Bài tổng quan
Thái Dương Độc Tọa Thìn, Tuất Và Thiên Cơ Độc Tọa Tí, Ngọ
Thái Dương ở Thìn, Tuất phải gánh vác cho nhiều sao, còn Thiên Cơ ở Tí, Ngọ phải chọn giữa việc chung và lợi riêng. Thái Dương độc tọa ở Thìn, Tuất đối Thái Âm, tam hợp Cự Môn và Thiên Đồng, Thiên Lương: nó phải giải cái u ám của Cự Môn, cái cô kị của Thiên Lương và chiếu sáng cho Thái Âm. Vì vậy then chốt là Thái Dương có bị gây lụy, lợi dụng không; nhập miếu, gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa thì không sợ, gặp sát kị thì dù nhập miếu cũng không tốt. Thiên Cơ độc tọa ở Tí, Ngọ đối Cự Môn. Thiên Cơ dương cương dùng mưu trí cho việc chung, âm nhu thì quyền biến vì tư lợi; Thiên Lương Hóa Khoa ở cung phúc đức khiến Thiên Cơ nghiêng về dương cương.
Thái Dương Độc Tọa Ở Hai Cung Thìn Hoặc Tuất
Thái Dương độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung là Thái Âm, cung tam hợp là Cự Môn độc tọa, và "Thiên Đồng, Thiên Lương".
Muốn luận đoán đặc tính của Thái Dương ở hai cung này, cần chú ý xem nó có bị gây lụy, lợi dụng hay không. Bởi vì Thái Dương phải lo liệu cho Cự Môn, để giải "u ám" của nó; lại phải lo liệu cho Thiên Lương, để giải "cô kị" của nó; sau cùng phải đối chiếu với Thái Âm, lấy ánh sáng để chiếu xạ Thái Âm. Trong tình huống thông thường, Thái Dương ở 12 cung chỉ đối thẳng với Thái Âm ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cho nên tính chất này rất là quan trọng.
Thái Dương nhập miếu, thì ánh sáng chói lọi, hơi lạc hãm là tốt, nếu lại gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì không sợ Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương lợi dụng hay gây lụy. Nếu gặp các sao sát, kị, dù nhập miếu cũng không tốt. Nếu là "bách quan triều củng" thì có thể giảm nhẹ áp lực.
Thái Âm nhập miếu thì không gây lụy Thái Dương, nếu Thái Âm còn được Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, sẽ chủ về không bị lợi dụng. Nếu Thái Âm lạc hãm, không có ánh sáng, thì phải làm lụy Thái Dương chiếu cố. Nếu Thái Âm lại hóa làm sao kị, hoặc gặp sát tinh trùng trùng, thì sẽ gây lụy Thái Dương.
Cự Môn có Lộc, Quyền, Khoa, không gặp sát tinh, thì không cần Thái Dương giải "u ám", vì vậy không gây lụy Thái Dương. Nếu có các sao sát, kị cùng bay đến, thì Thái Dương bị gây lụy, lợi dụng.
"Thiên Đồng, Thiên Lương" có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, sắc thái lãng mạn và tính nguyên tắc kỉ luật điều hòa, thì không cần Thái Dương giải "cô kị". Nếu "Thiên Đồng, Thiên Lương" thuộc tính chất nguyên tắc kỉ luật, mà còn có các sao sát, hình, thì cần Thái Dương giải "cô kị", vì vậy bị gây lụy.
Trên là nói về các tổ hợp tinh hệ ở "tam phương tứ chính" của cung Thái Dương tọa thủ, để phán đoán hoàn cảnh thực tế của Thái Dương. Nếu Thái Dương không bị gây lụy, lợi dụng, thì cảnh ngộ của đời người đương nhiên thuận lợi toại ý. Nếu không sẽ dễ bị người thân lạnh nhạt, hơn nữa, cảnh ngộ đời người sẽ nhiều trắc trở, gập ghềnh, bất đắc chí.
Cung Thiên Cơ độc tọa, vì đối nhau với Cự Môn, nên ý vị có không ổn định, vì vậy chỉ có lợi đối với Thái Dương không bị gây lụy. Nếu Thái Dương gánh vác đã nặng, lại đến cung hạn này, dù có hội hợp với sao cát cũng cảm thấy vất vả khổ lụy. Đặc biệt là lúc Thái Dương của nguyên cục Hóa Khoa, nặng tính thích vinh dự, thì vất vả khổ lụy càng nặng. Nếu gặp sát tinh cùng bay đến, cần phải đề phòng kế hoạch sai lầm, hoặc sức gánh vác không kham nổi nhiệm vụ.
Cung hạn "Tử Vi, Phá Quân", lúc Thái Dương đến, bất kể có thuộc loại "bị gây lụy" hay không, đều không nên hợp tác kinh doanh với người khác, nếu không sẽ dễ sinh sóng gió, trắc trở. Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" ưa đến cung hạn "Tử Vi, Phá Quân" đồng độ với Văn Xương, Văn Khúc, hoặc Tả Phụ, Hữu Bật; đây là lưu niên hoặc đại hạn khai sáng sự nghiệp. Nếu Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" mà gặp kết cấu như vậy thì chỉ hơi giảm vất vả mà thôi.
Nếu "Tử Vi, Phá Quân" hội hợp với Vũ Khúc Hóa Kị, Tham Lang Hóa Kị, thì Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" mỗi khi hành động đều dễ diễn biến thành lực bất tòng tâm. Cho nên phàm việc gì cũng suy tính cẩn thận, không được để hiện tượng bề ngoài đánh lừa. Nếu là Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy", thì sẽ chủ về gánh vác trách nhiệm quá mức, ứng phó việc tiêu xài quá mức mà thôi.
Cung hạn Thiên Phủ độc tọa, có sao lộc, Thái Dương loại nào cũng thích hợp đến; nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống" thì Thái Dương loại nào cũng không nên đến. Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" mà lạc hãm, đến cung hạn Thiên Phủ thuộc loại "kho lộ", "kho trống", cần chú ý bệnh đường tiêu hóa, dễ chuyển thành bệnh nặng. Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy", ngoại trừ cần chú ý vấn đề sức khỏe, còn phải lưu ý phương diện kế hoạch chi tiêu, để đề phòng thu nhập không bằng chi tiêu.
Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" đến cung hạn Thiên Phủ và Lộc Tồn đồng độ, nếu Thái Dương của nguyên cục Hóa Kị, hơi gặp sát tinh, thì dễ gây ra tranh chấp hoặc phạm pháp, dẫn đến phá tài, tổn thất.
Cung hạn Thái Âm độc tọa, Thái Dương đến có bất lợi hay không, cần phải xem Thái Âm có sao phụ, tá cát đồng độ hay không mà định; nếu có, mà còn gặp "sao đôi" ở "tam phương tứ chính", lại được cát hóa, đây là năm tài lộc như ý. Nếu chỉ gặp "sao lẻ" thì sức mạnh không đủ, Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" đến cung hạn này không dễ gì được phúc.
Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" rất ghét đến cung hạn Thái Âm lạc hãm, lại gặp các sao sát, kị; đây còn là lưu niên chuyển biến thành thất bại, mức độ thất bại cần phải xem xét mức độ Thái Dương "bị gây lụy" thế nào mà định. Nếu là Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" đến, thì phần nhiều nội tâm cũng bất an, hoặc bị phiền phức mà phá tài.
Cung hạn "Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ, cần gặp Vũ Khúc Hóa Lộc, và Liêm Trinh Hóa Lộc, mới chủ về tụ tài. Nếu Tham Lang Hóa Lộc, thì Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" đến sẽ tiêu xài lãng phí. Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" cũng sẽ có nhiều cuộc thù tạc vô vị.
Nếu "Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ với Đà La, Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" ắt sẽ vì cố xuất đầu lộ diện mà bị tổn thất. Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" thì bị áp lực công việc, cảm thấy thời gian không đủ để làm việc. Nhưng nếu Tham Lang Hóa Kị, sẽ chủ về sau khi chuyển biến sẽ mất cơ hội ngay.
"Liêm Trinh, Tham Lang" Hóa Quyền không bằng Hóa Lộc, Hóa Quyền thì chủ về vất vả khổ lụy.
Tính chất của cung hạn Cự Môn độc tọa đã thuật ở trên. Cách cục "Thạch trung ẩn ngọc" là cung hạn mà người Thái Dương tọa mệnh rất ưa đến, chủ về được người ta ủng hộ, đề bạt. Bản chất bị gây lụy hay không chỉ ảnh hưởng đến mức độ được cát lợi.
Nếu là cung hạn Cự Môn thuộc loại nặng tính nghi kị, Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" đến thì không sao, nhưng Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" đến thì đó là năm xảy ra nhiều thị phi vô cớ. Nếu các sao ác sát, kị, hình, hao tụ tập đủ, thì phải đề phòng dùng độc tố, hoặc trúng độc. Sao ác nhẹ thì để phòng người ta ngầm gây tổn hại, nói xấu, bêu riếu.
Vận hạn Thiên Tướng độc tọa, chỉ nên là Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" đến, nếu Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" đến cung hạn này, dù cát hóa hay hội hợp với sao cát, thì cũng bận rộn vất vả vì người khác; nếu lại gặp các sao ác sát, thì tuyệt đối không nên bỏ cũ đổi mới, nếu không ắt sẽ phá tán, thất bại.
Cung hạn Thiên Tướng thuộc loại "Hình kị giáp ấn" tọa thủ, Thái Dương của nguyên cục Hóa Kị không nên đến. Nếu hơi gặp lưu sát tinh, đều là vận hạn hay lưu niên dẫn đến phạm pháp, hoặc bị người ta hãm hại.
Cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương" tọa thủ, nếu lãng mạn sắc thái thì Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" nên đến, đây là vận thế tay trắng làm nên, hơn nữa nên làm những công việc mang tính phục vụ, quảng bá để tạo sự nghiệp. Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" đến cung hạn này thì dễ chuốc đào hoa kiếp.
Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" đến cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương" mang tính nguyên tắc, kỉ luật, cũng chủ về vất vả khổ lụy. Còn Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" đến cung hạn này thì phải đề phòng kế hoạch sai lầm, làm tăng thêm phiền phức.
Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" đến cung hạn "Vũ Khúc, Thất Sát" đồng độ thuộc tính quyết đoán, là niên hạn khai vận. Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy", đến cung hạn này thì bất lợi về lục thân, mà còn phải rời xa quê hương để lập nghiệp, hoặc sản nghiệp của cha tiêu tan rồi mới tự lập.
Thái Dương thuộc loại "không bị gây lụy" đến cung hạn "Vũ Khúc, Thất Sát" có bản chất suy nghĩ nông cạn, cũng chủ về chao đảo hoàn cảnh, hoặc thay đổi nghề nghiệp thiết thân, cần phải thay đổi ổn định, mới bắt đầu thu hoạch ổn định. Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy" đến cung hạn này thì bôn tẩu khắp nơi, một việc cũng không thành, nội tâm sầu khổ. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị, thì lại chủ về thường bị thất nghiệp.
Đến đây xin cử một ví dụ thuyết minh tình huống Thái Dương ở cung tử nữ.
Cung mệnh là "Tử Vi, Phá Quân", cung tử nữ là Thái Dương ở Tuất, người sinh năm Đinh, Cự Môn Hóa Kị hội hợp với Thái Dương, mà Thái Dương thuộc loại "bị gây lụy".
Đến đại hạn Canh Tuất, Thái Dương thủ mệnh, Hóa Lộc. Cung tử nữ của đại hạn là Thiên Tướng, có Lưu Đà đồng độ; nguyên cục thì có Kình Dương đồng độ; lại thêm "Tử Vi, Phá Quân" có kèm Hỏa Tinh ở đối cung chiếu xạ. Cho nên trong vận hạn này chủ về bị con cái gây lụy.
Dùng cung tử nữ để luận đoán người dưới quyền trong mối quan hệ giao tế. Vào năm Tân Dậu, cung tử nữ là Cự Môn của nguyên cục Hóa Kị, ở lưu niên hóa làm sao lộc. Năm đó, vào đầu năm mệnh tạo đề bạt một người dưới quyền, đến giữa năm, bị người dưới quyền này tố cáo lên ban giám đốc, khiến mệnh tạo bị giáng chức, chuyển công tác khác.
Thiên Cơ Độc Tọa Ở Hai Cung Tí Hoặc Ngọ
Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Cự Môn, cung tam hợp là Thái Âm và "Thiên Đồng, Thiên Lương".
Muốn luận đoán bản chất Thiên Cơ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, cần phân biệt tính cương nhu của nó.
Thiên Cơ có tính cương, sở trường mưu trí và quyền biến, giỏi vạch kế hoạch, nhưng vì việc chung chớ không phải vì việc riêng; nếu Thiên Cơ có tính âm nhu thì giỏi quyền biến để mưu tính tư lợi.
"Thiên Đồng, Thiên Lương" của cung phúc đức là yếu tố then chốt gây ảnh hưởng đến bản chất của Thiên Cơ. Nếu Thiên Lương Hóa Khoa, thì Thiên Cơ có tính dương cương; nếu Thiên Đồng Hóa Lộc, hoặc Thiên Đồng Hóa Kị, thì có thể gây ảnh hưởng khiến Thiên Cơ biến thành âm nhu. Thiên Đồng Hóa Lộc ưu hơn Hóa Kị. Hóa Kị thì thường nảy sinh tình huống khiến nội tâm rối rắm khó xử, thiếu cảm giác an toàn, vì vậy mà lòng mưu tính tư lợi càng nặng.
Thái Âm nhập miếu, dù có tính âm nhu vẫn ưu hơn lạc hãm. Thái Âm lạc hãm mà tương hội với Thiên Cơ, nội tâm thường cảm thấy tự ti, thủ đoạn quyền biến do đó mà sinh ra.
Cự Môn là trung tính, không ảnh hưởng đến tính cương nhu của Thiên Cơ. Nhưng lúc Cự Môn Hóa Kị sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định của Thiên Cơ, thường vì bất mãn hoàn cảnh khách quan (như bị nhiều điều tiếng thị phi, bị người ta bài xích, chèn ép) mà đứng núi này trông núi nọ, nhưng sau khi thay đổi hoàn cảnh vẫn gặp nhiều cảnh ngộ không tốt, do đó ảnh hưởng đến nội tâm của Thiên Cơ, khiến cũng chủ về thủ đoạn quyền biến.
Cự Môn Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, có ảnh hưởng khiến Thiên Cơ xảy ra chuyện tốt lành, càng thay đổi càng gặp nhiều cảnh ngộ tốt lành, do đó có thể phát huy tính chất tốt lành của Thiên Cơ, về sự nghiệp, có thể đưa ra kế hoạch tốt.
Thiên Cơ có tính dương cương nên đến vận hạn hoặc lưu niên có tính khai sáng, không nên phòng thủ.
Thiên Cơ có tính âm nhu thì nên gặp vận hạn hoặc lưu niên lợi về phòng thủ. Nếu đến cung hạn có các sao nhiều tính chất biến hóa, thay đổi thì sẽ chủ về càng động càng mắc sai lầm.
Các cung hạn chủ về thay đổi và lợi về khai sáng cho Thiên Cơ độc tọa là: "Tử Vi, Phá Quân" được cát hóa; Thái Âm nhập miếu gặp Tả Phụ, Hữu Bật; "Liêm Trinh, Tham Lang" được cát hóa; Cự Môn được cát hóa; "Vũ Khúc, Thất Sát" được cát hóa; Thái Dương nhập miếu được cát hóa.
Các cung hạn lợi về phòng thủ cho Thiên Cơ độc tọa là: Thiên Phủ có sao lộc; Thái Âm lạc hãm nhưng được cát hóa; "Liêm Trinh, Tham Lang" mà Tham Lang Hóa Kị; Cự Môn thuộc cách cục "Thạch trung ẩn ngọc" gặp lưu sát tinh; Thiên Tướng thuộc loại "Hình kị giáp ấn"; "Thiên Đồng, Thiên Lương" Hóa Lộc, Hóa Khoa (nếu Thiên Đồng Hóa Quyền thì có khuynh hướng thay đổi và khai sáng); Thái Dương lạc hãm nhưng gặp các sao phụ, tá cát.
Thiên Cơ có tính âm nhu, bất lợi khi đến vận hạn "Tử Vi, Phá Quân" mang tính biến động, sẽ chủ về vì thay đổi quan hệ giao tế mà sinh ra sai lầm. Thiên Cơ có tính dương cương không có tư tâm, đến vận hạn này thì trái lại, sẽ chủ về khai sáng cục diện mới.
Thiên Cơ có tính dương cương đến cung hạn Thiên Phủ, nếu Thiên Phủ có Lộc Tồn đồng độ, thì trái lại sẽ chủ về cảm giác có tài mà không thể thi triển sở trường.
Thiên Cơ ưa Cự Môn thuộc loại "anh hoa nội liễm". Thiên Cơ có tính dương cương đến cung hạn này, ắt sẽ có biểu hiện tốt, là lưu niên được người ta trọng dụng, đề bạt; nhưng Thiên Cơ có tính âm nhu đến cung hạn này, thì dễ có tư tâm, tự cho mình là đúng, lúc được người ta trọng dụng lại giở trò thủ đoạn, khiến ảnh hưởng đến hậu vận. Thiên Cơ có tính âm nhu không ưa cung hạn Cự Môn thuộc loại nghi kị trùng trùng, chủ về nội tâm lo lắng, hoặc càng giở trò thủ đoạn thì càng gặp khốn khó. Thiên Cơ có tính dương cương đến cung hạn này sẽ chủ về vì kế hoạch sinh ra lo lắng.
Nếu "Thiên Đồng, Thiên Lương" ở nguyên cục có tính dương cương, đến niên hạn bỗng biến thành tính âm nhu; hoặc ở nguyên cục có tính âm nhu, đến niên hạn bỗng biến thành tính dương cương; đều là cung hạn không hợp đối với người Thiên Cơ thủ mệnh, chủ về gặp nhiều trở ngại, dẫn đến phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ.
Về cơ bản, Thiên Cơ ưa đến cung hạn Thiên Tướng tọa thủ. Vận hạn Thiên Tướng có khí chất "cao thượng, thanh nhã" là đại lợi đối với Thiên Cơ có tính dương cương đến, chủ về có thể thăng chức, thăng tiến đến chức vị quan trọng, trong giới thương nghiệp cũng chủ về được người tri ngộ. Nếu Thiên Cơ có tính âm nhu đến vận hạn Thiên Tướng có khí chất tầm thường, thì nên giữ nếp cũ chờ thời cơ. Nếu muốn thay đổi, sẽ dễ bị người ta bài xích, chèn ép.
Trên là những ứng nghiệm quan trọng khi Thiên Cơ đến 12 cung hạn.
Đến đây xin cử một ví dụ thuyết minh tình hình Thiên Cơ ở cung điền trạch.
"Vũ Khúc, Thất Sát" thủ mệnh, cung điền trạch là Thiên Cơ ở cung Ngọ, người sinh năm Tị, Thiên Cơ đồng độ với Lộc Tồn.
Do Thiên Cơ hội hợp với "Thiên Đồng, Thiên Lương" mà Thiên Lương Hóa Khoa, cho nên Thiên Cơ mang tính dương cương. Tuy có Lộc Tồn và khí chất của nó, nhưng có Kình Dương, Đà La giáp cung, chẳng có thể thay đổi căn bản được.
Vào đại hạn Quý Dậu, Thiên Phủ thủ mệnh, cung điền trạch của đại hạn là Cự Môn Hóa Quyền, đồng độ với Lưu Lộc, mà còn đối cùng với Lộc Tồn của nguyên cục. Cung mệnh của đại hạn là Thiên Phủ lại gặp Vũ Khúc Hóa Lộc trong "Vũ Khúc, Thất Sát" của nguyên cục; cho nên cung mệnh của đại hạn cũng là vận tốt 10 năm.
Nhưng Thiên Phủ ở cung mệnh của đại hạn được Lộc Quyền, chỉ lợi về phòng thủ; Cự Môn ở cung điền trạch của đại hạn được song Lộc, Hóa Quyền, cũng chẳng phải là các sao chuyển biến khai sáng. Thảy đều không có nhiều khí dương cương như ở cung điền trạch của nguyên cục, cho nên cũng chủ về vì quyết định chủ quan mà thay đổi. Trong vận hạn này, mệnh tạo làm thêm nhiều nghề nhưng đều không có thu hoạch, chỉ không bị lỗ vốn mà thôi (đây là do Thiên Phủ được song Lộc, nếu không ắt sẽ có tổn thất); còn nghề kinh doanh cũ thì bỗng nhiên khởi sắc lên nhiều. Do đó có thể biết khí chất của nguyên cục và khí chất của cung vận hạn không hợp nhau, sẽ có nỗi lo vất vả mà không được gì. Cho nên lúc luận vận trình các cung, đều cần xem xét từ bản chất của nguyên cục.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
