Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thất Sát Thủ Mệnh: Ba Cung Độc Tọa Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202617 phút đọc10 lượt đọc
Thất Sát Thủ Mệnh: Ba Cung Độc Tọa Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Thất Sát độc tọa ở Tí Ngọ, đối cung là Vũ Khúc, Thiên Phủ, được người đề bạt; có thêm Tả Hữu, Xương Khúc và Vũ Khúc Hóa Lộc hay Hóa Quyền tương chiếu thì được gọi là văn võ toàn tài. Ở Dần là Thất Sát ngưỡng đẩu, ở Thân là Thất Sát triều đẩu, đều có năng lực quản lí, một mình đảm trách công việc. Ở Thìn Tuất, sao rơi vào Thiên La, Địa Võng, phải một mình gắng gượng, suốt đời không có một ngày thanh thơi nhưng lấy đó làm vui. Cổ quyết hứa Thất Sát ở Dần, Thân, Tí, Ngọ một đời tước lộc vinh hoa, song cảnh báo lưu niên về cung Thất Sát gặp các sao hình, kị thì tai họa, tổn thương. Điều gì quyết định sát khí của vị tướng tinh này thành uy quyền hay thành tai ương?


Thất Sát Độc Tọa Cung Mệnh Tí Ngọ

Thất Sát độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là "Vũ Khúc, Thiên Phủ". Thất Sát ở cung Tí, cổ nhân có thuyết "Vũ Khúc, Phá Quân, Tham Lang hội hợp cung Tí, thì nhảy sông tự vẫn" (武破貪会于子宫,投河溺水 Vũ Phá Tham hội vu Tí cung, đầu hà nịch thủy), tuy nhiên thuyết này còn phải nghiên cứu thêm. Theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi, khi Thất Sát ở cung Tí gặp Vũ Khúc, Phá Quân, Tham Lang, năng lực đề kháng sát tinh của nó sẽ yếu đi; cho nên thông thường, Thất Sát độc tọa ở cung Tí không bằng độc tọa ở cung Ngọ.

Có điều Thất Sát ở cung Tí hay cung Ngọ vẫn thuộc cách cục tốt, chủ về được người đề bạt, và được bạn bè trợ giúp. Nếu có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, lại được Vũ Khúc Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền ở đối cung tương chiếu, chủ về nên theo võ nghiệp, hoặc làm chủ quản về tài chính kinh tế, cổ nhân gọi là "văn võ toàn tài". Nhưng nếu có tứ sát cùng chiếu, lại kiêm Thiên Hình, Âm Sát, Thiên Khốc, Thiên Hư hội chiếu, thì chủ về chết ở sa trường.

Nếu không gặp sao cát, cũng chủ về có mưu lược, nên theo ngành công thương nghiệp, tuy cuộc đời khó tránh một lần gặp sóng gió, nhưng nhất định sẽ lại đứng lên.

Nếu Thất Sát ở cung Tí hoặc Ngọ mà gặp Kình Dương, Thiên Hình, thì có thể làm bác sĩ ngoại khoa, sản khoa hoặc nha sĩ. Gặp Vũ Khúc Hóa Lộc hay Hóa Quyền, ắt thành danh y.

Phàm Thất Sát thủ mệnh, nếu gặp sát tinh, đời người ắt sẽ có chỗ thiếu sót, hoặc không thể phú quý, hoặc phú quý mà vợ chồng hình khắc phân li, hoặc hôn nhân hạnh phúc mà lại không có con cái, hoặc có con gái mà không có con trai, hoặc có con trai mà bản thân nhiều bệnh tật. Nếu lục thân không có khuyết điểm, cơ thể khỏe mạnh thì lại không được phú quý. Cho nên cần phải xem xét toàn diện 12 cung để định những khiếm khuyết đáng tiếc của nó.

Nữ mệnh có Thất Sát nhập miếu, gặp các sao cát, như Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Ân Quang, Thiên Vu, Thiên Thọ, chủ về phú quý sống thọ, nhưng có chí hướng hơn chồng. Nếu ở hãm địa, gặp Hóa Kị, hội hợp với hung tinh, sát tinh, như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Hư, Âm Sát, Thiên Nguyệt, thì nửa đời cô độc, hoặc nạn tai tật bệnh đeo vào người, chủ về làm kế thất, hoặc ở hai nơi, như vậy cũng làm giảm hình khắc đối với chồng và con cái.

