợp với Thái Dương Hóa Quyền, Vũ Khúc Hóa Khoa; cung phúc đức có Cự Môn Hóa Lộc; bản thân Thái Âm còn hội hợp với Lộc Tồn của cung Dậu. Kết cấu sao dạng này đã cải thiện tính hướng nội của Thái Âm lạc hãm thành tính chất "tài năng không lộ" (anh hoa nội liễm).

Lúc đến đại hạn Bính Thân, "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ cung mệnh của đại hạn, là kết cấu "Tài ấm giáp ấn", vốn ngại bản chất hướng ngoại quá đáng của Thái Âm, nhưng ưa gặp Liêm Trinh Hóa Kị trong nhóm "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung tài bạch của đại vận, còn có Đà La đồng độ, khiến hai tính hướng ngoại và hướng nội biến thành quân bình. Cho nên trong đại hạn này, tất sẽ có người trợ lực mà được cát lợi (chú ý "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung phụ mẫu của đại hạn, Thái Dương Hóa Quyền, lại gặp Lộc Tồn và Vũ Khúc Hóa Khoa, cho nên được người ta giúp đỡ. Ứng nghiệm ở cung tài bạch của đại vận chỉ là chi tiêu sẽ tăng lên theo thu nhập, hơn nữa tiền lời không đến tay ngay lập tức được (cuối năm mới chia tiền lời là một ví dụ), mà chẳng chủ về hung.

Do đó có thể biết, gặp các sao sát kị ở cung tài bạch của đại vận, không được lập tức võ đoán là tài vận không tốt.

Trong đại vận này, năm Canh Dần Phá Quân ở cung mệnh, có Vũ Khúc Hóa Kị chiếu xạ, có thể vì vậy khiến bản chất của Thái Âm mất quân bình, do Vũ Khúc Hóa Kị hội Liêm Trinh Hóa Kị mà thành hướng nội quá mức, hơn nữa còn thuộc tính chất không tốt, cho nên trong năm đó không nên ra mặt khuếch trương sự nghiệp, gánh vác quá nhiều công việc, hoặc chuyển đổi hoàn cảnh làm việc, nếu không sẽ xảy ra trở ngại. Nếu cứ giữ như cũ, quyết định không làm gì thay đổi quá lớn (chú ý cung phúc đức của lưu niên, là Liêm Trinh Hóa Kị hội Vũ Khúc Hóa Kị), thì vẫn có thể giữ được vận thế.

Giữa tiến và thoái có sự khác biệt rất lớn, khi biết rõ điều này mới có thể biến Tử Vi Đẩu Số trở thành chỉ nam của phép "theo cát tránh hung".

Tham Lang Độc Tọa Ở Hai Cung Tí Hoặc Ngọ

Tham Lang độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Tử Vi độc tọa, cung tam hợp là Phá Quân độc tọa và Thất Sát độc tọa.

Muốn đánh giá bản chất của Tham Lang trong trường hợp này, cần phân biệt dục vọng của nó mạnh hay yếu. Lúc dục vọng mạnh, lại cần phân biệt là mạnh về ham muốn vật chất, hay mạnh về dục tình.

Tham Lang ở cung vượng, nếu là người sinh năm Thân, Tí, hay Thìn, Tham Lang ở cung Tí; người sinh năm Dần, Ngọ, Tuất, Tham Lang ở cung Ngọ; là kết cấu sao có dục vọng mạnh. Nếu ngược lại, tức người sinh năm Thân, Tí, Thìn, Tham Lang ở cung Ngọ; người sinh năm Dần, Ngọ, Tuất, Tham Lang ở cung Tí, là kết cấu sao có dục vọng yếu.

Tham Lang Hóa Quyền, làm tăng dục vọng, có thiên hướng ham muốn vật chất.

Tham Lang Hóa Lộc, gặp phụ diệu sẽ làm tăng ham muốn vật chất; gặp các tạp diệu Phi Liêm, Lực Sĩ, Tướng Tinh, Trường Sinh, Đế Vượng, cũng làm tăng ham muốn vật chất; gặp tá diệu, làm tăng dục tình (lúc này "Lộc Mã giao trì" cũng chủ về dục tình); gặp các sao đào hoa, cũng chủ về tăng dục tình.

Tham Lang Hóa Kị, làm giảm dục vọng, lúc gặp Linh Tinh, Đà La, và sao không trong tạp diệu, cùng với các tạp diệu khác như Thiên Khốc, Thiên Hư, Cô Thần, Quả Tú, Âm Sát, Hoa Cái, Đại Hao, Tức Thần, Nguyệt Sát, Quán Sách, thì dục vọng càng thấp, thậm chí có thể biến thành sợ cạnh tranh, một khi gặp phải trở lực liền rút lui.

Tử Vi được "bách quan triều củng" có thể làm tăng dục vọng của Tham Lang; Tử Vi thuộc loại "tại dã cô quân" có thể làm giảm dục vọng của Tham Lang.

Thất Sát ở cung tam hợp có Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa hội hợp, có thể làm mạnh thêm dục vọng của Tham Lang; hoặc gặp các sao sát, kị, hình, hao đến hội hợp cũng chủ về giảm dục vọng của Tham Lang.

Đời người không nên có dục vọng quá cao, cũng không nên có dục vọng quá thấp. Vì vậy lúc Tham Lang thủ cung Tí hoặc Ngọ, cần phải chú ý, ưa được Tham Lang có tính chất trung hòa, nhưng vẫn cần chú ý tính chất "trung hòa" đó là gì.

Ví dụ như Tham Lang có dục vọng thấp đối nhau với Tử Vi thuộc loại "bách quan triều củng", có thể thấy về cơ bản là trung hòa, nhưng giả dụ như có Kình Dương và Tham Lang đồng độ, lại hội các sao đào hoa, thì loại "trung hòa" này chỉ biểu hiện là dục tình nặng mà ham muốn vật chất yếu, cho nên cuộc đời sẽ tự tìm buồn phiền, vì tình mà khổ, về sự nghiệp thì một việc cũng không thành.

Tham Lang của "Phiếm thủy đào hoa" là kết cấu sao có dục tình mạnh. Lúc này không nên gặp các sao chủ về dục tình (như Văn Xương, Văn Khúc, các sao đào hoa) đến hội hợp; cũng không nên đến các đại hạn hoặc lưu niên có các sao đào hoa trùng trùng.

Tham Lang của "Mộc hỏa thông minh" là kết cấu sao ham muốn vật chất mạnh; lại gặp thêm các sao ham muốn vật chất, có thể sự nghiệp tài lộc hanh thông, nhưng sẽ cảm thấy tinh thần trống rỗng.

Tham Lang có tâm chí bạc nhược chưa chắc không cát tường, nếu không chìm đắm trong thú vui không lành mạnh, khi đến đại vận tích cực vẫn có thể phấn khởi làm việc. Cho nên ưa đến các đại hạn hoặc lưu niên có "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thuộc "Tài ấm giáp ấn"; "Thái Dương, Thiên Lương" Hóa Khoa; gặp Thất Sát Hóa Lộc, Quyền; gặp Phá Quân Hóa Lộc hay Hóa Quyền; gặp "Liêm Trinh, Thiên Phủ" được cát hóa; thảy đều chủ về gặp cảnh ngộ tốt, khiến cho cách nhìn đời biến thành tích cực, nhờ vậy mà có thành tựu.

Tham Lang có tính ham muốn vật chất quá nặng, tuy nhân sinh quan tích cực, nhưng lại có thể biến thành người bất chấp thủ đoạn, hoặc chìm đắm trong việc đầu cơ mạo hiểm, cờ bạc. Vì vậy, không ưa vào các vận hạn có sắc thái ham muốn vật chất quá nặng, như "Thiên Đồng, Cự Môn" mà Cự Môn Hóa Lộc; "Thái Dương, Thiên Lương" mà Thái Dương Hóa Quyền; Thiên Cơ Hóa Lộc (không ưa Thiên Cơ có Thái Âm Hóa Kị xung hội); nếu không, đời người tuy tích cực, nhưng cảnh ngộ chưa chắc đã như ý, hơn nữa, dễ khiến cho đời sống tinh thần trở nên trống rỗng.

Tóm lại, dục vọng quý ở chỗ vừa phải, quá yếu mà gặp hạn yếu, thì chủ về cô độc, nghèo nàn hoặc tàn tật; quá mạnh lại gặp hạn mạnh, có thể chìm đắm trong thú vui không lành mạnh, dẫn đến phạm sai lầm suốt đời.

Đàm luận về Tử Vi Đẩu Số, luận thuật tính chất của tinh hệ và sự ưa ghét của các tổ hợp tinh hệ giao nhau, đều lấy cung mệnh làm chủ, vì cung mệnh là đầu mối thể hiện tính chất của tinh hệ. Nhưng thực ra, mang các tính chất cơ bản đó suy rộng ra thì có thể luận đoán tính chất đủ 12 cung.

