Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Luận đoán lưu nhật, lưu thời và kĩ thuật luận đoán địa bàn

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202611 phút đọc2 lượt đọc
Luận đoán lưu nhật, lưu thời và kĩ thuật luận đoán địa bàn

Ngày 5 tháng giêng năm Nhâm Tuất, lúc 12 giờ 20 phút, bà X gặp tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, về sau còn tổn thương thần kinh cột sống và phải vật lí trị liệu. Trong lá số của ngày hôm ấy, Vũ Khúc ba lần Hóa Kị, tám sát tinh vây quanh cung Mệnh của ngày, còn giờ Ngọ thì lại có Liêm Trinh Hóa Kị và Kình Dương bay vào cung Mệnh. Vương Đình Chi vốn không chủ trương luận đoán tỉ mỉ như vậy, chỉ dùng khi thật cần, như chọn ngày đi đường trong tháng dễ gặp nạn. Đến lưu nhật, lưu thời thì lá số đã chi li tới mức ấy, còn địa bàn lấy cung Thân làm chủ thì soi được gì về gốc rễ một con người?


Cách luận đoán lưu nhật

VƯƠNG ĐÌNH CHI KHÔNG CHỦ TRƯƠNG LUẬN ĐOÁN LƯU NHẬT, bởi vì "nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn", không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, luận đoán lưu nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán tử kì cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự; hoặc tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn ngày để đi.

Luận đoán lưu nhật là khởi ngày 1 từ cung mệnh của lưu nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị thì đó là cung mệnh của lưu nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm can chi của ngày muốn luận đoán, rồi tính lưu diệu của lưu nhật.

Cách tìm cung mệnh ngày 4 tháng 4 năm Ất Sửu, khởi ngày 1 từ cung Tuất, đến cung Sửu

Như trong hình trên, giả dụ như tháng tư cung mệnh ở Tuất, tức khởi ngày 1 ở cung Tuất, đi thuận; nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn niên lịch, tháng tư, năm Ất Sửu, can chi của ngày 4 là Nhâm Tuất, do đó lấy can chi "Nhâm Tuất" để tìm lưu diệu, như Thiên Lương Hóa Lộc, Tử Vi Hóa Quyền, Thiên Phủ Hóa Khoa, Vũ Khúc Hóa Kị; Lộc Tồn ở cung Hợi, v.v…

Tháng nhuận tính thế nào

Nếu có tháng nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tí đó nhuận tháng 10, thì từ ngày 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 10; từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.

Cách tìm cung mệnh ngày 1 tháng 10 nhuận năm Giáp Tí, cung mệnh của ngày tại cung Mão

Như trong hình trên, nếu tháng 10 cung mệnh ở Dậu, tức từ cung này khởi ngày 1, đếm thuận đến ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày 1 của tháng 10 nhuận, lấy cung Mão làm cung mệnh. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết đó là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can chi "Tân Dậu" để tìm lưu diệu.

Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11 (tức cung Tuất) đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11 (tức tháng Bính Tí), lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.

Nhật bàn của bà X và ngày 5 tháng giêng năm Nhâm Tuất

Cách đếm ngày đã rõ; muốn thấy lưu nhật ứng nghiệm tới đâu, phải đi hết một chuỗi từ đại hạn xuống tới một ngày cụ thể.

Bây giờ chúng ta đơn cử một "nhật bàn" làm ví dụ (đã lược bỏ một số sao không có liên quan).

Bà X đang ở trong đại hạn Ất Mùi. Cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. Thế là biến thành Thiên Hình và Thiên Nguyệt đồng độ, có Địa Kiếp và Địa Không tương hội.

Nhật bàn của bà X, dương nữ Mộc tam cục, cung mệnh Tuất có Liêm Trinh Hóa Kị, Thiên Phủ

Thiên Đồng và Cự Môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mạn tính. Bởi vì Thiên Hình, Thiên Nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái Dương và Thiên Lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.

Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, Liêm Trinh Hóa Kị hội Vũ Khúc (lưu niên thì Hóa Kị). Đà La của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà La và Lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả Lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình Dương của lưu niên ở cung Tí và Lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình Dương và Linh Tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.

Tính chất của tai ách là gì? Do Vũ Khúc Hóa Kị xung khởi Liêm Trinh Hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu. Có điều, năm đó cung thiên di (Nhâm Thìn) là Thất Sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.

Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy đến cung tật ách của lưu niên.

Cung tật ách của lưu niên ở cung Tị, Thiên Cơ tọa thủ, bị hai sao Kình Dương đều xung động giáp cung, và Thái Âm Hóa Kị xung chiếu. Kình Dương chủ về tổn thương, Thái Âm và Thiên Cơ tương hội chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với "Thiên Đồng, Cự Môn" và Thiên Hình ở cung Sửu; lại hội hợp với "Thái Dương, Thiên Lương" mượn ở cung Mão nhập cung Dậu; do đó có thể đoán định là bị thương bất ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.

Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuất, tháng giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu Quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu nguyệt. Tháng Nhâm Dần, Vũ Khúc lại Hóa Kị, trùng điệp với Niên Hóa Kị, sức mạnh rất lớn. Lại tương hội với Niên Đà, Nguyệt Đà của cung Tuất; còn tương hội với Kình Dương và Linh Tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị Vận Đà, Niên Đà, Nguyệt Đà, Niên Dương, Nguyệt Dương xung khởi, nên tuy là Kình Dương và Linh Tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng đối với lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán định vận trình của tháng này không được tốt.

Tra lưu nhật, đến ngày 5 (Nhâm Tí), cung mệnh của lưu nhật ở cung Ngọ; vì can của ngày là Nhâm, Vũ Khúc của cung Dần lại Hóa Kị lần nữa, thành Vũ Khúc ba lần Hóa Kị, xung động Liêm Trinh Hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp tám sát tinh Kình Dương, Đà La và Linh Tinh, cực kì nghiêm trọng. Thêm vào đó, cung tật ách của lưu nhật là cung Sửu có "Thiên Đồng, Cự Môn" và Thiên Hình, còn bị lưu nhật Hóa Kị và lưu nhật Kình Dương giáp cung, vì vậy ngày hôm đó (ngày 5, tháng giêng, năm Nhâm Tuất, 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau khi trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lí trị liệu.

Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 (Ất Sửu) có nguy cơ phải li hôn. Bạn đọc thử xem xét cung phu thê của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất (1982) xem sao.

Cách luận đoán lưu thời

Ngày đã tìm ra rồi, chiếc đồng hồ còn có thể chỉ thêm một bước nữa: giờ xảy ra vụ việc.

Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán "lưu thời", nhưng khi luận đoán lưu thời sẽ rơi vào tình trạng chi li thái quá, nên phái Trung Châu Vương Đình Chi ít khi dùng đến. Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tí ở cung Tí, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu, v.v… đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng "Ngũ hổ độn" như sau:

Ngày Giáp Kỉ khởi giờ Giáp Tí; ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tí; ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tí; ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tí; ngày Mậu Quý khởi giờ Nhâm Tí.

Như trong nhật bàn của bà X ở trên, ngày Nhâm Tí khởi giờ Canh Tí, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ là Liêm Trinh Hóa Kị, còn có Kình Dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.

Kĩ thuật luận đoán địa bàn

Thiên bàn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật, lưu thời đều xoay quanh cung mệnh; còn một tấm bàn nữa lấy cung thân làm chủ, soi vào phần gốc rễ tiên thiên của con người.

Địa bàn tổng cộng có 14 chính diệu, về cách an, toàn bộ giống như thiên bàn, nhưng phép an sao Tử Vi hơi khác. Tử Vi của thiên bàn là lấy thiên can của năm sinh và ngũ hành Dần thủ để tìm nạp âm của cung mệnh, rồi lấy nạp âm ngũ hành để tra cục số, thì biết cung vị của Tử Vi.

Ở địa bàn cũng vậy, chúng ta lấy thiên can của năm sinh và ngũ hành Dần thủ, nhưng không phải để tìm nạp âm của cung mệnh, mà là tìm nạp âm của cung thân. Do đó địa bàn lấy cung thân làm chủ. Sau khi tra được nạp âm của cung thân, chiếu theo phương pháp của thiên bàn, căn cứ ngũ hành cục số để tìm cung vị Tử Vi.

Sau khi đã biết địa bàn, bạn rất dễ xem xét được căn nguyên của thiên tính và bản chất tiên thiên của mệnh tạo. Nhờ vậy chúng ta sẽ hiểu tại sao rất nhiều người có địa vị cao quý trong xã hội nhưng họ lại có những hành vi nhỏ rất là hạ lưu. Đây là vì các sao của cung mệnh ở thiên bàn rất tốt, nhưng các sao của cung mệnh ở địa bàn tiên thiên lại không cao quý cho lắm. Trái lại, có rất nhiều người nghèo nàn hoặc không được hưởng một sự giáo dục tốt, nhưng họ lại có tư tưởng rất thanh cao và những hành vi rất đáng khâm phục. Đây là do các sao của cung mệnh ở thiên bàn phần nhiều là sao xấu, nhưng ở địa bàn lại có nhiều sao rất tốt cùng hội chiếu. Các sao ở địa bàn cũng vậy, cần phải chú ý xem chúng nhập miếu hay lạc hãm, sinh vượng hay tử mộ để phân biệt sự cao thấp của chúng.

Xin đơn cử ví dụ, một người sinh vào giờ Tị, ngày 17, tháng 5, năm Quý Sửu, các sao ở địa bàn được bài bố như sau.

Địa bàn người sinh giờ Tị ngày 17 tháng 5 năm Quý Sửu, âm nam Thủy nhị cục, cung mệnh Sửu có Liêm Trinh, Thất Sát

Trong sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú, Vương Đình Chi chú giải như sau:

Lục tiên sinh chủ trương dùng "địa bàn" để tìm "căn nguyên tiên thiên", đây là điểm rất đáng chú ý, không phải là phát biểu của một người hiểu biết nửa vời, nhưng dùng "địa bàn" để tính "giao thế thời" thì Lục tiên sinh hoàn toàn không nhắc đến. Theo Vương Đình Chi, mỗi giờ sinh của một người có thể chia ra thành "tam bàn" thiên, địa, nhân; điều này cần phải căn cứ vào tổ đức để phân biệt, chứ không nhất định giới hạn trong "giao thế thời".

Liên quan đến phương pháp an sao ở "địa bàn" và "nhân bàn", điều xưa nay vẫn được coi là "bí truyền", thực ra rất là đơn giản.

Trước tiên cứ theo "phương pháp an sao" của mệnh bàn, mệnh bàn này tức là "thiên bàn". Rồi lấy cung thân của thiên bàn đổi thành cung mệnh, dùng "can chi" của cung thân để định cục ngũ hành, an Tử Vi và an Thiên Phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác, gọi là "địa bàn".

Nếu không dùng cung thân, thì lấy cung phúc đức của thiên bàn đổi thành cung mệnh, rồi dùng "can chi" của cung phúc đức để định cục ngũ hành, sau đó an Tử Vi và Thiên Phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác nữa, gọi là "nhân bàn", nói một cách chính xác thì đây là "nhân bàn của địa bàn". "Nhân bàn" này khác với "nhân bàn" đại hạn và lưu niên; ở đây quan điểm của Vương Đình Chi hơi khác với Lục Bân Triệu.

Nếu cung mệnh và cung thân đồng cung, thì "thiên bàn" và "địa bàn" hoàn toàn giống nhau; nếu cung thân và cung phúc đức đồng cung, thì "địa bàn" và "nhân bàn của địa bàn" hoàn toàn giống nhau.

Chú ý phân biệt, "thiên bàn", "địa bàn", "nhân bàn của địa bàn" chỉ có cung mệnh là khác cung độ, 14 chính diệu được bài bố khác nhau, còn các sao khác ở các cung viên đều không thay đổi.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái