Bài tổng quan
Cung Tật Ách Theo Ngũ Hành Đông Y: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương
Đẩu Số luận bệnh tật dựa trên nguyên lý ngũ hành âm dương của Đông y. Cung tật ách hội hợp cung phụ mẫu, huynh đệ và điền trạch, nên còn dùng để xem bệnh di truyền; luận bệnh phải xem cả cung mệnh. Ngũ tạng ứng với ngũ hành: Tâm thuộc Hỏa, Can thuộc Mộc, Tì thuộc Thổ, Phế thuộc Kim, Thận thuộc Thủy, cùng quy luật tương khắc và thuyết mẹ nuông chiều quá thì con hư. Mỗi chính tinh, phụ tinh, sát tinh đều có âm dương ngũ hành và bệnh chủ yếu riêng. Tử Vi thường chủ bệnh tì vị, gặp Địa Không, Địa Kiếp thì mắt mờ, đau dạ dày. Thiên Cơ chủ bệnh gan, túi mật. Thái Dương chủ bệnh tim mạch, huyết áp cao, còn Thái Dương, Thái Âm chủ tâm thận bất giao, mất ngủ.
Cung Tật Ách
Cung tật ách
"Tam phương tứ chính" của cung tật ách là cung phụ mẫu, cung huynh đệ và cung điền trạch. Tổ hợp tinh hệ này là do trong chế độ đại gia đình, bệnh tật rất dễ lây nhiễm, thêm vào đó, ở xã hội phong kiến cổ đại, thành viên của gia tộc mà phạm tội thường có thể liên lụy đến người thân, vì vậy tổ hợp tam phương tứ chính này có một ý nghĩa đặc thù.
Hoàn cảnh xã hội hiện đại tuy đã biến đổi, nhưng cung tật ách hội hợp với cung phụ mẫu dùng để xem bệnh di truyền, và hội hợp với cung điền trạch để xem trạng thái sức khỏe của các thành viên trong gia đình. Thậm chí quan sát tinh các cung hội hợp với cung huynh đệ để xem đời người có hung ách hay không, theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi vẫn hữu hiệu.
Cung tật ách chủ về bệnh tật và tai ách. Nhưng liên quan đến vấn đề có tai ách xảy ra hay không, cung tật ách thực ra chỉ có thể dùng để tham khảo. Bởi vì khi luận đoán tai ách thường thường phải phối hợp thêm tổ hợp tinh hệ của cung mệnh, hơn là dùng trực tiếp tinh hệ của cung tật ách, còn đối với việc luận đoán bệnh tật thì nên xem xét cả tinh hệ của cung mệnh lẫn tinh hệ của cung tật ách, hai cung đều quan trọng ngang nhau. Ví dụ như "Liêm Trinh, Thất Sát" thông thường chủ về bệnh đường hô hấp, nếu cung tật ách gặp nó, đương nhiên là có ý nghĩa này, nhưng nếu cung tật ách gặp sao ác, mà cung mệnh là "Liêm Trinh, Thất Sát", thì cũng chủ về bệnh đường hô hấp.
Có lúc thậm chí phải lấy tinh hệ của cung mệnh và tinh hệ của cung tật ách phối hợp lại để luận đoán một loại bệnh tật. Ví dụ như cung tật ách gặp "Liêm Trinh, Thất Sát", có sát tinh hội chiếu, cung mệnh gặp Hồng Loan và Thiên Hỉ, theo Vương Đình Chi, có thể phát hen suyễn, hoặc tạm thời không phát tác, đến khi cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Hồng Loan, Thiên Hỉ, lại có thêm lưu sát tinh xung hội thì mới phát bệnh.
Từ ví dụ kể trên có thể biết, dựa vào các sao để luận đoán tật bệnh là rất khó. Tiết này trình bày một số kinh nghiệm bí truyền và nghiên cứu của Vương Đình Chi về tính chất các tinh hệ trong vấn đề bệnh tật và tai ách, nhưng bạn đọc vẫn nên vận dụng một cách linh hoạt, không được câu nệ. Có lúc phải mang các sao của cung mệnh và cung tật ách cùng với các sao hội hợp ở tam phương tứ chính ra đồng thời tham chiếu, thậm chí còn phải mang "Lưu diệu" của đại hạn và lưu niên ra phối hợp để luận đoán, mới có thể chính xác.
Ví dụ trường hợp xem bệnh ung thư mũi họng, tinh hệ chủ yếu vẫn là "Liêm Trinh, Thất Sát", hành vận đến cung hạn Thiên Đồng và Cự Môn đối nhau, nếu đại hạn có các sao sát tinh, kị cùng chiếu, mà còn gặp Long Trì đồng độ hoặc xung chiếu cung mệnh, còn "Liêm Trinh, Thất Sát" lại hội hợp với Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Thiên Hình, thì trong đại hạn này sẽ phát bệnh.
Lấy trường hợp trên làm ví dụ, bạn đọc có thể thấy được phần nào phép tắc luận đoán tật bệnh.
Dùng Đấu Số luận đoán tật bệnh, hoàn toàn lấy nguyên lí ngũ hành âm dương của Đông y làm căn cứ, cho nên rất khó luận đoán kết hợp với tên gọi các bệnh theo y học hiện đại. Dưới đây xin trình bày một số nghiên cứu đối chiếu của Vương Đình Chi.
Ngũ Hành Âm Dương Các Sao Ở Cung Tật Ách
Nguyên lí ngũ hành âm dương và chứng bệnh của các sao ở cung tật ách
Liên quan đến tri thức về nguyên lí ngũ hành sinh khắc và ngũ tạng lục phủ, xin giới thiệu như sau:
"Tâm" (tim) thuộc hỏa, "tiểu trường" (ruột non) cũng thuộc hỏa; hỏa cũng là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh; ở ngũ quan là lưỡi.
"Can" (gan) thuộc mộc, "đảm" (mật) cũng thuộc mộc; mộc cũng là hệ nội tiết; ở ngũ quan là mắt.
"Tì" (tuyến tụy, lá lách) thuộc thổ, "vị" (dạ dày) cũng thuộc thổ; thổ cũng là hệ tiêu hóa; ở ngũ quan là miệng.
"Phế" (phổi) thuộc kim, "đại trường" (ruột già) cũng thuộc kim; kim cũng là hệ hô hấp; ở ngũ quan là mũi.
"Thận" thuộc thủy, bàng quang cũng thuộc thủy; thủy cũng là hệ thống bài tiết và cơ quan sinh dục; ở ngũ quan là tai.
Căn cứ ngũ hành sở thuộc này, đương nhiên có thể biết bệnh ở đâu, như gặp Vũ Khúc ở cung tật ách, có sát tinh, vì Vũ Khúc thuộc âm kim, chủ về âm kim bị tổn thương, cho nên bệnh ở phế hoặc đại trường; nhưng vì có kim khắc mộc, nếu Vũ Khúc hội hợp với các sao quá mạnh, như Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa và các sao cát, thì kim thịnh sẽ làm tổn thương mộc, có khả năng gan, mật, mắt sẽ mắc bệnh, do đó cũng có thể bị mắt vàng, viêm gan, v.v... Nếu cung mệnh gặp các sao sát, hình, kị thì có thể căn cứ vào đây mà suy ra để định.
Căn cứ nguyên lí ngũ hành tương khắc, có thể biết một số quy luật cơ bản để xem về tật bệnh:
Hỏa bị thủy khắc, thủy quá mạnh, chủ về các bệnh ở tim và ruột non, hệ tuần hoàn và hệ thần kinh, hoặc đầu lưỡi và khoang miệng.
Mộc bị kim khắc, kim quá mạnh, chủ về các bệnh ở gan mật, hệ nội tiết, hoặc mắt.
Thổ bị mộc khắc, mộc quá mạnh, chủ về các bệnh ở dạ dày, tuyến tụy, hệ tiêu hóa, hoặc khoang miệng.
Kim bị hỏa khắc, hỏa quá mạnh, chủ về các bệnh ở phổi và ruột già, hệ hô hấp, hoặc xoang mũi, khí quản.
Thủy bị thổ khắc, thổ quá mạnh, chủ về các bệnh ở thận và bàng quang, hệ bài tiết, hoặc khoang tai trong, tai ngoài.
Ngoài ra còn có thuyết "Mẹ nuông chiều quá thì con hư" (母慈滅子 mẫu từ diệt tử). Như hỏa quá thịnh, hỏa tuy sinh thổ, nhưng sinh thái quá thì trái lại sẽ làm thổ bệnh. Vì vậy, căn cứ vào thuyết này lại có thể định ra một số nguyên tắc như sau.
Hỏa được mộc sinh, sinh thái quá thì hỏa bệnh, như bệnh tim. Mộc được thủy sinh, sinh thái quá thì mộc bệnh, như bệnh gan. Thổ được hỏa sinh, sinh thái quá thì thổ bệnh, như bệnh dạ dày. Kim được thổ sinh, sinh thái quá thì kim bệnh, như bệnh phổi. Thủy được kim sinh, sinh thái quá thì thủy bệnh, như bệnh thận.
Do đó có thể thấy, dựa vào các sao để luận đoán tật bệnh là rất khó khăn, đòi hỏi phải có một số kinh nghiệm. Nhưng có một nguyên tắc chung là, gặp các sao ở cung tật ách trước tiên phải xét về âm dương ngũ hành của nó, như kim yếu, thì trước tiên phải nghi là kim bị bệnh; nếu kim mạnh thì phải nghi hành nó khắc là mộc bị bệnh; nếu sao kim quá mạnh thì phải nghi thủy bị bệnh.
Dưới đây xin liệt kê một số chứng bệnh chủ yếu của các sao theo nguyên lí âm dương ngũ hành để bạn đọc tham khảo.
Tử Vi là âm thổ, chủ về bệnh tì vị (dạ dày, tuyến tụy), bệnh cơ quan tiêu hóa. Thiên Cơ là âm mộc, chủ về bệnh gan mật (can, đảm), bệnh hệ nội tiết.
Thái Dương là dương hỏa, chủ về bệnh tim (tâm), mắt, tuần hoàn và hệ thần kinh.
Vũ Khúc là âm kim, chủ về bệnh phổi, khí quản, hệ hô hấp.
Thiên Đồng là dương thủy, chủ về bệnh bàng quang, hệ bài tiết.
Liêm Trinh là âm hỏa, chủ về bệnh tâm hỏa, phụ khoa, hệ tuần hoàn.
Thiên Phủ là dương thổ, chủ về bệnh dạ dày, khoang miệng.
Thái Âm là âm thủy, chủ về bệnh âm hư, thận, hệ cơ quan sinh dục.
Tham Lang là dương mộc, chủ về bệnh gan mật, hệ nội tiết.
Cự Môn là âm thổ, chủ về bệnh tuyến tụy (tì).
Thiên Tướng là dương thủy, chủ về bệnh ở mật, hoặc bệnh hệ bài tiết.
Thiên Lương là dương thổ, chủ về bệnh dạ dày, tuyến vú.
Thất Sát là âm kim, chủ về bệnh hệ hô hấp.
Phá Quân là âm thủy, chủ về bệnh âm hư và hệ cơ quan sinh dục.
Tả Phụ là dương thổ, chủ về bệnh thống phong (gout).
Hữu Bật là âm thủy, chủ về bệnh thận yếu.
Văn Xương là dương kim, chủ về bệnh đại trường và tam tiêu.
Văn Khúc là âm thủy, chủ về bệnh ban đỏ, đường sinh dục.
Thiên Khôi là dương hỏa, chủ về bệnh ở kinh dương minh.
Thiên Việt là âm hỏa, chủ về bệnh viêm.
Lộc Tồn là âm thổ, chủ về bệnh tì vị.
Thiên Mã là dương hỏa, chủ về bệnh dịch, huyết không nuôi được gân (cân), thấp hỏa lưu ở gân (cân).
Kình Dương là dương kim, chủ về bệnh đại trường, bị côn trùng cắn, ngoại thương.
Đà La là âm kim, chủ về bệnh phổi, ngoại thương.
Hỏa Tinh là dương hỏa, chủ về bệnh thấp hỏa, vết thương làm độc, u nhọt.
Linh Tinh là âm hỏa, chủ về bệnh hư hỏa bốc lên.
Địa Không là âm hỏa, chủ về bệnh huyết hư, huyết áp thấp.
Địa Kiếp là dương hỏa, chủ về bệnh đau dạ dày.
Hóa Lộc là âm thổ, chủ về bệnh tì vị.
Hóa Quyền là dương mộc, chủ về bệnh gan mật, hệ nội tiết.
Hóa Khoa là dương thủy, chủ về bệnh thận hư.
Hóa Kị là dương thủy, chủ về bệnh hệ cơ quan sinh dục, cũng chủ về chứng sưng tuyến tụy, chứng "khí phận bất hành".
Thiên Thương là dương thủy, chủ về bệnh di tinh, bệnh lao.
Thiên Sứ là âm thủy, chủ về bệnh rối loạn nhịp tim, bệnh phụ khoa.
Thiên Hình là dương hỏa, chủ về bệnh tim, còn chủ về bệnh dịch, ngoại thương.
Thiên Diêu là âm thủy, chủ về bệnh âm hư, bệnh bàng quang, bệnh hệ cơ quan sinh dục.
Thiên Khốc là dương kim, chủ về bệnh bệnh lao, ho dai dẳng.
Thiên Hư là âm thổ, chủ về bệnh hư tổn, phụ nữ âm hư.
Hồng Loan là âm thủy, chủ về bệnh thận hàn, thận hư, bệnh kín của phụ nữ.
Thiên Hỉ là dương thủy, chủ về bệnh thận, bệnh tử cung.
Tam Thai là dương thổ, chủ về bệnh rối loạn tiêu hóa, mụn trứng cá.
Bát Tọa là âm thổ, chủ về vì dinh dưỡng quá dư dẫn đến các bệnh béo phì, mỡ máu cao.
Long Trì là dương thủy, chủ về bệnh ở tai, tai điếc, tai ù.
Phượng Các là dương thổ, chủ về bệnh tàn nhang, bệnh béo phì.
Thiên Tài là âm mộc, chủ về bệnh nội tiết.
Thiên Thọ là dương thổ, chủ về bệnh cơ quan tiêu hóa.
Thiên Quan là dương thổ, bệnh ngoài da, bệnh thấp khí, rối loạn tiêu hóa.
Thiên Phúc là dương thổ, chủ về bệnh tì vị.
Ân Quang là dương hỏa, chủ về bệnh kinh dương minh, hư hỏa.
Thiên Quý là dương thổ, chủ về bệnh tì vị, rối loạn tiêu hóa.
Đài Phụ là dương thổ, chủ về bệnh tì vị.
Phong Cáo là âm thổ, chủ về bệnh về đường ăn uống.
Cô Thần là dương hỏa, chủ về bệnh nhiệt, huyết áp cao.
Quả Tú là âm hỏa, chủ về chứng phong.
Dùng Đấu Số để luận đoán bệnh tật, tai ách, không thể chỉ dùng cung tật ách của nguyên cục, mà phải tiến hành xem xét cung tật ách của từng đại hạn mới có thể suy ra để luận đoán các bệnh tật chủ yếu trong cuộc đời của mệnh tạo. Có lúc còn phải xem xét cung tật ách của lưu niên, mới có thể đoán được sự phát triển của bệnh tình. Đây là kĩ thuật quan trọng dùng để luận đoán tật bệnh, bạn đọc cần chú ý.
Cung Tật Ách Có Tử Vi
Cung tật ách có Tử Vi
Tử Vi thủ cung tật ách, thông thường đều chủ về bệnh tì vị, thường bị tình trạng tiêu chảy, ói mửa, đau bụng, khí trướng. Bệnh tì vị có lúc là biểu hiện của tình trạng tì thổ không vận hóa dẫn đến hấp thu không tốt, hoặc vị khí nạp không tốt gây nên vị hàn.
Tử Vi gặp nhiều sao thuộc thổ như Thiên Phủ, Tả Phụ, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Phúc, Đài Phụ, Phong Cáo, thì chủ về bệnh thận, hoặc hệ cơ quan sinh dục, cũng chủ về bệnh lao do sắc dục quá độ.
Tử Vi có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về bệnh thấp hỏa, bệnh sởi (thấp chẩn), bệnh ngoài da, vị nhiệt, rối loạn tiêu hóa.
Tử Vi có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về mắt hoa, mắt mờ, mắt bị cườm nước (glaucoma), đau dạ dày, vị hàn, đau thần kinh dạ dày.
Tử Vi có Thiên Phủ đồng độ hoặc hội chiếu, cũng chủ về bệnh dạ dày.
Tử Vi, Phá Quân, chủ về bệnh kín của phụ nữ; hội Kình Dương, chủ về bị phẫu thuật hoặc phá tướng, cũng chủ về nói cà lăm, thần kinh căng thẳng; gặp các sao thuộc hỏa nặng, nên đề phòng bệnh hệ thần kinh; nếu lại thêm tứ sát tinh cùng chiếu, chủ về thần kinh quá mẫn cảm, tâm thần bất giao, huyết khí bất hòa. Nếu các sao sát, kị, hình trùng trùng, thì chủ về thần kinh phân liệt.
Tử Vi, Tham Lang, chủ về hiếu sắc; có Thiên Diêu, Hàm Trì hội chiếu, chủ về thủ dâm, di tinh, bệnh lao do sắc dục quá độ. Nếu gặp Kình Dương, nam mệnh chủ về bao quy đầu quá dài; nữ chủ về âm môi lớn và quá dài, hoặc bệnh kín của phụ nữ. Nếu gặp Hồng Loan, Thiên Hỉ, kinh nguyệt không điều hòa, huyết trắng, rong kinh, bệnh kín ở tử cung.
"Tử Vi, Thất Sát" chủ về táo bón hoặc tiêu chảy, khí hư, âm khuy, đau bụng; gặp sát tinh thì chủ về ngoại thương. Nếu gặp Liêm Trinh Hóa Kị, nên đề phòng bị thương tổn bất ngờ.
"Tử Vi, Thiên Tướng" chủ về da quá mẫn cảm, hoặc sỏi mật, sỏi thận, sỏi bàng quang; có thêm sát tinh thì chủ về viêm ruột thừa; có thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ về hấp thu dinh dưỡng không tốt.
Phàm Tử Vi nhập cung tật ách, gặp sát tinh hội chiếu, lại gặp thêm Thiên Hình, chủ về vì bệnh mà phải phẫu thuật.
Tử Vi gặp các sao đào hoa, còn gặp Liêm Trinh Hóa Kị, chủ về bệnh về tính dục. Nhất là Tử Vi và Phá Quân cùng ở hai cung Sửu hoặc Mùi, gặp Liêm Trinh và Tham Lang, khả năng mắc bệnh về tính dục càng lớn. Người có kết cấu tinh hệ này ở cung tật ách nên hạn chế sắc dục.
Cung Tật Ách Có Thiên Cơ
Cung tật ách có Thiên Cơ
Thiên Cơ thủ cung tật ách, thông thường chủ về bệnh gan, bệnh túi mật; hoặc lúc nhỏ bị nhiều nạn tai tật bệnh, dễ mắc bệnh kinh phong ("phong" thuộc mộc, nên Thiên Cơ còn chủ về kinh phong).
Gan mật mắc bệnh, biểu hiện là can khí vượng làm đau dạ dày; can vượng tì hư làm cho cơ năng hấp thu dinh dưỡng hoạt động kém; hoặc chủ về can dương thượng kháng, xuất hiện chứng đầu choáng mắt hoa; nữ mệnh thì chủ về kinh nguyệt khô ít, đây là vì âm phận hao tổn.
Nữ mệnh có Thiên Cơ thủ cung tật ách, lại có Thái Âm, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Thiên Diêu đồng độ, chủ về kinh nguyệt không điều hòa, đau bụng kinh, hoặc bệnh kín ở tử cung như tử cung bị lệch.
Thiên Cơ có Kình Dương, Thiên Hình, Đại Hao đồng độ, chủ về cần phải phẫu thuật.
Thiên Cơ nếu hội hợp với các sao thuộc thủy như Thái Âm, Thiên Đồng, Văn Khúc, Hữu Bật, Hóa Kị, Thiên Diêu, Hồng Loan, Thiên Hỉ thì gọi là "Mẹ nuông chiều quá thì con hư" (mẫu từ diệt tử), mộc được thủy sinh thái quá, trái lại sẽ chủ về mộc bị bệnh, có thể ảnh hưởng đến rối loạn hệ nội tiết, hoặc nhiệt độc, thấp hỏa, bệnh về gân cốt; về mặt bệnh lí đều do âm hư gây ra.
Thiên Cơ và Cự Môn đồng độ, là bệnh can mộc khắc tì thổ, biểu hiện là can khí uất tắc, hoặc trường vị đầy hơi; gặp sát tinh, Thiên Hư, Âm Sát tinh, thì chủ về bệnh âm thư (một loại bệnh nhọt rất khó trị). Nếu các sao sát, kị, hình, hao cùng chiếu hoặc đồng độ, thì có khả năng ung thư dạ dày.
Thiên Cơ và Thiên Lương đồng độ, cũng là mộc khắc tì thổ, chủ về vị thu nạp không điều hòa, rối loạn tiêu hóa; gặp Kình Dương, Đà La, thì thấp hỏa thương cân (thấp hỏa làm hại gân); lại gặp Thiên Hình, thì chủ về viêm ruột thừa. Nếu gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kị, Thiên Hình cùng chiếu, lại có Âm Sát tinh, Kiếp Sát tinh hội hợp hoặc đồng độ, có khả năng ung thư vú, ung thư dạ dày.
Thiên Cơ có sát tinh hội hợp, có Phi Liêm đồng độ, chủ về gan nhiễm ấu trùng, giun chui ống mật (Clonorchiasis).
Thiên Cơ hội hợp với các sao thuộc hỏa như Thiên Khôi, Thiên Việt, Địa Không, Địa Kiếp, Cô Thần, Quả Tú, chủ về viêm mắt.
Cung Tật Ách Có Thái Dương
Cung tật ách có Thái Dương
Thái Dương thủ cung tật ách, thông thường đều chủ về bệnh tim mạch, huyết áp cao, đường huyết cao, hoặc tắc nghẽn mạch máu (vascular thrombosis); vì vậy cũng bị các triệu chứng đau đầu, đầu choáng, mắt hoa. Thái Dương thủ cung tật ách ở Ngọ, hoặc lạc hãm gặp Kình Dương, Đà La, chủ về bệnh tật ở mắt, hoặc tròng mắt thường có gân đỏ; nếu lại gặp Hóa Kị, thì mắt bị thương tổn.
Thái Dương thủ mệnh hoặc cung tật ách, thông thường đều chủ về cận thị, loạn thị, lòa mắt, cũng chủ về dễ bị trúng phong.
Thái Dương cũng chủ về can dương thượng kháng, đại trường táo kết, đại tiện táo bón, thảy đều do bệnh ở kinh Dương Minh; cũng chủ về đại tiện ra máu, trĩ lậu (lòi dom).
Thái Dương thủ cung tật ách, hội hợp với các sao thuộc mộc, sẽ chủ về bệnh hệ nội tiết.
Thái Dương và Thái Âm đồng cung, chủ về tâm thận bất giao, âm dương bất hòa; vì vậy cũng chủ về dễ bị bệnh hệ thần kinh, nhẹ thì mất ngủ.
"Thái Dương, Thái Âm" đồng cung, có các sao sát tinh kị hội hợp, để phòng đau hông sườn, bệnh tim mạch; gặp thêm Thiên Hình, Thiên Thương, Địa Không, Địa Kiếp, thì dễ bị bệnh uốn ván.
Thái Dương và Cự Môn đồng cung, chủ về bệnh huyết áp; nhưng nếu Đà La đồng độ thì chủ về bán thân bất toại, cũng chủ về thiên đầu thống, đau đầu kinh niên.
Thái Dương và Thiên Lương đồng cung, là các sao hỏa thổ hội hợp, vì vậy chủ về bệnh hệ nội tiết và hệ tuần hoàn. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, là "mẹ hiền hại con", trái lại, Thiên Lương sẽ chủ về vì được sinh thái quá mà sinh bệnh, lại gặp các sao hình, kị, chủ về bệnh ung thư vú, ung thư dạ dày, bệnh hệ nội tiết thì thuộc loại cường giáp; cũng chủ về dễ mắc bệnh sởi (thấp chẩn), nổi mề đay do dị ứng.
Thái Dương độc tọa ở cung tật ách, gặp Thiên Hình, cũng chủ về sử dụng ma túy.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