Ví dụ như trong cung huynh đệ, Tham Lang có dục vọng quá nặng, thì dễ giao du với bạn bè tửu sắc, bạn bè nhiều nhưng không có ai tri kỉ, hơn nữa dễ xảy ra chuyện tranh quyền đoạt lợi. Nếu tâm chí của Tham Lang quá lạnh nhạt ham muốn, hèn yếu, thì chủ về duyên phận với anh em, bạn bè đều mỏng, về sự nghiệp cũng không đủ duyên với người. Lúc đến 12 cung hạn, xem từng tinh hệ ở cung huynh đệ của đại vận hoặc lưu niên, liền biết có gặp sự cạnh tranh ngoài dự liệu hay không, hoặc nhờ cung hạn có tính chất điều hòa mà cải thiện được quan hệ giao tế.

Lại ví dụ như, ở cung phu thê, Tham Lang có ham muốn vật chất quá nặng, tất người bạn đời nặng ham muốn vật chất, nếu dục tình quá nặng thì hôn nhân, tình yêu đều có điểm tráo trở. Nếu Tham Lang thủ cung quá thờ ơ, tiêu cực, thì cảnh ngộ của người bạn đời không được tốt, hoặc vì nhân tố hoàn cảnh khách quan, sinh lí bệnh tật,... làm ảnh hưởng đến sinh hoạt hôn nhân, khiến không hòa hợp hạnh phúc.

Lại ví dụ như, ở cung tật ách, Tham Lang có dục vọng nặng thì dễ mắc các bệnh thuộc về thực chứng, tức cơ quan mắc bệnh có tính thực tế, như viêm gan, viêm tử cung, viêm tràng vị, v.v... Nếu Tham Lang thủ cung mà thờ ơ, tiêu cực, sẽ dễ mắc các bệnh thuộc về hư chứng, như gan phân tiết mất điều hòa, chứng lạnh tử cung, trường vị hư hàn, chứng đau có tính thần kinh (như đau bụng kinh, bạch đới...).

Trên là đơn cử những ví dụ thuộc nguyên tắc thông thường, nhưng chỉ cần nắm vững bản chất của các tinh hệ, khi luận đoán vận hạn bạn có thể suy ra được một số tình huống hay sự cố xảy ra từ những biến hóa của bản chất các sao và ảnh hưởng của các tinh hệ ở các cung hạn. Chỉ cần vận dụng một cách linh hoạt các tư liệu cơ bản này, thêm vào đó một số kinh nghiệm, thì luận đoán càng chính xác.

Đến đây xin cử một ví dụ để thuyết minh tình hình thực tế Tham Lang ở cung phu thê.

Nữ mệnh, cung phu thê là Tham Lang ở cung Ngọ, có Kình Dương đồng độ, Tham Lang lại Hóa Quyền, đây là kết cấu sao nặng dục tình mà ít ham muốn vật chất.

Vào đại hạn Nhâm Tuất, cung phu thê có "Vũ Khúc, Thiên Tướng", mà Vũ Khúc Hóa Kị, chủ về chồng gặp sự cố không may. Cung phúc đức của đại hạn là Tử Vi độc tọa, đối cung là Tham Lang thuộc loại nặng dục tình, Tử Vi lại đồng độ với Kình Dương của đại vận, thêm vào đó còn gặp Vũ Khúc Hóa Kị. Nếu ở hai cung Tí hoặc Ngọ có các sao đào hoa như Thiên Diêu, Mộc Dục, Hàm Trì, Đại Hao thì có thể sẽ vì sinh hoạt hôn nhân không như ý, dẫn đến ngoại tình.

Đến lưu niên Đinh Dậu, cung phu thê là "Thiên Đồng, Cự Môn", mà Cự Môn Hóa Kị, đồng độ với Kình Dương của lưu niên, phương diện tình cảm xảy ra tình cảnh u ám, thành nguy cơ đối với cuộc hôn nhân trong lưu niên này, cần cẩn thận đề phòng, tránh phạm sai lầm.

Xin chú ý, luận đoán này hoàn toàn đặt trên nền tảng bản chất của Tham Lang ở cung phu thê, nếu không có tính chất này thì khó vào đại vận và lưu niên có cùng một dạng, cũng không xảy ra chuyện thay lòng đổi dạ. Do đó có thể biết, phép luận đoán của phái Trung Châu chú trọng việc nhận thức bản chất các sao trong 12 cung, lấy đó làm cơ sở quan trọng của việc luận đoán.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái