Bài tổng quan
Cung Tử Nữ với Tử Vi, Thiên Cơ và Thái Dương
Ông chủ một cửa tiệm có người làm công bình thường, nhưng cũng có một cánh tay phải được giao trọn mọi việc; người thứ hai ấy không nằm ở cung Giao Hữu mà ở cung Tử Nữ. Tử Vi cho con muộn mà có địa vị, Thiên Cơ cho con thông minh mà hay xa cách, còn Thái Dương thì chỉ một giờ sinh ngày hay đêm đã đổi hẳn...
CUNG TỬ NỮ KHÔNG CHỈ NÓI CHUYỆN CON CÁI, MÀ CÒN NÓI CẢ NGƯỜI TRỢ LÍ THÂN TÍN, NGƯỜI HỌC TRÒ NỐI GÓT MÌNH. Ông chủ một cửa tiệm xem người làm công bình thường ở cung Giao Hữu, nhưng người "tay phải" được giao trọn việc thì lại phải xem ở cung Tử Nữ. Ba chính tinh Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương mở đầu cách luận cung này.
Cung Tử Nữ và phép luận của cổ nhân
Cung Tử Nữ ngoài việc luận mối quan hệ giữa đương số với con cái, số con, tính cách của con, còn dùng để luận quan hệ giữa đương số với lớp người sau mình: học trò, người được mình đề bạt, nâng đỡ, hay những người dưới quyền có quan hệ mật thiết như trợ lí, thư kí.
Chẳng hạn một ông chủ cửa tiệm: quan hệ với người làm công thông thường chỉ cần xem ở cung Giao Hữu (thời xưa gọi là "cung nô bộc"). Nhưng nếu có một người là cánh tay phải, được ông chủ hết lòng tin cậy, để họ thay mình xử lí mọi việc, thì quan hệ với người ấy lại xem ở cung Tử Nữ.
Thời nay luận số con cái không còn nhiều ý nghĩa, nhưng phép tắc cổ nhân truyền lại vẫn đáng tham khảo, vì từ đó có thể đoán được lớp người sau có trợ lực cho mình hay không, và nhiều hay ít.
Phép luận cung Tử Nữ thời xưa như sau: căn cứ vào tổ hợp sao của cung để định số con, phẩm cách và địa vị của chúng; sau đó xem các sao phụ, tá, sát, hóa ở bản cung để biết có hình khắc không, số con tăng hay giảm, phẩm cách, địa vị thay đổi ra sao. Luận thì lấy bản cung làm chủ, rồi mới xét tam phương tứ chính. Thông thường, sao ở bản cung là sao thiện, gặp phụ, tá thì không những tăng số con mà địa vị con cái cũng tăng; nếu hội sát, kị, hình, hao, không, kiếp thì con cái có hình khắc. Nhưng nếu bản cung là sao ác, thì phụ, tá chỉ làm tăng số con; trừ khi cấu tạo thành cách cục, bằng không chẳng cải thiện được phẩm cách, địa vị của con. Còn các sao sát, kị, hình, hao, không, kiếp khi ấy không xem là hình khắc, mà chỉ dùng để đánh giá phẩm cách, địa vị của con cái.
Cổ nhân còn cho rằng tam phương tứ chính của cung Tử Nữ hội nhiều sao Nam Đẩu thì sinh con trai trước hoặc nhiều con trai; hội nhiều sao Bắc Đẩu thì sinh con gái trước hoặc nhiều con gái. Người sinh ban ngày mà Thái Dương bay vào cung dương thì phần nhiều sinh trai; người sinh ban đêm thì ưa Thái Dương bay đến cung Tử Nữ, ngược lại thì chủ hình khắc, phân li. Những điều ấy đều có thể dùng để tham khảo, và dùng để luận quan hệ giữa bản thân với lớp người sau cũng khá chính xác.
Theo bí truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, cung Tử Nữ hễ gặp "sao lẻ" phụ, tá thường có con cái khác mẹ. Thời xưa phần nhiều ứng vào chuyện thê thiếp sinh con trai, hoặc nuôi con thừa tự; thời nay quan hệ nhân sự phức tạp, còn bao gồm cả con riêng của người phụ nữ có nhiều lần hôn nhân.
Xem chuyện sinh đôi con trai: nếu cung Tử Nữ đồng thời bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, hoặc Địa Không, Địa Kiếp giáp cung, hoặc Kình Dương, Đà La giáp cung, thì không đúng.
Lộc Tồn ở cung Tử Nữ chẳng biểu trưng cho con cái giàu có (phải hội Hóa Lộc mới đúng). Nếu chính diệu không thật cát thì chủ thứ thất sinh con trai; thời nay thường ứng vào chuyện người vợ sau cùng sinh con trai, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ càng đúng.
Cung Tử Nữ có Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng bay đến, hoặc gặp Thiên Mã, Lộc Tồn, thì con cái ở xa.
Tử Vi ở cung Tử Nữ
Luận cung con cái bắt đầu từ ông vua của các sao; mà vua thì hoặc có bá quan chầu về, hoặc thành kẻ cô quân nơi đồng nội, con cái cũng theo đó mà khác nhau.
Tử Vi ở Tí, Ngọ
Tử Vi ở Tí hoặc Ngọ thì con cái tính mạnh mẽ, yêu ghét tùy ý. Vì có Tham Lang vây chiếu nên phần nhiều sinh con gái đầu lòng; thời xưa định số con là ba trai hai gái. Nếu thành cách "tại dã cô quân" thì con cái tính cô độc, không hợp tính với đương số; nếu là "bách quan triều củng" thì con cái có địa vị rất cao, số con cũng tăng. Tính và tình của Tử Vi nói chung có thể xem thêm ở bài tính và tình của sao Tử Vi.
Tử Vi ở Tí, Ngọ đồng độ với Lộc Tồn thì con cái tính ích kỉ; nếu lại có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì người vợ sau cùng sinh con trai.
Chỉ cần Tử Vi ở Tí, Ngọ không phải "tại dã cô quân" thì người dưới quyền đắc lực, còn có tài lãnh đạo. Nếu là "tại dã cô quân" thì người dưới quyền dễ vì chủ quan mà phạm sai lầm; gặp thêm sát, kị, hình thì phải đề phòng khó kiềm chế người dưới quyền.
Tử Vi ở Tí, Ngọ hội Văn Xương, Văn Khúc thì con cái thông minh, phát đạt. Gặp sao đào hoa thì nhiều con gái, ít con trai; nếu đồng thời gặp sát, hình, thì con trai bị khắc, con gái giữ được, rốt cuộc thành nhiều gái ít trai. Gặp sát tinh mà không gặp sao đào hoa thì sinh hai con trai.
Tử Vi ở Tí, Ngọ kèm sát, kị thì bị người dưới quyền kiềm chế. Đến cung hạn Tử Nữ có Tham Lang tọa thủ là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm, hoặc đến cung hạn Tử Nữ hội Vũ Khúc Hóa Kị thì ứng.
"Tử Vi, Phá Quân" ở Sửu, Mùi
"Tử Vi, Phá Quân" ở Sửu hoặc Mùi thì sinh con gái trước. Nếu có sát, hình hội hợp, sinh con trai đầu lòng phải đề phòng phá tướng, nặng thì hình khắc, hoặc sinh non, sinh khó.
"Tử Vi, Phá Quân" thủ cung Tử Nữ chủ có ba con. Gặp "sao đôi" phụ, tá thì số con tăng, nhưng vẫn là số lẻ; gặp thêm sát tinh thì số con tăng lên thành số lẻ.
"Tử Vi, Phá Quân" ở Sửu, Mùi gặp Văn Xương, Văn Khúc và sao đào hoa thì nhiều con gái, ít con trai, cũng chủ vợ hai hoặc thiếp sinh con trai.
"Tử Vi, Phá Quân" được Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật cùng giáp cung cũng chủ sinh đôi con trai, nhưng phải không có sát tinh đồng độ mới đúng. Chỉ có Văn Xương, Văn Khúc giáp cung thì con cái thông minh; chỉ có Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung thì con cái đắc lực, giàu trí sáng tạo.
"Tử Vi, Phá Quân" gặp sát tinh thường chủ người dưới quyền phản bội. Đến các cung hạn Tử Nữ là Cự Môn, Thái Dương, "Vũ Khúc, Thất Sát" mà gặp sát, kị thì ứng nghiệm. Hoặc lúc cung mệnh đến đại vận, lưu niên bị "Hình kị giáp ấn", cung hạn Tử Nữ là Thái Âm Hóa Kị, thì bị con cái hay người dưới quyền gây lụy.
"Tử Vi, Thiên Phủ" ở Dần, Thân
"Tử Vi, Thiên Phủ" ở Dần hoặc Thân chủ có năm con; có "sao đôi" phụ, tá hội hợp thì số con tăng, mà còn tăng nhiều.
"Tử Vi, Thiên Phủ" ở Dần, Thân gặp "sao lẻ" phụ, tá ắt có con cái khác dòng; nên xét kĩ cung Phu Thê để biết con khác dòng ấy mang ý nghĩa thế nào.
"Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ với Lộc Tồn, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì vợ hai sinh con trai; cũng chủ không có người nối gót. "Tử Vi, Thiên Phủ" hội Vũ Khúc Hóa Lộc hay Liêm Trinh Hóa Lộc, hoặc Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", thì con cái giàu có, nhưng quan hệ với con trai độc nhất dễ lạt lẽo, với con gái thì tốt.
"Tử Vi, Thiên Phủ" ở Dần, Thân hội Liêm Trinh Hóa Kị thì bị con cái làm đau lòng mà rơi lệ, cũng chủ người tâm phúc dưới quyền phản bội. Hội Vũ Khúc Hóa Kị thì con cái bị "hình thương" hoặc thất bại, cũng chủ bị người dưới quyền kiềm chế và gây lụy. Cần xét kĩ tổ hợp sao thực tế mà định. Đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm là lúc các cung hạn Tử Nữ Liêm Trinh, Vũ Khúc, Cự Môn, Thái Dương gặp sát, kị, hình. "Tử Vi, Thiên Phủ" thủ cung Tử Nữ mà Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống" thì con cái hoặc người dưới quyền thường dòm ngó tiền bạc của đương số.
"Tử Vi, Tham Lang" ở Mão, Dậu
"Tử Vi, Tham Lang" đồng độ ở Mão hoặc Dậu, gặp "sao đôi" phụ, tá, chủ có bảy con; là "cô quân" thì có bốn con. Ở Mão phần nhiều sinh con gái đầu lòng, ở Dậu sinh con trai đầu lòng.
"Tử Vi, Tham Lang" bị "sao lẻ" Văn Xương hay Văn Khúc giáp cung, hoặc "sao lẻ" Tả Phụ hay Hữu Bật giáp cung, thì hôn nhân của con cái có sự cố, phần nhiều là người bạn đời của chúng bất hòa với đương số.
"Tử Vi, Tham Lang" ưa gặp Vũ Khúc Hóa Lộc hay Liêm Trinh Hóa Lộc, không ưa Hóa Kị; cách luận tương tự như "Tử Vi, Thiên Phủ" thủ cung Tử Nữ. Đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì phải đề phòng con cái hoặc người dưới quyền kiêu căng, chẳng chủ con cái phát đạt. Nếu Tham Lang Hóa Kị thì càng nặng.
"Tử Vi, Thiên Tướng" ở Thìn, Tuất
"Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ ở Thìn hoặc Tuất chủ có bốn con; gặp "sao đôi" phụ, tá thì tăng số con; gặp sát tinh thì số con tăng lên thành số chẵn. Rất kị bị "Hình kị giáp ấn": con cái nhu nhược, người dưới quyền không đắc lực.
"Tử Vi, Thiên Tướng" có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung thì con cái nên phát triển ở phương xa; hội Lộc Tồn, Hóa Lộc thì có thể trợ giúp cho sự nghiệp của đương số.
"Tử Vi, Thiên Tướng" có sao đào hoa, Văn Xương, Văn Khúc cùng bay đến thì con cái thông minh; gặp thêm sát, kị thì quyến luyến trăng gió tửu sắc. Có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ thì vợ hai sinh con trai.
"Tử Vi, Thiên Tướng" thủ cung Tử Nữ thông thường chủ có người dưới quyền phò trợ cho sự nghiệp của mình; nếu gặp sát, kị, hình trùng trùng thì lại bị gây lụy. Đại vận hoặc lưu niên then chốt là lúc đến hai cung hạn Tử Nữ "Vũ Khúc, Thiên Phủ" và Liêm Trinh.
"Tử Vi, Thất Sát" ở Tị, Hợi
"Tử Vi, Thất Sát" đồng độ ở Tị hoặc Hợi chủ có ba con. Gặp "sao đôi" phụ, tá thì số con tăng, nhưng không quá sáu người; nếu đồng thời gặp sát, kị, hình thì con cái bị hình khắc.
"Tử Vi, Thất Sát" ở đây thì con cái cực kì cứng đầu. Cần gặp sao lộc để điều hòa, bằng không giữa hai thế hệ có sự ngăn cách; với người dưới quyền cũng ứng như vậy.
"Tử Vi, Thất Sát" ở Tị, Hợi gặp "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì con cái xa cách; gặp sao kị thì con cái vì tham lam mà thất bại; luận về người dưới quyền thì đương số bị xâm phạm hay bị lợi dụng.
"Tử Vi, Thất Sát" ở Tị, Hợi rất ưa đối cung là Thiên Phủ đồng độ Lộc Tồn, đó là điểm con cái lập nên sự nghiệp; nhưng cũng chủ bị người dưới quyền gây lụy khiến đương số tổn thất.
"Tử Vi, Thất Sát" ở Tị, Hợi đồng cung với Lộc Tồn, Thiên Mã, hoặc được Lộc Tồn, Thiên Mã vây chiếu, thì con cái có thể sáng lập sự nghiệp ở phương xa, còn đương số thì có con ở nhiều nơi.
Mấy điều chung của Tử Vi ở cung Tử Nữ
Hễ Tử Vi ở cung Tử Nữ đều chủ muộn có con trai, người nối gót hay học trò kế thừa cũng muộn mới có. Nhưng muộn có lại tốt hơn. Cần gặp Tả Phụ, Hữu Bật mới có trợ lực. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã, Thiên Khôi, Thiên Việt thì chỉ có lợi cho con cái hay người dưới quyền.
Tử Vi ở cung Tử Nữ có tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp cùng chiếu thì nhận con nuôi trước, sau mới có con trai. Nếu gặp thêm sao đào hoa thì vợ hai hoặc người bên ngoài sinh con trai. Nếu cung Phu Thê không tốt, đó là điềm sinh li tử biệt, người vợ kế sinh con trai.
Thiên Cơ ở cung Tử Nữ
Tử Vi muộn con nhưng con có địa vị; Thiên Cơ thì ngược lại, ít con trai, người dưới quyền cũng hay đổi thay như chính cái tính linh động của sao này.
Thiên Cơ ở cung Tử Nữ thông thường đều chủ ít con trai, nhưng vợ hai hay người bên ngoài thì sinh nhiều con trai. Về quan hệ xã hội, đương số ít có người thân tín dưới quyền, ít người kế thừa, hoặc người dưới quyền thường hay thay đổi và chậm có.
Thiên Cơ có "sao đôi" phụ, tá hội hợp thì số con tăng, nhưng vẫn nhiều con gái, ít con trai. Nhất là có sao đào hoa đồng độ thì nhiều con gái; nếu cung Thân có Thái Âm cùng bay đến thì càng đúng. Luận về người dưới quyền cũng tương tự. Thiên Cơ hội tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp thì không có con trai. Gặp sao đào hoa thì chỉ sinh con gái. Nếu chỉ hội hai, ba sát tinh, đồng thời gặp phụ, tá, cát, thì vợ hai hay người bên ngoài có thể sinh con trai.
Thiên Cơ ở Tí, Ngọ
Thiên Cơ ở hai cung Tí hoặc Ngọ đối nhau với Cự Môn, chủ chỉ có một con trai; còn chủ người trực tiếp dưới quyền hay thay đổi; nếu có học trò thì quan hệ cũng không mật thiết.
Thiên Cơ ở Tí, Ngọ có Hỏa Tinh, Linh Tinh hội hợp thì sinh khó hoặc sinh non; cũng chủ con cái lớn lên không bao lâu thì vì hoàn cảnh khách quan phải đi xa hay xuất ngoại, nên cha con thường xa cách. Trường hợp được cát hóa, lại có sao cát nâng đỡ, mà không có Hỏa, Linh cùng bay đến, thì nên nuôi dạy con thành nhân tài chuyên nghiệp như chuyên viên kế hoạch, quản lí hay tài vụ; không nên kinh doanh buôn bán.
Thiên Cơ ở Tí, Ngọ mà Cự Môn Hóa Kị hoặc Thiên Cơ Hóa Kị thì nên để ý tính cách con cái: cần cải thiện cái lí tưởng quá cao và khuyết điểm thiếu thực tế của chúng, bằng không dễ phạm sai lầm.
Các cung hạn Tử Nữ "Vũ Khúc, Thất Sát", "Liêm Trinh, Tham Lang" là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Thiên Cơ ở Sửu, Mùi
Thiên Cơ độc tọa ở Sửu hoặc Mùi đối nhau với Thiên Lương, chủ có một hai con, nhưng sinh khó hay sinh non. Nếu có tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp hội hợp thì không có con trai, có cũng sinh non; người dưới quyền rất ít, lại hay thay đổi. Được cát hóa thì số con tăng, địa vị con cái cũng cao hơn.
Thiên Cơ ở Sửu, Mùi thì con cái có tính hay soi mói, bới móc; nên chú ý dạy dỗ để tính ấy chuyển thành cẩn thận, chu đáo, tỉ mỉ, hợp với các việc như giám sát, quản lí, lập kế hoạch.
Các cung hạn Tử Nữ "Liêm Trinh, Thiên Tướng", Vũ Khúc, Thiên Lương là lưu niên hay đại vận then chốt.
"Thiên Cơ, Thái Âm" ở Dần, Thân
"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng độ ở Dần hoặc Thân: ở Dần có ba con, hai trai một gái; ở Thân thì nhiều con gái, chỉ một con trai. Có sao đào hoa hội hợp thì nhiều con gái, nhưng cũng chủ vợ hai hay thiếp sinh con trai.
"Thiên Cơ, Thái Âm" ở Dần, Thân gặp sát tinh, lại gặp sao đào hoa, Tả Phụ, Hữu Bật, thì con trai của cô làm người thừa tự; tức là đương số không có con trai, nhận con của chị em gái làm con nuôi. Thời nay hiếm có tình hình này.
"Thiên Cơ, Thái Âm" ở Dần, Thân hội Thiên Đồng Hóa Kị, lại gặp sát tinh trùng trùng, thì sinh khó hay sinh non, hoặc con cái ít mà nhiều nạn tai, bệnh tật. Gặp "sao đôi" phụ, tá hoặc cát hóa thì số con tăng, cũng cải thiện được phẩm cách và thiên phú của con. Thông thường con cái hiếu động, trôi nổi bất định; Hóa Kị thì hướng nội, tinh thần căng thẳng; cát thì thông minh, nhanh nhạy.
Các cung hạn Tử Nữ Thiên Đồng, Thiên Lương, Cự Môn là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Thiên Cơ, Cự Môn" ở Mão, Dậu
"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ ở Mão hoặc Dậu chỉ có một con trai; gặp sao đào hoa thì nhiều con gái.
Ở đây dù được cát hóa, quan hệ giữa hai thế hệ vẫn bất hòa; gặp sát, kị thì càng nặng. Luận về người dưới quyền cũng có ngăn cách; sát tinh nặng lại gặp Âm Sát, Thiên Hư thì bị thuộc hạ thân tín bán đứng.
"Thiên Cơ, Cự Môn" ở Mão, Dậu phần nhiều chủ lúc đầu tốt, về sau xấu, nên khi luận cung Tử Nữ phải chú ý tính chất này. Rất ghét đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, vì sự bất hòa càng nặng.
Nếu Thiên Cơ Hóa Kị thì phần nhiều chia li, ngăn cách; nếu Cự Môn Hóa Kị thì có điều tiếng tranh chấp. Cần gặp sao lộc mới sửa được tính chất, nhưng cũng chỉ là bề ngoài hai thế hệ dung hòa, còn trong thâm tâm vẫn khắc kị.
Các cung hạn Tử Nữ Thiên Lương ở Tị, Thiên Đồng ở Hợi là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Thiên Cơ, Thiên Lương" ở Thìn, Tuất
"Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ ở Thìn hoặc Tuất, hơi gặp sát tinh thì sinh khó, sinh non. Nếu sát, kị, hình, hao trùng trùng thì con cái lúc bé nhiều nạn tai, bệnh tật, dễ gặp bất trắc, một phen hú vía, lớn lên thì rời xa cha mẹ. Vì vậy quan hệ với người dưới quyền cũng không lâu dài.
Được cát hóa hoặc hội sao cát thì con cái thông minh nhưng có chủ kiến. Lúc con còn bé không nên hạn chế chúng quá nhiều, bằng không sẽ cản trở sự phát triển tâm trí. Luận về người dưới quyền thì được người có năng lực làm việc độc lập phò trợ.
"Thiên Cơ, Thiên Lương" ở Thìn, Tuất đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì xa cách con cái; đồng cung với Kình Dương, Đà La thì nên nuôi dạy con theo hứng thú về khoa học kĩ thuật.
"Thiên Cơ, Thiên Lương" ở Thìn, Tuất mượn "Thái Dương, Cự Môn" để hội hợp; tổ hợp ấy chủ tài ăn nói, vì vậy cũng nên cho con phát triển về phương diện này.
Các cung hạn Tử Nữ "Thái Dương, Cự Môn", "Thiên Đồng, Thái Âm" là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Thiên Cơ ở Tị, Hợi
Thiên Cơ độc tọa ở Tị hoặc Hợi đối nhau với Thái Âm, ở Tị là tốt. Thiên Cơ ở Hợi thì Thái Âm ở Tị lạc hãm; người sinh ban ngày và người sinh vào nửa cuối tháng thì bất lợi về con gái đầu lòng.
Thiên Cơ ở Tị chủ có hai con gái, một con trai; ở Hợi thì muộn có con trai. Có sao đào hoa đồng cung thì số con gái tăng; có sao phụ, tá, cát đồng cung thì số con tăng.
Thiên Cơ ở Tị, Hợi có tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì vợ cả không có con trai, mà vợ hai hay thiếp sinh con trai.
Có sao đào hoa đồng cung, sát tinh nặng, lại gặp "sao lẻ" Tả Phụ, Hữu Bật, thì không có con trai, phải nhận con của chị em gái làm con nuôi.
Thiên Cơ ở Tị, Hợi không có sao cát mà có Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Diêu đồng cung thì người dưới quyền hay thuộc hạ thân tín có thủ đoạn, âm mưu. Nếu gặp "sao đôi" Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật thì có con gái nhờ cậy được.
Các cung hạn Tử Nữ "Thiên Đồng, Cự Môn", "Thái Dương, Thiên Lương" là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Thái Dương ở cung Tử Nữ
Thiên Cơ để lại những đứa con thông minh mà khó giữ bên mình; Thái Dương thì sáng tối rạch ròi, sinh ngày hay sinh đêm đã đủ đổi hẳn cát hung.
Thái Dương ở Tí, Ngọ
Thái Dương ở Tí hoặc Ngọ đối nhau với Thiên Lương, ở Ngọ là tốt. Thái Dương ở Tí, người sinh ban đêm sinh con gái đầu lòng thì tốt hơn; nếu sinh con trai thì con không nên người mà còn hư hỏng. Ở Ngọ, người sinh ban ngày thì tốt hơn, chủ có ba trai hai gái, sinh con trai đầu lòng thì tốt hơn. Thái Dương Hóa Kị thì dễ mất con đầu lòng.
Thái Dương ở Tí, Ngọ có sát tinh và Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì con cái bị hình khắc, chia li, chỉ còn một con trai để đưa tang. Ưa có sao phụ, tá hội hợp: số con có thể tăng, lại có con có địa vị xã hội; ở Ngọ tốt hơn. Thái Dương ở Tí Hóa Kị thì cha con có sự ngăn cách; Thái Dương ở Ngọ Hóa Lộc thì phải đề phòng con trai tính thiếu thực tế. Quan hệ với người thân tín lớp sau cũng đoán tương tự.
Các cung hạn Tử Nữ Thiên Đồng, "Thiên Cơ, Thái Âm" là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
"Thái Âm, Thái Dương" ở Sửu, Mùi
"Thái Âm, Thái Dương" đồng độ ở Sửu hoặc Mùi: ở Mùi chủ nhiều con; không có sát tinh thì có thể trên tám người con; có sao phụ, tá, cát đồng cung thì còn nhiều hơn. Ở Sửu không có sát tinh thì có bốn con; gặp phụ, tá, cát thì tăng số con. Có sao đào hoa đồng cung thì nhiều con gái, ít con trai; người sinh ban đêm càng đúng.
"Thái Âm, Thái Dương" ở Sửu, Mùi có một sao Hóa Kị thì con cái tính độc đoán, thô bạo, đời người cũng gặp nhiều trắc trở. Quan hệ với người thân tín lớp sau cũng tương đồng.
Có Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài đồng cung thì con cái thông minh. Gặp Thiên Khôi, Thiên Việt thì con cái được quý nhân đề bạt, nâng đỡ. Thái Dương Hóa Lộc, Hóa Quyền hay Hóa Khoa thì con cái quý hiển.
"Thái Âm, Thái Dương" ở Sửu, Mùi mà Cự Môn Hóa Kị được mượn sang an cung để hội hợp thì con cái hay lo nghĩ, bi quan. Đến cung hạn Tử Nữ mượn "Thiên Cơ, Cự Môn" nhập cung thì phần nhiều xảy ra sự cố. Phải xem tổ hợp sao thực tế mà định.
Các cung hạn Tử Nữ "Thiên Cơ, Cự Môn", Thiên Đồng, Thiên Lương là lưu niên hay đại vận then chốt.
"Thái Dương, Cự Môn" ở Dần, Thân
"Thái Dương, Cự Môn" đồng độ ở Dần hoặc Thân chủ có ba con trở lên, con cái có tài ăn nói và ngoại ngữ. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì thông minh, nhanh nhạy, cơ trí; gặp Thiên Khôi, Thiên Việt thì có năng lực thuyết phục người khác; gặp Tả Phụ, Hữu Bật thì có tài lãnh đạo. Nếu Thái Dương hoặc Cự Môn Hóa Lộc, Hóa Quyền hay Hóa Khoa thì con cái phú quý.
"Thái Dương, Cự Môn" ở Dần, Thân có Thiên Hình đồng cung, gặp cát tinh và cát hóa, thì con cái là nhân tài ngành pháp luật; nếu sao lộc trùng điệp thì nên làm việc cho người nước ngoài (hay người ở phương xa); gặp Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã thì nên ra nước ngoài mưu sinh. Nếu Cự Môn Hóa Kị mà Thái Dương được cát hóa, thì con cái "dùng tài ăn nói để kiếm tiền", chẳng chủ hung. Nếu có sát, kị, hình tụ tập thì con cái bị hình khắc, nhưng không vì thế mà tính chất của chúng thành xấu. Dùng những tính chất trên để luận người thân tín lớp sau thì có thể giỏi dùng người.
"Thái Dương, Thiên Lương" ở Mão, Dậu
"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ ở Mão hoặc Dậu, có Kình Dương đồng độ thì con cái có lần phải phẫu thuật. Nếu Thái Dương Hóa Kị, con đầu lòng lúc bé bị nạn tai, một phen hú vía. Nếu thành cách "Dương Lương Xương Lộc" thì con cái là nhân tài học thuật, nghiên cứu chuyên nghiệp. Có Thiên Nguyệt đồng cung thì có thể theo ngành y dược; có Thiên Hình đồng cung thì nên làm việc trong ngành pháp luật. Có Lộc, Quyền, Khoa hội hợp thì nên làm trong chính giới, công việc giám sát là chính. Gặp sát tinh thì là nhân tài khoa học kĩ thuật, hạch toán, quản đốc, người vạch kế sách cho công ti. Những tính chất này cũng dùng để luận người thân tín lớp sau.
"Thái Dương, Thiên Lương" là nhóm sao "cô độc và hình khắc", nên thường chủ xa cách con cái; Thái Dương ở Dậu thì càng nặng. "Thái Dương, Thiên Lương" chỉ cần gặp sao lộc và có Văn Khúc đồng cung cũng là cát; thời nay là nhân tài nghiên cứu khoa học.
Các cung hạn Tử Nữ "Thiên Đồng, Cự Môn", Phá Quân là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Thái Dương ở Thìn, Tuất
Thái Dương và Thái Âm đối nhau ở Thìn hoặc Tuất chủ có bốn con; có sao phụ, tá và đào hoa thì tăng số con. Thái Dương ở Thìn thì con cái thông minh, nhanh nhạy, có phách lực; ở Tuất thì bình thường.
Thái Dương độc tọa ở Thìn, Tuất thì phải xem Cự Môn thế nào mới định được tính chất của con cái hay người dưới quyền. Cự Môn Hóa Kị thì con có thể theo ngành pháp luật; Thái Dương Hóa Kị thì cũng dùng tài ăn nói để kiếm tiền, hoặc làm việc ở nước ngoài. Cự Môn Hóa Lộc hay Hóa Quyền thì con cái làm nên sự nghiệp.
Các cung hạn Tử Nữ "Thiên Đồng, Thiên Lương", Thiên Cơ, Cự Môn là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Thái Dương ở Tị, Hợi
Thái Dương độc tọa ở Tị có Cự Môn vây chiếu thì con cái cũng thông minh, nhanh nhạy và có nghị lực.
Thái Dương độc tọa ở Tị hoặc Hợi gặp cát hóa, có sao cát hội hợp, thì con cái lập nên sự nghiệp hoặc là nhân tài chuyên nghiệp. Tính chất gần với "Thái Dương, Cự Môn", nhưng Thái Dương độc tọa ở Tị, Hợi thì thiên nặng về thương nghiệp.
Thái Dương ở Tị, Hợi chủ có ba trai hai gái; có Tả Phụ, Hữu Bật và sao đào hoa đồng cung thì số con nhiều hơn. Ở Tị thì con cái dễ xa xỉ, phung phí; ở Hợi thì con cái không có gì nổi bật, vì vậy đời người đều gặp trắc trở. Thái Dương Hóa Kị mà đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì xa cách con cái. Hễ Thái Dương Hóa Kị, lạc hãm ở cung Tử Nữ, lại gặp sát tinh hội hợp, thì người sinh ban đêm sinh con gái đầu lòng tốt hơn, con trai đầu khó nuôi; người sinh ban ngày thì tình huống xấu nhẹ hơn. Thái Dương ở cung Tử Nữ gặp tình hình như vậy thì người thân tín lớp sau được đề bạt rồi dễ quay ra oán hận.
Các cung hạn Tử Nữ Thiên Đồng, Thiên Cơ, Cự Môn là đại vận hoặc lưu niên then chốt.
Mấy điều chung của Thái Dương ở cung Tử Nữ
Thái Dương hội hợp với Thái Âm Hóa Kị thì phải xem Hỏa Tinh, Linh Tinh; nếu Hỏa, Linh đồng độ với Thái Dương thì con cái rời xa cha mẹ. Lúc này cần xem cung Phu Thê có điềm vợ chồng chia li hay không.
Thái Dương ở cung Tử Nữ nhập miếu, có sao cát, với người sinh ban ngày thì càng cát lợi; Thái Dương lạc hãm, có sao hung, với người sinh ban đêm thì càng hung. Nếu người sinh ban ngày, Thái Dương nhập miếu, thì dù Hóa Kị cũng chưa chắc là hung, chỉ chủ cha con có sự ngăn cách. Nếu có sao phụ, tá tụ tập, Thái Dương Hóa Kị, lại có Cự Môn vây chiếu hoặc đồng độ, thì có lúc con cái là chuyên viên trong ngành pháp luật, ngoại giao, bán hàng, thuộc loại "dùng tài ăn nói để kiếm tiền".
Thái Dương ở cung Tử Nữ phải xem kèm ba sao Thái Âm, Thiên Lương, Cự Môn thì mới luận đoán chính xác.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