Đại hạn lưu niên có Thất Sát nhập cung mệnh, nếu là nhập miếu mà gặp các sao cát thì chủ về sự nghiệp gặp cơ hội chuyển biến tốt, làm công ăn lương thì chủ về thăng chức hoặc chuyển đổi công tác tốt hơn. Nếu lạc hãm, gặp sát tinh, hung tinh, thì có hình khắc phá tán, thất bại, phải xem kĩ 12 cung để luận đoán chuyện gì. Nếu gặp sao hung mà được cát hóa, bất kể Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, đều chủ về trước nguy sau an. Nếu lạc hãm, mà có tứ sát cùng chiếu, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, thì có nguy cơ về tính mạng.

Thất Sát Độc Tọa Cung Mệnh Dần Thân

Thất Sát độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung là "Tử Vi, Thiên Phủ". Lúc Thất Sát ở cung Dần, gọi là "Thất Sát ngưỡng đẩu"; nếu ở cung Thân, là "Thất Sát triều đẩu". So sánh hai trường hợp thì Thất Sát ở cung Thân tốt hơn ở cung Dần.

"Triều đẩu" và "ngưỡng đẩu" đều là cách cục tốt, chủ về có năng lực quản lí rất tốt, có thể đảm trách công việc một mình. Cho nên bất kể phát triển ở nghề nghiệp nào cũng đều là nhân viên chủ quản. Nhất là khi cung mệnh hoặc cung thiên di gặp Lộc Tồn đồng độ, càng chủ về không lo thiếu thốn tiền bạc. Có điều, nếu gặp sát tinh đồng độ hoặc hội hợp, thì chủ về đường đời nhiều gập ghềnh, trắc trở. Dù thế nào, một khi Thất Sát đóng ở cung mệnh thì cuộc đời ắt sẽ có một lần gặp sóng gió rất lớn; nhẹ lắm thì cũng chủ về sự nghiệp phát triển dình đốn, tâm tình sầu khổ, chỉ cần có hành động thiết thực thì cuối cùng cũng có thể vượt qua khó khăn, vì vậy, dù gặp niên vận không tốt, cũng không nên nguội lạnh tâm chí.

Thất Sát "triều đẩu" hay "ngưỡng đẩu", thông thường đều nên làm việc cho chính phủ, hoặc làm nhân viên quản lí nhân sự, quản lí hành chính cho công ti lớn, cũng có thể quản lí công xưởng; nhưng nếu có Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, hoặc gặp Tử Vi Hóa Khoa ở đối cung, thì cũng có thể làm công tác nghiên cứu khoa học kĩ thuật; nếu gặp Thiên Phủ Hóa Khoa, thì có thể nghiên cứu kinh tế hoặc quản lí công thương. Chỉ gặp sao văn, là nhà giáo mẫu mực.

Nếu sát tinh nặng, lại gặp Hóa Kị, Thiên Hình, Thiên Mã, Lộc Tồn, lại có thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Tam Thai, Bát Tọa ủng hộ, thì có thể gia nhập quân đội hay cảnh sát, nếu không, có thể làm lãnh đạo trong chính giới.

Thất Sát rất ưa gặp sao lộc, vì sao lộc có thể hóa giải tính cứng rắn của Thất Sát. Nếu không gặp sao lộc mà có tứ sát cùng chiếu, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, thì cuộc đời bị hình khắc rất nặng, còn chủ về tính tình khăng khăng một mực, ngoan cố, ương ngạnh, phàm xử sự đều có thái độ kịch liệt; vì vậy tuy phú quý nhưng vẫn bị phá tán, thất bại; còn chủ về nhìn quá cao, tự sùng bái mình, do đó cuộc đời khó tránh cô tịch. Tính chất này có thể dùng nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Phàm Thất Sát thủ mệnh, nếu gặp sát tinh, đời người ắt sẽ có chỗ thiếu sót, hoặc không thể phú quý, hoặc phú quý mà vợ chồng hình khắc phân li, hoặc hôn nhân hạnh phúc mà lại không có con cái, hoặc có con gái mà không có con trai, hoặc có con trai mà bản thân nhiều bệnh tật. Nếu lục thân không có khuyết điểm, cơ thể khỏe mạnh thì lại không được phú quý. Cho nên cần phải xem xét toàn diện 12 cung để định những khiếm khuyết đáng tiếc của nó.

Nữ mệnh có Thất Sát nhập miếu, gặp các sao cát, như Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Ân Quang, Thiên Vu, Thiên Thọ, chủ về phú quý sống thọ, nhưng có chí hướng hơn chồng. Nếu ở hãm địa, gặp Hóa Kị, hội hợp với hung tinh, sát tinh, như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Hư, Âm Sát, Thiên Nguyệt, thì nửa đời cô độc, hoặc nạn tai tật bệnh đeo vào người, chủ về làm kế thất, hoặc ở hai nơi, như vậy cũng làm giảm hình khắc đối với chồng và con cái.

Đại hạn lưu niên có Thất Sát nhập cung mệnh, nếu là nhập miếu mà gặp các sao cát thì chủ về sự nghiệp gặp cơ hội chuyển biến tốt, làm công ăn lương thì chủ về thăng chức hoặc chuyển đổi công tác tốt hơn. Nếu lạc hãm, gặp sát tinh, hung tinh, thì có hình khắc phá tán, thất bại, phải xem kĩ 12 cung để luận đoán chuyện gì. Nếu gặp sao hung mà được cát hóa, bất kể Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, đều chủ về trước nguy sau an. Nếu lạc hãm, mà có tứ sát cùng chiếu, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, thì có nguy cơ về tính mạng.

Thất Sát Độc Tọa Cung Mệnh Thìn Tuất

Thất Sát độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, là nhập "Thiên La, Địa Võng", đối cung là các sao như hòa "Thiên Phủ, Liêm Trinh", không thể trợ giúp Thất Sát thoát khỏi "Thiên La, Địa Võng", Thất Sát phải một mình gắng gượng. Vì vậy kết cấu tinh hệ kiểu này, khiến mệnh tạo cần phải trải qua gian khổ, cuộc đời phải lấy phấn đấu làm mục tiêu, vì vậy mà có sóng gió trùng trùng.

Tuy sáng lập được sự nghiệp trong gian khổ, nhưng người này không bao giờ hài lòng với những thành tựu mà mình đã đạt được, không ngừng theo đuổi lí tưởng, mà lí tưởng lại càng lúc càng cao, kế hoạch mới cũng càng lúc càng nhiều, cho nên suốt đời không có được một ngày thanh thơi, nhưng họ lấy đó làm vui.

Thất Sát ở hai cung Thìn hoặc Tuất, không sợ sát tinh mấy, chỉ sợ Liêm Trinh Hóa Kị ở đối cung, nếu lại gặp sát tinh trùng trùng, cung mệnh mà gặp kết cấu kiểu này, càng cần phải xem xét các cung vị khác, xem cung nào là cung chí mệnh của nó. Nếu cung tài bạch không tốt, thì cuộc đời phần nhiều phải bối rối khó xử hoặc có tranh chấp về phương diện tiền bạc; nếu cung sự nghiệp không cát tường, thì cuộc đời bị nhiều lần vỡ nợ, sập tiệm; nếu cung tật ách không cát tường, thì cả đời sức khỏe không tốt, phần nhiều phải phẫu thuật, hoặc một phen hú vía; nếu cung phu thê không tốt, thì bình sinh sẽ gặp nhiều sóng gió, trắc trở về tình cảm, hoặc người phối ngẫu gặp bất hạnh; nếu cung tử nữ không tốt, thì con cái bị nạn tai tật bệnh, yếu mạng, hoặc phạm pháp.

Nếu Tham Lang Hóa Kị ở cung tài bạch gặp sát tinh, thì thường cảm thấy thiếu thốn tiền bạc, hơn nữa thu nhập luôn không như ý muốn, nhưng là vì lí tưởng quá cao, sự nghiệp mở rộng một cách quá đáng, chứ chẳng chủ về bần cùng.

Tham Lang Hóa Kị, ắt sẽ gặp Phá Quân Hóa Lộc ở cung sự nghiệp, càng chủ về một đời chỉ thích khai sáng, không chịu thủ thành.

Nếu Tham Lang Hóa Lộc ở cung tài bạch, không gặp sát tinh, thì cuộc đời của người này luôn có tiền để dùng, nhưng không tích lũy được; nếu gặp sát tinh, không những chủ về tiêu xài sa hoa, mà còn thích tiệc tùng vui chơi, giao du với bạn bè không biết tiết chế.

Thất Sát ở cung Thìn hoặc Tuất, đều chủ về người này có chỗ sở trường, kiến giải hơn người. Ưa Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu hoặc đồng độ, là người văn võ song toàn, hoặc chủ về có tính yêu thích văn nghệ.

Phàm Thất Sát thủ mệnh, nếu gặp sát tinh, đời người ắt sẽ có chỗ thiếu sót, hoặc không thể phú quý, hoặc phú quý mà vợ chồng hình khắc phân li, hoặc hôn nhân hạnh phúc mà lại không có con cái, hoặc có con gái mà không có con trai, hoặc có con trai mà bản thân nhiều bệnh tật. Nếu lục thân không có khuyết điểm, cơ thể khỏe mạnh thì lại không được phú quý. Cho nên cần phải xem xét toàn diện 12 cung để định những khiếm khuyết đáng tiếc của nó.

Nữ mệnh có Thất Sát nhập miếu, gặp các sao cát, như Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Ân Quang, Thiên Vu, Thiên Thọ, chủ về phú quý sống thọ, nhưng có chí hướng hơn chồng. Nếu ở hãm địa, gặp Hóa Kị, hội hợp với hung tinh, sát tinh, như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Hư, Âm Sát, Thiên Nguyệt, thì nửa đời cô độc, hoặc nạn tai tật bệnh đeo vào người, chủ về làm kế thất, hoặc ở hai nơi, như vậy cũng làm giảm hình khắc đối với chồng và con cái.

Đại hạn lưu niên có Thất Sát nhập cung mệnh, nếu là nhập miếu mà gặp các sao cát thì chủ về sự nghiệp gặp cơ hội chuyển biến tốt, làm công ăn lương thì chủ về thăng chức hoặc chuyển đổi công tác tốt hơn. Nếu lạc hãm, gặp sát tinh, hung tinh, thì có hình khắc phá tán, thất bại, phải xem kĩ 12 cung để luận đoán chuyện gì. Nếu gặp sao hung mà được cát hóa, bất kể Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, đều chủ về trước nguy sau an. Nếu lạc hãm, mà có tứ sát cùng chiếu, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, thì có nguy cơ về tính mạng.

Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Thất Sát

Ba vị trí độc tọa cho thấy Thất Sát được chế hóa hay phải một mình gắng gượng; cổ quyết thì đặc biệt chú ý tới những năm lưu niên trở lại đúng cung Thất Sát.

七杀寅申子午位,一生爵禄荣昌。
Thất Sát Dần Thân Tí Ngọ vị, nhất sinh tước lộc vinh xương.

Dịch nghĩa: Thất Sát ở các cung Dần, Thân, Tí, Ngọ, chủ về một đời tước lộc vinh hoa. (Xem hình 211, 212)
Chú giải: Thất Sát ở cung Tí thì không đúng; Thất Sát ở cung Ngọ thì được Liêm Trinh thủ cung phúc đức ở Thân, có thể kềm chế nhau; ở hai cung Dần hoặc Thân là cách "Triều đẩu", được cát hóa mới đúng.

Hình 211: ví dụ 1, người sinh năm Giáp, Thất Sát thủ mệnh ở Ngọ, Liêm Trinh Hóa Lộc ở cung phúc đức Thân có thể kiểm soát Thất Sát kim, chuyển hóa hung bạo thành quyền lực
H. 211
Hình 212: ví dụ 2, người sinh năm Canh, Thất Sát cùng Lộc Tồn thủ mệnh ở Thân, Tử Vi Thiên Phủ Hóa Khoa ở đối cung Dần có thể hóa sát khí thành quyền lực
H. 212

七杀临身命,流年刑忌灾伤。
Thất Sát lâm thân mệnh, lưu niên hình kị tai thương.

Dịch nghĩa: Thất Sát đến cung thân hay cung mệnh, lưu niên có các sao hình kị, chủ về tai họa, tổn thương.
Chú giải: Nguyên cục có Thất Sát ở cung mệnh. Lưu niên lại đến cung Thất Sát, gặp các sao hung hình, kị, lưu sát; hội hợp với sao lộc thì có thể hóa giải. (Xem hình 213, 214, 215)

Hình 213: (1) người sinh năm Giáp, mệnh bàn nguyên cục, Phá Quân thủ mệnh ở Tí, Thất Sát ở Thân, Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu
H. 213
Hình 214: (2) lưu niên Canh Thân gặp Thất Sát, mệnh bàn lưu niên, Lưu Dương ở Dậu, Lưu Đà ở Mùi
H. 214
Hình 215: (3) lưu niên Giáp Thân, Kình Dương Đà La trùng điệp, mệnh bàn lưu niên, Lưu Dương ở Mão và Dậu, Lưu Đà ở Sửu
H. 215

杀临绝地会羊陀,颜回夭折。
Sát lâm tuyệt địa hội Dương Đà, Nhan Hồi yểu chiết.

Dịch nghĩa: Thất Sát đến Tuyệt địa hội hợp với Kình Dương, Đà La, thì chết yểu như Nhan Hồi.
Chú giải: Nguyên cục có Thất Sát ở cung Tuyệt, nếu lưu niên lại là cung Thất Sát, bị Kình Dương và Đà La của nguyên cục hội chiếu, bị Lưu Dương và Lưu Đà xung khởi. Nhưng nếu gặp sao lộc thì có thể hóa giải.

七杀重逢四杀,腰驼背曲阵中亡。
Thất Sát trùng phùng tứ sát, yêu đà bối khúc trận trung vong.

Dịch nghĩa: Thất Sát gặp tứ sát tinh, chủ về lưng gù, lưng khòm, chết ở sa trường.
Chú giải: Nguyên cục là Thất Sát có sát tinh, lưu niên lại là cung Thất Sát, gặp thêm Lưu sát tinh, là năm chủ về bị thương bất ngờ. Nếu nguyên cục có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung với Thất Sát thì càng nặng.

七杀火羊贫且贱,屠宰之人。
Thất Sát Hỏa Dương bần thả tiện, đồ tể chi nhân.

Dịch nghĩa: Thất Sát, Hỏa Tinh, Kình Dương, chủ về nghèo mà còn hèn mọn, là mạng đồ tể.
Chú giải: Sai lầm. Có Linh Tinh, Kình Dương đồng cung mới đúng.

七杀羊铃,流年白虎刑戮灾遁。
Thất Sát Dương Linh, lưu niên Bạch Hổ hình lục tai độn.

Dịch nghĩa: Thất Sát, Kình Dương, Linh Tinh, lưu niên Bạch Hổ, chủ về tai họa "hình khắc". (Xem hình 216, 217)
Chú giải: Nguyên cục Thất Sát, có Kình Dương, Linh Tinh cùng bay đến. Lưu niên có Bạch Hổ, chủ về phạm pháp, kiện tụng, nhưng không đến nỗi bị "hình khắc" chết chóc.

Hình 216: nam mệnh sinh giờ Dậu năm Nhâm Dần, mệnh bàn nguyên cục, Liêm Trinh Thiên Tướng cùng Kình Dương, Linh Tinh thủ mệnh ở Tí, Thất Sát ở Dần, Bạch Hổ ở Tuất
H. 216
Hình 217: lưu niên Nhâm Tí năm 1972, mệnh bàn lưu niên, cung mệnh Tí có Kình Dương, Lưu Dương, Linh Tinh, Tuế Kiến, Lưu Bạch Hổ ở Thân
H. 217

七杀流羊二官符,离乡遭配。
Thất Sát Lưu Dương nhị quan phù, li hương tao phối.

Dịch nghĩa: Thất Sát, Lưu Dương, hai Quan Phù, chủ về bị đi đày, rời xa quê hương.
Chú giải: Thất Sát và Quan Phù an mệnh, lưu niên đến bản cung, lại gặp lưu niên Quan Phù đồng độ, mà còn gặp Lưu Dương. Nếu nguyên cục đến cung hạn có Hỏa Tinh, Linh Tinh thì rất hung.

七杀紫薇,化权反作祯祥。
Thất Sát Tử Vi, Hóa Quyền phản tác trinh tường.

Dịch nghĩa: Thất Sát, Tử Vi, mà Hóa Quyền trái lại sẽ tốt lành.
Chú giải: Cần có sao lộc, mà không cần được Hóa Quyền.

七杀破军,真依羊铃之虐。
Thất Sát, Phá Quân, chân y Dương Linh chi ngược.

Dịch nghĩa: Thất Sát và Phá Quân, đúng là dựa vào sự bạo ngược của Kình Dương, Linh Tinh.
Chú giải: Thất Sát hay Phá Quân đồng độ với Kình Dương, Linh Tinh đều không cát tường. Đây không chỉ nói riêng về Thất Sát.

七杀廉贞居庙旺,反为积富之人。
Thất Sát Liêm Trinh cư miếu vượng, phản vi tích phú chi nhân.

Dịch nghĩa: Thất Sát và Liêm Trinh ở cung miếu vượng, trái lại sẽ là người giàu có.
Chú giải: "Thất Sát, Liêm Trinh" ở cung Mùi là cách đặc biệt, ở cung Sửu thì không đúng.

七杀廉贞同位,路上埋尸。
Thất Sát Liêm Trinh đồng vị, lộ thượng mai thi.

Dịch nghĩa: Thất Sát và Liêm Trinh đồng cung, chủ về chôn thây trên đường.
Chú giải: Xin xem mục liên quan "Thất Sát và Liêm Trinh đồng cung" ở phần 2.

七杀破军宜外出,诸般手艺不能精。
Thất Sát Phá Quân nghi ngoại xuất, chư ban thủ nghệ bất năng tinh.

Dịch nghĩa: Thất Sát, Phá Quân nên đi xa, các nghề thủ công đều không tinh. (Xem hình 218, 219)
Chú giải: Thất Sát ở hãm địa, hoặc Phá Quân không có sao lộc, đều ứng.

Hình 218: ví dụ 1, người sinh năm Bính, Vũ Khúc Thất Sát hãm thủ mệnh ở Mão, Liêm Trinh Hóa Kị Tham Lang ở cung tài bạch Hợi
H. 218
Hình 219: ví dụ 2, người sinh năm Đinh, Tử Vi Thất Sát thủ mệnh ở Hợi, Liêm Trinh Phá Quân ở cung sự nghiệp Mão
H. 219

七杀沈吟福不荣。
Thất Sát trầm ngâm phúc bất vinh.

Dịch nghĩa: Thất Sát trầm ngâm thì phúc mà không vinh.
Chú giải: Đây là nói về nữ mệnh. "Trầm ngâm" là hãm địa ở hai cung Tị hoặc Hợi.

七杀临身终是夭。
Thất Sát lâm thân chung thị yểu.

Dịch nghĩa: Thất Sát đến cung thân, rốt cuộc là yểu mạng.
Chú giải: Đây là nói Thất Sát thủ cung thân, nếu đại hạn hoặc lưu niên đến cung thân gặp "Thất Sát, Phá Quân", là "trúc la tam hạn". Tuổi trẻ mà gặp vận hạn này chủ về yểu mạng, hoặc bệnh nặng.

七杀单居福德,女人切忌贱无疑。
Thất Sát đơn cư phúc đức, nữ nhân thiết kị tiện vô nghi.

Dịch nghĩa: Thất Sát độc tọa ở cung phúc đức, nữ mệnh rất kị, chủ về hèn mọn.
Chú giải: Câu này hơi võ đoán.

七杀守照,岁限擎羊,午生人卯酉宫安命,主凶亡。
Thất Sát thủ chiếu, tuế hạn Kình Dương, Ngọ sinh nhân Mão Dậu cung an mệnh, chủ hung vong.

Dịch nghĩa: Thất Sát thủ mệnh, năm hạn là Kình Dương, người sinh năm Ngọ an mệnh ở hai cung Mão hoặc Dậu, chủ về hung, mất.
Chú giải: Đây là nói "Thất Sát gặp Kình Dương và Đà La" (七杀重逢羊陀迭并. Thất Sát trùng phùng Dương Đà điệt tính).

Cốt Tủy Của Sao Thất Sát

Thất Sát là tướng tinh, cát hung tùy vào việc sát khí có được chế hóa thành quyền hay không: đối cung là Tử Vi, Thiên Phủ thì thành cách triều đẩu, ngưỡng đẩu; có Liêm Trinh Hóa Lộc ở cung phúc đức kềm chế thì hung bạo hóa thành quyền lực; rơi vào Thiên La, Địa Võng thì phải tự mình phấn đấu trong sóng gió.

Cổ quyết đặc biệt chú trọng vận hạn: nguyên cục có Thất Sát, lưu niên trở lại cung Thất Sát gặp Lưu Dương, Lưu Đà, Bạch Hổ, Quan Phù thì ứng tai họa, nhưng gặp sao lộc thì có thể hóa giải. Khi luận, xét sao chế hóa trước, rồi mới xét sát tinh của nguyên cục và của lưu niên.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái