Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cung Thiên Di, động tượng và sáu chính tinh đầu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202628 phút đọc5 lượt đọc
Cung Thiên Di, động tượng và sáu chính tinh đầu

Gặp năm Lộc Mã giao trì, nhiều người tin rằng ra đi ắt phát tài nơi xa, rồi chính vì tham tiền mà rơi vào hiểm cảnh. Cung Thiên Di chỉ cho biết có động hay không, còn đi rồi được mất thế nào thì phải hỏi đến tổ hợp chính tinh...


LỘC MÃ GIAO TRÌ CHỈ CHO BIẾT MỘT NGƯỜI SẼ ĐỘNG, CHỨ CHƯA HỀ HỨA HẸN NGƯỜI ẤY SẼ PHÁT TÀI Ở NƠI XA. Cung Thiên Di vì thế phải đọc làm hai bước: trước tìm "động tượng" ở Lộc Tồn, Thiên Mã, Hỏa Tinh, Linh Tinh và tính động tĩnh của chính diệu; sau mới xét tổ hợp tinh hệ để biết đi rồi cát hay hung. Sáu chính tinh đầu, từ Tử Vi đến Liêm Trinh, mỗi sao cho một kiểu ra đi rất khác nhau.

Cung Thiên Di và "động tượng"

Luận vận trình của cung Thiên Di chủ yếu là luận những thời kì đi xa khá lâu. Ngày nay đi du lịch dễ dàng, nên cũng có thể tham khảo cung Thiên Di của lưu nguyệt để xem chuyến đi có vui vẻ không, có gặp bất trắc không. Nói cách khác, đi đâu xa trong một thời gian khá dài thì xem cung Thiên Di của đại vận hay lưu niên; đi du lịch thì xem cung Thiên Di của lưu nguyệt.

Nếu định cư ở nơi khác thì trong ba năm đầu, lúc luận đoán phải lấy cung Thiên Di làm trọng, cung mệnh của nguyên cục hay của lưu niên chỉ dùng để tham khảo. Nhưng khi xem vận trình của anh em, cha mẹ, vợ chồng, con cái, quan hệ nhân tế, tiền bạc và sự nghiệp, thì vẫn căn cứ theo sự luân chuyển ở cung mệnh của lưu niên.

Cung Thiên Di cũng dùng để luận đoán mệnh tạo nên phát triển ở quê nhà hay nên rời xa quê hương. Ở lưu niên, thường lại dùng để luận đoán tình hình thay đổi nơi làm việc xem có lợi hay không.

Hễ cung mệnh không cát tường, hai cung Sự Nghiệp và Tài Bạch cũng không cát tường, cung Tật Ách cũng không cát tường, chỉ riêng cung Thiên Di là có cát hóa và có sao cát đồng cung, thì thường thường lợi về thiên di, đây là phép "xu cát tị hung". Nếu ngược lại thì nên tĩnh, không nên động. Phần này tập trung nghiên cứu thiên di xem có lợi hay không, và hiện tượng sau khi thiên di thế nào. Những điều trình bày ở đây về đại thể đều áp dụng cho tinh bàn nguyên cục, đại vận, lưu niên và lưu nguyệt. Nhưng vẫn phải lấy cung Thiên Di của nguyên cục làm tính chất (thể), còn cung Thiên Di của đại vận hoặc lưu niên là phản ứng của tính chất ấy (dụng).

Có thiên di hay không, cần phải gặp "động tượng" mới đúng. Hễ có "Mã trùng điệp" (tức Thiên Mã của nguyên cục bị Thiên Mã của đại vận xung động, hoặc Thiên Mã của đại vận bị Thiên Mã của lưu niên xung động), có "Lộc Mã giao trì", hoặc cung mệnh của lưu niên gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì mới có thể động, di chuyển.

Nếu động mà không do bản thân, như theo người nhà ra nước ngoài, theo chồng dời ra ở riêng, thì dù cung mệnh hay cung Thiên Di tuy bất động, nhưng các cung có liên quan (như cung Điền Trạch, cung Phu Thê) trình hiện "động tượng", cũng chủ có di chuyển. Nhưng cảnh ngộ sau khi thiên di thì vẫn dùng cung Thiên Di để luận đoán.

Cung Thiên Di rất hung, như gặp "Liêm Trinh, Thất Sát" Hóa Kị hội sát tinh; "Linh Xương Đà Vũ"; hay "Cự Hỏa Kình Dương", thì dù có "động tượng" cũng không nên di chuyển. Nhưng thường thường cũng vì có "động tượng" mà người ta mới động rồi rơi vào hiểm địa; nếu không, người ta thiên di làm gì để rơi vào hiểm địa?

Gặp lưu niên "Lộc Mã giao trì", thậm chí "Lộc trùng điệp", "Mã trùng điệp", là "động tượng", nhưng không đại biểu cho việc phát tài ở nơi xa. Thường thường "Lộc Mã giao trì" mà có các sao sát, kị ám xung là điềm tượng xuất ngoại kiếm tiền sẽ chuốc hung họa. Thái Vi phú nói:

Lộc phùng xung phá, cát xứ tàng hung.

Nghĩa là sao lộc gặp xung phá thì trong chỗ cát có chứa điềm hung. Những tao ngộ trong đời người đại để thường vì tham tiền mà rơi vào hiểm cảnh.

Cho nên lúc luận đoán cung Thiên Di, có thể căn cứ vào Lộc Tồn, Thiên Mã, Hỏa Tinh, Linh Tinh, và tính động tĩnh của chính diệu (như Thiên Cơ chủ "động", Thiên Phủ chủ "tĩnh") để luận đoán có "động tượng" hay không; nhưng cát hung ứng nghiệm sau khi thiên di thì phải xem xét tổ hợp tinh hệ mà luận. Không chú ý điểm này thường sẽ luận đoán sai lầm. Thử nghĩ, "Lộc Mã giao trì" chủ "động", nếu "Lộc Mã giao trì" còn chủ phát tài, thì chẳng phải hễ người nào có "động tượng" đều có thể phát tài ở nơi xa hay sao? Hiểu được lí lẽ này, lúc luận đoán mới linh diệu.

Tử Vi ở cung Thiên Di

Đế tinh đi xa thì điều đầu tiên phải hỏi là có bá quan theo hầu hay chỉ một mình giữa đồng hoang.

Tử Vi có "bách quan triều củng" thì nên thiên di, chủ có người dìu dắt, giúp đỡ, hoặc có trợ lực; nếu là "tại dã" hay "cô quân" thì sau khi thiên di sẽ chủ tổn thất, bị cô lập.

Tử Vi đồng độ với Lộc Tồn ắt sẽ bị Kình Dương và Đà La giáp cung; nếu Kình Dương, Đà La xung hội thì xuất ngoại sẽ bị người ta bài xích, chèn ép. Nếu đồng thời gặp thêm cát tinh thì chủ có trợ lực, nhưng cũng có lực cản trở, phá phách.

Tử Vi Hóa Khoa ở cung Thiên Di, gặp các sao phụ, tá cát, chủ ở nơi xa được người ta kính trọng. Tử Vi Hóa Quyền thì chủ nên dựa vào sức mạnh của bản thân để mở ra cục diện mới, ít được trợ lực.

Tử Vi đồng cung với Kình Dương chủ bị đả kích; đồng cung với Đà La chủ chuốc phiền phức; đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh chủ chuốc thị phi; đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp chủ gặp trắc trở; đồng cung với các sao đào hoa chủ ở nơi xa gặp rắc rối khó xử về tình cảm.

Thiên Tướng tọa mệnh thì cung Thiên Di là "Tử Vi, Phá Quân"; nếu Phá Quân tọa mệnh thì cung Thiên Di là "Tử Vi, Thiên Tướng". Thiên di có lợi hay không, cần xem kĩ tổ hợp sao thực tế mà định. Trong các tình huống thông thường là có trợ lực, cũng có lực phá hoại, cần xem kĩ sức mạnh bên nào tăng thêm.

Thất Sát tọa mệnh thì cung Thiên Di là "Tử Vi, Thiên Phủ", không nhất định chủ thiên di là có lợi; thường thường sau khi thiên di phải trải qua sóng gió, trắc trở, gian nguy, mới có thể ổn định. Dù "Tử Vi, Thiên Phủ" được "bách quan triều củng" cũng vậy. Nếu Tử Vi là "tại dã" hay "cô quân", hoặc Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", thì thiên di rất bất lợi, thường chủ thất bại, trắc trở, hoặc nạn tai, bệnh tật liên tục.

Ở hai cung Mão hoặc Dậu là vô chính diệu, cung Thiên Di là "Tử Vi, Tham Lang", lại gặp các sao phụ, tá cát hội hợp, phần nhiều chủ thiên di có lợi. Nhưng nếu cung mệnh của nguyên cục được cát hóa, có sao cát, thì cũng chưa chắc không thiên di là không được; nhất là cung mệnh hội Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", hoặc hội Thiên Phủ là "kho phú đầy ắp", không chủ thiên di có lợi.

Cung mệnh là Thiên Phủ, cung Thiên Di là "Tử Vi, Thất Sát"; nếu Tử Vi Hóa Quyền thì thiên di tuyệt đối bất lợi, hoặc chủ vì xảy ra sự cố nghiêm trọng nên bị buộc phải thiên di, thường cần phải chịu tổn thất tài sản. Nếu Tử Vi Hóa Khoa, Thiên Phủ ở cung Hợi thì không cần thiên di; ở cung Tị thì thiên di có lợi hơn, vì Lộc Tồn đồng thời sẽ ở cung Mão, gây ảnh hưởng khiến tính chất của Thiên Phủ khác đi.

Tử Vi ở cung Thiên Di, hội hợp Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", hoặc lại gặp các sao Thiên Hình, Đại Hao, Thiên Hư, Địa Không, Địa Kiếp, chủ ở nơi xa bị áp lực, hoặc xảy ra bất hòa, tranh chấp, thị phi.

Tử Vi đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, lại gặp Thiên Mã, thường chủ thiên di không chỉ một lần, tức thường thiên di, không ở chung một chỗ với người nhà.

"Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất thủ cung Thiên Di, gặp sát tinh, có Thiên Nguyệt đồng độ, thì đi xa dễ nhiễm bệnh, thường còn có bệnh triền miên.

Tử Vi ở cung Thiên Di ưa Tả Phụ và Hữu Bật giáp cung, chủ được trợ lực; Thiên Khôi và Thiên Việt giáp cung chủ được người ta giúp đỡ; hay Văn Xương và Văn Khúc giáp cung chủ được người ta xem trọng. Tử Vi không ưa Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp giáp cung, tính chất tương tự như đồng độ.

Tử Vi ở cung Thiên Di gặp sao đào hoa, lại gặp thêm Văn Xương, Văn Khúc, chủ ở nơi xa có kì ngộ. Nếu đồng thời gặp các sao sát, kị, thì ở nơi xa dễ vì sắc mà chuốc họa, dẫn đến phá tài; lại gặp các sao hình, kiếp, chủ vì sắc mà phạm pháp; gặp các sao hư, hao, Thiên Nguyệt, Bệnh Phù, chủ vì sắc mà mang bệnh.

Thiên Cơ ở cung Thiên Di

Sau đế tinh cần người nâng đỡ là Thiên Cơ, sao sinh ra vốn đã không chịu ngồi yên một chỗ.

Thiên Cơ ở cung Thiên Di chủ nên đi xa, rời khỏi quê hương để phát triển. Đây là do tính chất hiếu động, trôi nổi của Thiên Cơ. Nhưng không nhất định là định cư ở tha hương, có lúc chỉ vì nghề nghiệp mà thường xa gia đình. Ở thời cổ đại là dịch phu (người chuyển thư từ, công văn), thủy thủ; ở thời hiện đại có thể là thuyền viên, nhân viên hàng không, vận tải...; thậm chí có lúc chỉ chủ bản thân mệnh tạo thường chuyển công tác, đổi nghề.

Cổ nhân nói:

Thiên Cơ xuất ngoại ngộ quý, cư gia ngã tác thị phi.

Nghĩa là Thiên Cơ ra ngoài thì gặp quý nhân, ở nhà thì sinh thị phi. Ở đây không được luận chung chung, chỉ trong tình hình cung mệnh vô chính diệu, mượn sao an cung Thiên Di (tức ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung là "Thiên Cơ, Thái Âm"; ở hai cung Mão hoặc Dậu, đối cung là "Thiên Cơ, Cự Môn"), nếu tam phương tứ chính của cung Thiên Di hội sao cát, ưu hơn cung mệnh, mới ứng nghiệm.

Lại như Cự Môn an mệnh ở hai cung Tí hoặc Ngọ, hội Thái Dương Hóa Kị, còn gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp; cung Thiên Di là Thiên Cơ độc tọa, thì vẫn thích hợp rời khỏi nơi sinh ra hoặc nơi đã ở lâu; nhất là Thiên Cơ ở cung Ngọ hội Lộc Tồn ở cung Dần, cũng nên thiên di.

Cung Thiên Di là Thiên Cơ đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ xuất ngoại bôn ba bận rộn, sương gió đắng cay, không ở yên một nơi; đồng độ với Kình Dương, Đà La, chủ điều tiếng thị phi.

Thiên Cơ ở cung Thiên Di đồng độ với Địa Không, Địa Kiếp chủ trở ngại trắc trở. Nếu có các sát tinh tụ tập, lại gặp các sao Thiên Hình, Đại Hao, sẽ chủ phá tài hoặc gặp bất trắc. Nhất là lúc Thiên Cơ gặp Thiên Lương đồng độ hoặc vây chiếu, càng chủ xuất ngoại gặp nhiều rối rắm, bị một phen hú vía, nhưng rốt cuộc có thể hóa giải.

Cung Thiên Di là Thiên Cơ gặp "Lộc Mã giao trì", tuy chủ thường di chuyển, nhưng lại hưởng thụ nhiều; nếu gặp Thiên Mã mà không gặp Lộc Tồn, lại đồng cung với sát tinh, thì ở nơi xa ắt sẽ vất vả nhiều mà chẳng được gì, hoặc bôn ba khổ lụy, không ở yên một nơi.

Thiên Cơ ở cung Thiên Di có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ thì không nên gặp thêm các sao đào hoa; nếu không, không những trôi nổi bất an mà còn vì tình cảm mà bị giữ lại ở tha hương. Gặp cát tinh thì chủ lập nghiệp ở nơi xa; gặp sát tinh thì hao tài, phá tán ở nơi xa.

Thiên Cơ ở cung Thiên Di có các sao cát hội hợp, chủ rời khỏi quê hương để phát triển là đại lợi.

Thiên Cơ gặp Thiên Lương đồng độ hoặc vây chiếu, chủ đi xa được nhiều người nâng đỡ. Vì Thiên Lương là "ấm tinh", nên còn chủ gặp nhiều cơ hội có sẵn; gặp Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp thì càng đúng. Dù có sát tinh, bất quá cũng chỉ bị một phen hú vía; sát tinh và cát tinh lẫn lộn, thường chủ nhờ họa mà được phúc, ví dụ như lúc gặp phiền phức thì lại nhờ đó mà quen biết với người có lực chi viện.

Thiên Cơ gặp Thái Âm đồng độ hoặc vây chiếu, thông thường nên đi xa để kiếm tiền, nhưng ắt sẽ suốt ngày gặp phiền phức và bận rộn. Gặp sao lộc thì càng tốt, vì sao lộc và Thái Âm khí cơ hợp nhau. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, hao, thì trái lại sẽ chủ hao tài, phá tán. Gặp cát hóa, sao cát lẫn lộn với sát tinh, chủ tuy kiếm được tiền nhưng gặp nhiều thị phi, hoặc chủ thành công mà có trắc trở. Cần xem kĩ tổ hợp sao thực tế mà định.

Thiên Cơ gặp Cự Môn đồng độ hoặc vây chiếu, ý nghĩa cơ bản là trôi dạt, rất nên đi xa kinh doanh, nhất là làm các nghề nghiệp như bán hàng, chào hàng, quảng bá, du lịch. Gặp các sao sát, kị sẽ chủ kinh doanh thất bại, hoặc bị áp lực ở nơi xa.

Tinh hệ Thiên Cơ và Cự Môn không quyến luyến cố thổ, tinh hệ Thiên Cơ và Thiên Lương thì quyến luyến quê hương. Đây là tính chất cơ bản dùng để luận đoán phân biệt.

Thái Dương ở cung Thiên Di

Nếu Thiên Cơ đi vì không ngồi yên được, thì Thái Dương đi vì bản chất của mặt trời là tỏa ra ngoài.

Thái Dương nên "động" mà không nên "tĩnh", nên "phát tán" mà không nên "hướng nội"; ở cung Thiên Di thì chủ bất lợi đối với tổ nghiệp, rời xa quê hương thì phát phúc.

Ở thời cổ đại, nữ mệnh Thái Dương thủ cung Thiên Di chủ chia lìa với gia đình mà thiên di, có lúc cũng là điềm tượng tái giá. Đây là vì thời cổ đại phái nữ không có sự nghiệp riêng, cho nên tính "động" không chủ khai sáng sự nghiệp.

Thái Dương nhập miếu thủ cung Thiên Di thì xuất ngoại phát đạt, có thể có biểu hiện tốt; nếu lạc hãm thì trôi nổi bất an, bôn ba vất vả.

Thái Dương chủ quý, tức việc tranh thủ địa vị xã hội là khá quan trọng; ở cung Thiên Di cũng có ý vị tương tự, cho nên thường thích hợp đi du học, đi tu nghiệp để tăng thêm hiểu biết, nhưng chưa chắc thích hợp kinh doanh làm ăn ở nơi xa.

Cung mệnh vô chính diệu, đối cung là "Thái Dương, Thiên Lương", "Thái Dương, Thái Âm", hay "Thái Dương, Cự Môn", đều nên rời xa quê hương, "thay gốc đổi lá". Nếu cung mệnh có Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ tha hương lại là cố hương. Lộc Tồn, Thiên Mã hội hợp cung mệnh hoặc cung Thiên Di cũng chủ cuộc đời sự nghiệp đều nên ở nơi khác, hoặc được người nước ngoài giúp đỡ.

Thái Dương lạc hãm, lại gặp các sao sát, kị, hình, hao, thì thiên di là bất lợi, thường vất vả mà không được gì, còn dễ chuốc thị phi, hao tài, phá tán, trắc trở.

Hễ Thái Dương ở cung Thiên Di chỉ lợi về phát quý cầu danh, không chủ tụ tài. Đây là tính chất cơ bản. Cho nên trừ phi có các sao khác chủ tiền bạc hội hợp, dù Thái Dương Hóa Lộc cũng không chủ nhờ thiên di mà trở nên giàu có.

Thái Dương gặp Cự Môn đồng độ hoặc vây chiếu, thông thường khá lợi về kinh doanh làm ăn ở nước ngoài, hoặc được người nước ngoài trọng dụng, nhưng chủ lao tâm. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì lại chủ bôn ba. Nếu Cự Môn Hóa Kị ắt sẽ nói năng vất vả. Thái Dương Hóa Kị thì dễ bị điều tiếng, oán trách; gặp sát tinh lại chủ nhận lỗi thay cho người khác. Nếu được cát hóa và có sao cát thì trợ lực mới lớn.

Tổ hợp "Thái Dương, Thiên Lương" là chủ cầu danh, cầu học; gặp Văn Xương, Văn Khúc càng tốt; nếu không, cũng lợi về chuyên nghiệp.

Thái Dương gặp Thiên Lương đồng độ hoặc vây chiếu, nếu Thái Dương Hóa Lộc, hoặc hội Lộc Tồn, cũng nên theo con đường chuyên nghiệp. Ở thời hiện đại thường là đại lí thương phẩm nước ngoài; cũng có thể làm ngược lại, dựa vào thương hiệu mà phân phối ra nước ngoài (hoặc nơi xa).

"Thái Dương, Thiên Lương" thủ cung Thiên Di mà Thái Dương Hóa Kị thì dễ chuốc sóng gió ở nơi xa; nếu đồng thời hội cát tinh thì thường nhờ họa mà được phúc; nếu gặp các sao sát, hình, thì chủ sóng gió rất lớn, nhưng rốt cuộc có thể hóa giải được. Có điều, tinh hệ này có lúc còn chủ "làm công việc có tính hung sự để kiếm tiền", cho nên có thể làm các nghề nghiệp về y dược, bảo hiểm... ở nước ngoài.

Thái Dương gặp Thái Âm đồng độ hoặc đối nhau, các sao quá hiếu động, trôi nổi, cho nên chủ trôi nổi không có gốc rễ, cũng chủ bôn ba.

Nhưng "Thái Dương, Thái Âm" thủ cung Thiên Di mà Thái Dương Hóa Lộc, tuy không ở yên một nơi nhưng vẫn được người bên ngoài (hoặc người ngoại quốc) giúp đỡ; Thái Âm Hóa Lộc thì chủ kiếm được tiền. Có điều, nếu Thái Dương Hóa Kị thì dễ bị áp lực ở quê người; Thái Âm Hóa Kị chủ đầu tư thất bại ở quê người.

"Thái Dương, Thái Âm" hội Thiên Mã thì ở nơi xa bôn ba rất vất vả; thích hợp làm những nghề nghiệp có tính chất di động, như vận tải. Gặp sát tinh thì thân tâm đều vất vả khổ lụy.

Vũ Khúc ở cung Thiên Di

Mặt trời đi xa để cầu danh, còn Vũ Khúc, sao tài, đi xa là để làm ăn, và cái giá của nó là bận rộn.

Vũ Khúc thủ cung Thiên Di chủ sau khi thiên di đến đất khách ắt sẽ rất bận rộn, vất vả; có thu hoạch hay không cần xem có hội sao cát hay không mà định. Ưa nhất là gặp sao lộc, sẽ chủ buôn bán đắc lợi ở nơi xa. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, hao, chủ ở nơi xa gặp nhiều thị phi trắc trở, dẫn đến bi quan, thường thường phải bị kẹt luôn ở nước ngoài (hoặc nơi xa).

Vũ Khúc gặp Tham Lang đồng độ hoặc tương hội, rất nên kinh doanh làm ăn ở nơi xa; gặp cát hóa và sao cát, hoặc gặp "Hỏa Tham", "Linh Tham", có thể chủ hoạnh phát; nếu đồng thời gặp thêm sát tinh thì hoạnh phát rồi hoạnh phá.

Hễ Vũ Khúc đồng độ hoặc đối nhau với "Hỏa Tham", "Linh Tham", sau khi phát tài thì rất nên quay về cố thổ. Nếu cung mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, vô chính diệu, đối cung là "Vũ Khúc, Tham Lang", cần xem kĩ Thiên Tướng ở cung Tài Bạch của nguyên cục mà định: được "Tài ấm giáp ấn" thì nên hồi hương; bị "Hình kị giáp ấn" thì không nên.

Vũ Khúc Hóa Kị ở cung Thiên Di thường chủ lưu lạc ở quê người; gặp Thiên Nguyệt sẽ chủ bị nhiễm bệnh ở nước ngoài (hoặc nơi xa); bị Kình Dương, Đà La giáp cung thì chủ chết ở nước ngoài (hoặc nơi xa).

Nếu không phải là cách cục "Vũ Tham" thì không nên đồng cung với hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh; nếu lại không có sao cát hội hợp thì chủ phiêu lưu khắp nơi, không ở yên một chỗ; nếu đồng thời gặp thêm Lộc Tồn, Thiên Mã, sẽ chủ vì nghề nghiệp cần phải thường thay đổi hoàn cảnh.

Cổ nhân có thuyết "Vũ Khúc hội Thất Sát, Phá Quân thì ở nơi xa thân tâm không được yên", nhưng theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi, hai tinh hệ "Vũ Khúc, Thất Sát", "Vũ Khúc, Phá Quân", bản thân Vũ Khúc cần phải được cát hóa mới chủ yên ổn. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, hao, thì ở nơi xa ắt sẽ gặp trắc trở, bị phá tán, thất bại, dẫn đến bị kẹt luôn ở tha hương.

"Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở cung Thiên Di, tính chất các sao khá ổn định; nếu Thất Sát ở cung mệnh hội sao cát và cát hóa thì không nên rời quê hương. Nếu cung mệnh không cát tường, mà "Vũ Khúc, Thiên Phủ" có sao lộc, mới nên rời xa quê hương để phát triển.

"Vũ Khúc, Thiên Phủ" rất kị hội Liêm Trinh Hóa Kị, chủ xảy ra tình huống tình cảm bị tổn thương ở nơi xa. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị sẽ chủ sự cố giao thông, sự nghiệp trắc trở, hay phá tài mà tình cảm bị tổn thương rất nặng.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ cung Thiên Di, gặp sao cát thì có thể được người ta đề bạt, giúp đỡ; gặp sao hung thì bị áp lực mà sinh phá tán, thất bại. Vũ Khúc cát hóa, được "Tài ấm giáp ấn" thì cát; Vũ Khúc Hóa Kị, bị "Hình kị giáp ấn" thì hung.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" đồng cung với Đà La, nếu không có Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, cũng chủ bị kẹt luôn ở tha hương.

"Vũ Khúc, Thất Sát" hội Liêm Trinh Hóa Kị, lại có sát tinh đồng độ, chủ sự cố giao thông.

"Vũ Khúc, Thất Sát" ở cung Thiên Di thì đi xa gặp nhiều trở ngại, rối rắm; dù gặp cát tinh cũng không thanh nhàn.

"Vũ Khúc, Thất Sát" có sát tinh hội hợp thì ở nơi xa gặp nhiều thị phi phiền phức, phá tán, thất bại. Kình Dương, Đà La chủ thị phi; Hỏa Tinh, Linh Tinh chủ rối ren; Địa Không, Địa Kiếp chủ phá tán, thất bại. Nếu gặp thêm Thiên Hình, Đại Hao, chủ phạm pháp.

Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đại khái là căn cứ tính chất của Tham Lang ở đối cung mà định. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung thì bôn ba vất vả không nặng; có thành tựu hay không thì cần xem tổ hợp sao thực tế mà định. Có điều, nếu Tham Lang ở đối cung bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung thì đại lợi về thiên di, chủ phát đột ngột.

Thiên Đồng ở cung Thiên Di

Rời sao tài bận rộn là Thiên Đồng, sao phúc, người đi xa thường chỉ mong được yên ổn mà không phải lao lực.

Thiên Đồng thủ cung Thiên Di, thông thường chủ đi xa phát phúc. Có điều, nếu Thiên Đồng Hóa Kị thì nhiều lo lắng. Nếu đồng cung với các sao đào hoa thì gặp nhiều tình huống rắc rối, khó xử về tình cảm.

Thiên Đồng Hóa Lộc không chủ xuất ngoại phát tài, nhưng chủ nạp phúc; cần phải có Lộc Tồn trùng điệp xung chiếu mới chủ phát tài. Nói "nạp phúc" là chủ ổn định, không cần lao tâm lao lực, hoặc gặp chuyện thì được người khác trợ lực.

Nếu Thiên Đồng đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, phần nhiều hay gặp trắc trở, bất an, mà thường thiếu kiên trì, nỗ lực nên thất bại, phải hao tổn nhiều tâm lực mới có thể xoay chuyển cục diện. Nếu đồng độ với Kình Dương, Đà La, thì xuất ngoại gặp nhiều thị phi, hoặc tai ách. Nếu Thiên Đồng Hóa Kị, còn gặp Thiên Hình, thị phi ắt sẽ nghiêm trọng, hoặc phạm pháp. Nếu gặp Thiên Nguyệt sẽ chủ bị nhiễm bệnh ở tha hương.

Thiên Đồng Hóa Kị mà có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao đồng độ, chủ xuất ngoại sẽ hao tài, phá tán, hoặc trên đường đi bị mất tiền; có Văn Khúc Hóa Kị đồng độ thì chủ bị trộm.

Có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng cung mà Thiên Đồng cát hóa; hoặc Thiên Đồng gặp Thiên Lương vây chiếu, tuy có tai ách nhưng có thể hóa giải. Nếu bị trộm thì có thể lấy lại được, phạm pháp thì có thể hòa giải, có thị phi kiện tụng thì nhờ họa mà được phúc.

Thiên Đồng cát hóa, hoặc có sao cát hội hợp, thì đại lợi về thiên di; gặp Thiên Khôi, Thiên Việt lại chủ được quý nhân nâng đỡ.

Thiên Đồng gặp Thái Âm đồng độ hoặc vây chiếu, mà Thái Âm nên miếu vượng. Do Thái Âm có tính chất di động bất thường, nên chủ xuất ngoại bôn ba; nếu Thái Âm miếu vượng thì bôn ba ít hơn, mà cơ hội thành công cũng lớn. Thái Âm lạc hãm thì vất vả mà ít thành tựu.

Tổ hợp "Thiên Đồng, Thái Âm", nếu Thái Âm Hóa Kị, tuyệt đối không nên đầu tư ở nơi xa; gặp thêm sát tinh thì chủ phá tài, còn chuốc rối rắm.

Trường hợp Thiên Đồng vây chiếu Thái Âm, ở cung Mão là tốt, không những Thiên Đồng nhập miếu mà Thái Âm ở cung Dậu cũng thừa vượng, cho nên tốt hơn Thiên Đồng ở cung Dậu rất nhiều.

Tổ hợp "Thiên Đồng, Cự Môn" chủ điều tiếng thị phi. Có điều, nếu gặp cát tinh thì chủ lao tâm mới kiếm được tiền.

"Thiên Đồng, Cự Môn" gặp Văn Xương, Văn Khúc, các sao đào hoa, chủ gặp rắc rối về tình cảm ở nơi xa; gặp thêm sát tinh thì vì vậy mà phá tán, thất bại.

"Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ thì tính chất rắc rối về tình cảm sẽ nặng hơn trường hợp Thiên Đồng gặp Cự Môn vây chiếu, nhưng tính chất điều tiếng thị phi thì nhẹ hơn.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ thì cung mệnh ắt sẽ vô chính diệu; nếu cung mệnh không hội sao cát mà cung Thiên Di hội sao cát, sẽ chủ xuất ngoại được người ta đề bạt, giúp đỡ; hoặc có sẵn cơ hội ở đất khách.

Thiên Đồng gặp Thiên Lương vây chiếu, thông thường cũng lợi về thiên di. Có điều, nếu cung mệnh là Thiên Lương Hóa Quyền hay Hóa Khoa, hoặc hội sao phụ, tá cát, thì không nên thiên di. Nhưng nếu Thiên Lương Hóa Lộc thì lại lợi về thiên di. Thiên Đồng cát hóa, hội sao cát, đi xa được phúc ấm.

Thiên Đồng đồng cung với Lộc Tồn, Thiên Lương đồng cung với Thiên Mã, đi xa kiếm tiền là đại lợi, nhưng sẽ không chỉ một lần thiên di, hoặc sau khi thiên di vẫn được tiền ở phương xa.

Liêm Trinh ở cung Thiên Di

Thiên Đồng đi xa để hưởng phúc, còn Liêm Trinh thì phải đi, vì ở lại quê nhà nó chẳng mở ra được gì.

Liêm Trinh thủ cung Thiên Di, thông thường đều chủ nên rời khỏi quê hương để phát triển; nhất là lúc các sao ở cung mệnh yếu hơn tinh hệ Liêm Trinh ở cung Thiên Di thì muốn không rời quê hương cũng không được. Ví dụ như Thiên Tướng tọa mệnh bị Kình Dương, Đà La giáp cung; đối cung là "Liêm Trinh, Phá Quân" gặp Lộc Tồn vây chiếu, tức là cung mệnh không bằng cung Thiên Di.

Liêm Trinh tọa cung Thiên Di, cổ nhân cho rằng lợi cho sĩ hoạn, nhất là tổ hợp "Liêm Trinh, Thiên Tướng", là rời xa quê hương để ra làm quan, hoặc nhậm chức quân sư, tham mưu. Ở thời hiện đại có thể làm quản lí hành chính cho công ti lớn.

Liêm Trinh Hóa Lộc, gặp Văn Xương, Văn Khúc đồng độ hay tương hội, cổ nhân cho rằng nên rời xa quê hương để đi thi, có thể đỗ đạt; nếu ở bản địa thì không thi đỗ. Ở thời hiện đại cũng có thể xem là điềm tượng đi du học nước ngoài.

Cung Thiên Di là Liêm Trinh Hóa Kị, có Kình Dương, Đà La giáp cung; hoặc mượn Kình Dương, Đà La xung hội (một sao đồng cung với Liêm Trinh, sao còn lại sau khi mượn sao an cung có thể tương hội); hoặc Kình Dương, Đà La đồng độ với Liêm Trinh có Lưu Dương, Lưu Đà xung khởi, còn có sao kị trùng điệp xung khởi (rất ngại Vũ Khúc Hóa Kị xung khởi); hoặc hội Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn"; phàm có cách cục như vậy mà gặp thêm Thiên Hình, Âm Sát, đều chủ chết ở ngoài đường, hoặc gặp hung họa, thị phi.

Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, gặp sát tinh, chủ lúc xuất ngoại vì thù tạc vui chơi mà sinh thị phi; gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp thì chủ vì tranh chấp tiền bạc mà gây ra họa.

Liêm Trinh thủ cung Thiên Di, có Thiên Nguyệt đồng độ, gặp thêm sát tinh, lại bị Hóa Kị xung khởi, chủ bị nhiễm bệnh ở tha hương.

Liêm Trinh Hóa Lộc chỉ chủ đắc ý ở nơi xa, chẳng chủ phát tài. Gặp "Tài ấm giáp ấn" hay gặp "Hình kị giáp ấn" thì chủ muốn hồi hương mấy bận nhưng đều gặp trắc trở, không thuận tiện. Nếu là "Hình kị giáp ấn" mà Liêm Trinh Hóa Kị thì càng bất lợi về thiên di. "Liêm Trinh, Thất Sát" gặp các sao sát, kị, hình tụ tập, chủ đi xa gặp họa. Liêm Trinh Hóa Kị thì gặp sự cố có liên quan đến chảy máu, cho nên phần nhiều chủ tai nạn giao thông.

"Liêm Trinh, Thất Sát" Hóa Lộc, hoặc Tham Lang Hóa Lộc, có "Lộc Tồn trùng điệp" đến hội, chủ xuất ngoại kiếm được tiền.

"Liêm Trinh, Phá Quân" thủ cung Thiên Di, có Kình Dương, Thiên Hình đồng độ hoặc vây chiếu, là tinh hệ tiềm phục tai nạn giao thông. Lúc đến lưu niên có Kình Dương trùng điệp, hoặc năm Liêm Trinh Hóa Kị, là niên hạn ứng nghiệm; dù gặp cát tinh cũng chủ bị thương, tàn tật.

Hễ Liêm Trinh thủ cung Thiên Di, có Thất Sát, Phá Quân, hay Tham Lang đồng độ hoặc vây chiếu, kèm Văn Khúc Hóa Kị đồng cung, lại gặp sát tinh, chủ đi xa bị lừa, hoặc mất đồ.

"Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung Thiên Di, hội cát hóa và sao cát, sẽ chủ giao tế thù tạc nhiều ở nơi xa, kết giao rộng nhưng không thâm tình; gặp Hóa Lộc thì chủ nhờ kết giao rộng mà kiếm được tiền. Gặp Hóa Kị phần nhiều phải lao tâm tổn thần, thường thường việc sắp thành lại hỏng, lợi ích đến tay thì bị người ta đoạt mất.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" chủ đi xa kinh doanh làm ăn phát triển ổn định. Có điều, nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", hoặc hội Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", sẽ chủ ở nơi xa bị người ta uy hiếp. Nếu Thiên Phủ là "kho phủ đầy ắp", hoặc hội Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", sẽ chủ có sẵn cơ hội.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" gặp sao đào hoa, trái lại sẽ chủ kiếm được tiền. "Liêm Trinh, Tham Lang" gặp sao đào hoa sẽ chủ ở nơi xa vì tửu sắc mà sự nghiệp hoang phế.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái