Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm ở cung Tài Bạch

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202627 phút đọc3 lượt đọc
Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm ở cung Tài Bạch

Có người phải mất sạch tổ nghiệp rồi mới tay trắng gây dựng nên cơ đồ, có người lời hứa đáng giá ngàn vàng mà chỉ một sao kị hội về là túng thiếu. Một ngân hàng giữ được bao nhiêu tài khoản cũng không hưởng được đồng nào, còn người lập kế hoạch cho đồng tiền thì lại...


THIÊN ĐỒNG Ở CUNG TÀI BẠCH LÀ SỐ TAY TRẮNG LÀM NÊN: CÓ TỔ NGHIỆP CŨNG MẤT SẠCH RỒI MỚI TỰ MÌNH GÂY DỰNG. Liêm Trinh thì kiếm tiền trong cạnh tranh và thị phi, Thiên Phủ giữ tiền giỏi mà chưa chắc kiếm giỏi, còn Thái Âm lại là người lập kế hoạch cho đồng tiền. Bốn sao, bốn cách cầm tiền rất khác nhau.

Thiên Đồng ở cung Tài Bạch

Thiên Đồng thủ cung Tài Bạch chủ tay trắng làm nên. Có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì có tổ nghiệp cũng sẽ mất hết, mới đến lượt đương số tự sáng lập sự nghiệp. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì sự nghiệp do chính mình tạo dựng cũng phá tán, thất bại, nhưng có thể làm lại từ đầu, kết cục thành giàu có.

Thiên Đồng không ưa độc tọa ở cung Tài Bạch; nếu độc tọa thì trung niên phải gian khổ kiếm tiền, đến vãn niên mới được thuận lợi toại ý; tay trắng làm nên sự nghiệp càng lớn thì càng nhiều gian khổ.

Thiên Đồng Hóa Lộc chủ vãn niên có thể thành "phú cục". Nhưng nếu đồng thời gặp sát tinh thì trước khi phát đạt tiền bạc phải phá tán không còn một xu, mới có thu hoạch bất ngờ. Nếu không có sát tinh thì mức độ phá tán nhẹ hơn.

Thiên Đồng Hóa Quyền thông thường tình hình khá ổn định; tuy cũng chủ tay trắng làm nên, nhưng mức "tay trắng" không đến nỗi không có xu nào.

Thiên Đồng đồng độ với Đà La thường thường sau năm mươi tuổi hoàn cảnh mới biến thành tốt; có thể giàu có hay không cần xem vận vãn niên ưu liệt thế nào mà định.

Thiên Đồng Hóa Kị chủ tài vận lên xuống thất thường; nếu gặp các sao sát, hình, hư, hao, thì nguồn tiền hơi thuận lợi đã phải dời đi, thường phải thổi bếp mới.

Thiên Đồng ưa gặp "Lộc Mã giao trì", đây là điềm tượng rời xa quê hương, tay trắng mà thành "phú cục". Nếu lại trùng điệp Hóa Lộc thì chủ phát tài vạn kim. Hễ Thiên Đồng ở cung Tài Bạch, nghề nghiệp nên có tính chất hưởng thụ, hoặc kinh doanh những sản phẩm có tính tiêu khiển, hưởng thụ. Nếu gặp các sao khoa văn thì là hưởng thụ theo lối thanh nhã; gặp các sao đào hoa thì hợp làm những nghề có khách hàng là người khác giới.

"Thiên Đồng, Thái Âm" ở Tí, Ngọ

"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở Tí hoặc Ngọ là tinh hệ có lợi nhất về nguồn tiền trong số các tinh hệ Thiên Đồng thủ cung Tài Bạch. Thiên Đồng Hóa Lộc chủ sau khi phá sạch tổ nghiệp thì đột nhiên hưng phát; Thái Âm Hóa Lộc thì cuộc đời ít nhất cũng phải một lần gặp bất trắc về nguồn tiền.

"Thiên Đồng, Thái Âm" ở Tí, nữ mệnh thường nhờ kết hôn với người ngoại quốc (hay người ở phương xa) mà thành giàu có; nam mệnh được tiền của nhờ vợ. Nhưng Thái Âm Hóa Lộc thì không đúng như vậy.

"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ với Lộc Tồn ở cung Sự Nghiệp, gặp Thiên Mã, cũng chủ phát tài ở phương xa.

"Thiên Đồng, Thái Âm" thủ cung Tài Bạch, nếu Thái Âm Hóa Quyền thì lúc tuổi trẻ phiêu lưu, ở nơi xa có địa vị rồi trở thành giàu có. Nhưng nếu Thiên Đồng Hóa Kị hoặc Thái Âm Hóa Kị thì tiền bạc đều khó tích tụ. Nếu lại gặp các sao sát, hình, hư, hao thì nguồn tiền trồi sụt thất thường.

"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ với Kình Dương thì vì tiền mà xảy ra bất hòa, tranh chấp, hoặc cạnh tranh nguồn tiền tài.

"Thiên Đồng, Cự Môn" ở Sửu, Mùi

"Thiên Đồng, Cự Môn" ở Sửu hoặc Mùi, tính chất cơ bản là vì tiền mà sinh điều tiếng thị phi. Vì vậy rất hợp "nói năng vất vả để kiếm tiền". Trường hợp Cự Môn Hóa Kị thì buộc phải "nói năng vất vả" để kiếm tiền. Nếu gặp Kình Dương, Đà La cũng chủ lao tâm.

"Thiên Đồng, Cự Môn" có Âm Sát, Thiên Hư, Đại Hao đồng độ thì chủ tính toán, cơ mưu. Gặp Thiên Hình thì hợp làm việc trong lĩnh vực pháp luật, hoặc những nghề liên quan đến bất hòa, tranh chấp, như ngành tư pháp, luật pháp.

"Thiên Đồng, Cự Môn" có Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị đồng cung, lại gặp các sao đào hoa và Thiên Hình, Đại Hao, thì vì sắc mà phá tán, thất bại, có nỗi đau khổ thầm kín không cho ai biết.

"Thiên Đồng, Cự Môn" ưa Tả Phụ và Hữu Bật giáp cung. Văn Xương và Văn Khúc giáp cung thì năng lực tích lũy tiền hơi mạnh. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung thì tiền bạc không tích lũy được. Nếu Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp Cự Môn Hóa Kị, lại gặp Thiên Hình, Đại Hao, thì vì phạm pháp, kiện tụng mà phá tài.

"Thiên Đồng, Cự Môn" được cát hóa, có sao cát, cũng hợp làm công việc quảng bá, hoặc công tác chuyên nghiệp để kiếm tiền.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" ở Dần, Thân

"Thiên Đồng, Thiên Lương" ở Dần hoặc Thân gặp cát tinh thì nguồn tiền dồi dào, nhưng đương số là người so đo tính toán tiền bạc.

Nếu Thiên Đồng Hóa Lộc thì có tiền bất ngờ, nhưng không phải hoạnh tài. Nhưng Thiên Lương Hóa Lộc thì nguồn tiền của đương số thường bị người ta chỉ trích.

Thiên Lương Hóa Lộc đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, lại gặp Thiên Diêu, Âm Sát, thì chủ tham ô.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng cung với Lộc Tồn, Thiên Mã, hoặc cung Phúc Đức có Lộc Tồn, Thiên Mã, thì có thể nhờ tiền ở phương xa mà thành giàu có, nhưng không chủ thương nghiệp mậu dịch. Gặp Thiên Vu thì ở phương xa đã có sẵn sự nghiệp, nhờ thừa kế hoặc tiếp nhận mà thành "phú cục".

"Thiên Đồng, Thiên Lương" có Thiên Tài đồng độ, hoặc Long Trì, Phượng Các đồng độ, chủ dựa vào nghề nghiệp hưởng lương để kiếm tiền. Trường hợp có Văn Xương, Văn Khúc và sao đào hoa đồng độ, gặp Thiên Mã mà không gặp sao lộc, thì "tài khí" do người khác giới mang lại.

Thiên Đồng ở Mão, Dậu

Thiên Đồng độc tọa ở Mão hoặc Dậu đối nhau với Thái Âm, chủ tay trắng làm nên. Thiên Đồng Hóa Lộc thì dựa vào vốn ít mà lại thành "phú cục". Nếu đối nhau với Thái Âm Hóa Lộc thì Cự Môn ở cung Sự Nghiệp cũng sẽ Hóa Kị, nên chủ vất vả nói năng để kiếm tiền. Thiên Đồng Hóa Kị, nếu có Kình Dương, Đà La giáp cung, thì vì tiền mà gây ra họa. Cung Phúc Đức gặp sao đào hoa thì vì sắc mà gây ra họa; không có sao đào hoa mà Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Kị thì gánh trách nhiệm thay cho người khác.

Thiên Đồng ở Thìn, Tuất

Thiên Đồng độc tọa ở Thìn hoặc Tuất đối nhau với Cự Môn, tính chất cơ bản là kiếm tiền một cách gian khổ, vất vả. Nếu có Thiên Khôi, Thiên Việt giáp cung thì cuộc đời gặp nhiều cơ duyên. Có sát tinh đồng độ ắt phải hao tổn tâm lực.

Nếu Thiên Đồng có Thiên Diêu, Âm Sát, Thiên Hư đồng độ, hoặc Linh Tinh đồng độ, đều chủ tính toán đủ cách để kiếm tiền.

Thiên Đồng Hóa Kị ở Thìn, Tuất có Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung thì bị người ta gây lụy mà phá tài; lại gặp thêm Thiên Hình, Đại Hao, Địa Không, Địa Kiếp thì chủ phạm pháp, kiện tụng.

Thiên Đồng ở Thìn, Tuất dù Hóa Lộc cũng chỉ hợp làm việc cho người khác; tự đứng ra kinh doanh thì "tài khí" khó tụ.

Thiên Đồng ở Tị, Hợi

Thiên Đồng độc tọa ở Tị hoặc Hợi đối nhau với Thiên Lương, không chủ vượng tài. Nhưng nếu cung mệnh là "Thiên Cơ, Cự Môn" được "Lộc trùng điệp" thì là "phú cục"; đây là do cung mệnh, không liên quan đến các sao của cung Tài Bạch. Trường hợp đối nhau với Thiên Lương Hóa Khoa thì danh lớn hơn lợi; nhưng nếu có Văn Khúc Hóa Kị đồng độ thì đây là ngụy quân tử, danh tuy cao nhưng thủ đoạn kiếm tiền bất chính.

Thiên Đồng Hóa Kị ở Tị, Hợi có Thiên Hình đồng độ thì vì tiền mà bị thưa kiện, dễ gây ra tổn thất.

Thiên Đồng Hóa Quyền ở Tị, Hợi thì cung mệnh ắt sẽ gặp Cự Môn Hóa Kị, nên cũng chủ lao tâm phí sức, kiếm tiền phần nhiều đều xảy ra thị phi.

Thiên Đồng ở Tị, Hợi thủ cung Tài Bạch là cung nhược; hơi gặp sát tinh thì lao tâm phí sức; không gặp sát tinh mà gặp cát tinh thì vãn niên mới có thể giàu có.

Liêm Trinh ở cung Tài Bạch

Thiên Đồng làm giàu bằng cách mất trắng rồi gây dựng lại; Liêm Trinh thì làm giàu giữa cạnh tranh và thị phi, mà chỉ một sao hóa cũng đủ đổi cả cục diện.

Liêm Trinh thủ cung Tài Bạch tính chất khá phức tạp, đặc biệt rất mẫn cảm đối với tứ hóa diệu, sẽ có biến hóa rất lớn.

Liêm Trinh chủ cạnh tranh thị phi để kiếm tiền, đây là tính chất cơ bản. Liêm Trinh Hóa Kị, gặp sát tinh, còn có Thiên Hình, Đại Hao, thì không những kiếm tiền gian nan mà còn dễ sinh kiện tụng. Gặp Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Kị thì dễ bị người ta xâm phạm tài vật, hoặc chịu trách nhiệm thay cho người khác.

Nhưng Liêm Trinh Hóa Lộc, hoặc có Lộc Tồn đồng độ, lại dễ thành "phú cách". "Tài khí" thường nhờ giao tế thù tạc mà có; "tiền nhỏ không xuất thì tiền lớn không nhập" chính là sự ứng nghiệm của cách cục này. Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc mà có sát tinh đồng độ, lại gặp cát tinh, thì đương số dùng tiền rất kĩ lưỡng.

Liêm Trinh Hóa Lộc gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật thì nguồn tiền dồi dào; có Hỏa Tinh, Kình Dương đồng độ thì phát đột ngột nhưng tiền khó tụ; có Linh Tinh, Đà La đồng cung thì kiếm tiền gian khổ, hoặc trống rỗng, ít thực chất. Gặp Địa Không, Địa Kiếp thì phá tán, thất bại, còn dễ bị tranh chấp, kiện tụng thị phi.

Liêm Trinh ở cung Tài Bạch có các sao cát hung lẫn lộn, phần nhiều chủ hào nhoáng bề ngoài; có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ cũng chủ màu mè, không có thực chất, cuộc đời theo đuổi tài phú rốt cuộc chỉ được vẻ vang bề ngoài. Nếu đồng thời Hóa Lộc mới chủ phú hào.

Liêm Trinh Hóa Kị chủ vì tiền mà mất nghĩa, cũng chủ bị người ta gây lụy. Liêm Trinh Hóa Kị mà có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì tình hình trên càng nặng, không những dễ bị thưa kiện mà còn vì vậy mà khuynh gia bại sản.

Liêm Trinh có sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao đồng độ thì bị trộm cướp.

Liêm Trinh đồng độ với Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Kị, gặp Đại Hao, Âm Sát, cũng chủ bị trộm, hoặc bị lừa.

"Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở Tí, Ngọ

"Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở Tí hoặc Ngọ làm mạnh thêm sắc thái giao tế thù tạc của Liêm Trinh, là thương nhân khéo nắm bắt thời cơ. Nếu thành cách "Tài ấm giáp ấn" thì thường nhờ đó mà được vận may; cho nên có cách cục này mà kinh doanh làm ăn thì dễ thành giàu có. Trường hợp gặp "Hình kị giáp ấn", hoặc Liêm Trinh Hóa Kị, thì vì thù tạc vô vị mà dẫn đến phá tài; có sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì chủ thị phi kiện tụng.

"Liêm Trinh, Thiên Tướng" thủ cung Tài Bạch rất ưa Liêm Trinh Hóa Lộc, nhờ giao tế thù tạc mà kiếm được tiền, có thể thành "phú cục". Trường hợp có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì khó tích lũy tiền; gặp thêm các sao sát, hình thì có thị phi, kiện tụng, hoặc tuy bề ngoài vẻ vang mà thực ra bên trong trống rỗng, "cọp mà ăn thức ăn của mèo".

"Liêm Trinh, Thiên Tướng" cũng có thể hoạnh phát hoạnh phá, nhưng tính chất khá hòa hoãn.

"Liêm Trinh, Thất Sát" ở Sửu, Mùi

"Liêm Trinh, Thất Sát" đồng độ ở Sửu hoặc Mùi; ở Mùi là cách "Hùng tú kiền nguyên", nếu có sao lộc thì có thể trở thành phú cách, nhưng vẫn phải trải qua gian khổ. Ở Sửu không thành cách "Hùng tú kiền nguyên", nhưng gặp sao lộc cũng có thể giàu có, chỉ là nguồn tiền không thông thuận bằng ở Mùi.

"Liêm Trinh, Thất Sát" ở cung Tài Bạch là tinh hệ ít có tính chất hào nhoáng bề ngoài. Cho nên ngoài Liêm Trinh Hóa Lộc, gặp Phá Quân Hóa Lộc hoặc Tham Lang Hóa Lộc cũng đều có thể trở thành giàu có, "đầy ắp" chứ không "trống rỗng". Có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ thì giàu lòng cảm thông; Hóa Kị thì không nên chịu trách nhiệm thay cho người khác.

"Liêm Trinh, Thất Sát" ở cung Tài Bạch giỏi tích lũy tiền mà không giỏi kiếm tiền; có các sao phụ, tá hội hợp thì năng lực kiếm tiền khá tốt.

Liêm Trinh ở Dần, Thân

Liêm Trinh độc tọa ở Dần hoặc Thân đối nhau với Tham Lang, năng lực kiếm tiền rất mạnh; có Hỏa Tinh đồng độ cũng chủ hoạnh phát hoạnh phá, và khá xem trọng tiền bạc.

Liêm Trinh ở Dần, Thân rất hợp làm việc trong lĩnh vực kinh tế tài chính. Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc thì có thể trở thành "phú cục"; Tham Lang Hóa Lộc thì nặng lòng tư lợi. Tham Lang Hóa Lộc đồng cung với Hỏa Tinh chủ phát đột ngột; chỉ cần biết dừng lại thì cũng không đến nỗi suy sụp nhanh chóng. Rất ưa "Lộc Mã giao trì", không những giỏi quản lí tiền bạc mà còn mua bán đắc lợi.

Liêm Trinh Hóa Kị ở Dần, Thân chủ sự nghiệp bị trắc trở, thường thường việc sắp thành lại hỏng; nếu đồng thời gặp thêm các sao sát, hình, hao thì còn chủ kiện tụng; có Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung thì càng đúng.

"Liêm Trinh, Phá Quân" ở Mão, Dậu

"Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ ở Mão hoặc Dậu thì nguồn tiền không ổn định. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thường thường phải kiêm nghề hay kiêm chức vụ.

"Liêm Trinh, Phá Quân" ở cung Tài Bạch mà Phá Quân Hóa Lộc thì không nên gặp Hỏa Tinh, chủ vì lòng tham mà sinh phá tán, thất bại; hoặc lí tưởng quá cao mà sinh trắc trở. Trường hợp đồng độ với Lộc Tồn thì ưa gặp Hỏa Tinh, hoặc gặp "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ với Hỏa Tinh ở cung mệnh, đây là cách cự phú. Nhưng sau khi phát đạt vẫn có nguy cơ phá tán, thất bại; năm ứng nghiệm thường là lúc cung mệnh hoặc cung Tài Bạch của lưu niên gặp các sao sát, kị, hình tụ tập. Trường hợp có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung chủ phá tán, thất bại. Nhưng nếu đồng thời gặp sao lộc và sao cát thì cát hung chỉ cách nhau một đường ranh, có thể thành hay bại trong tức khắc. Đại khái không nên quá sát phạt, mà nên chừa đường lui, biết dừng lại. Không nên đầu cơ hay đầu tư mạo hiểm, nếu không ắt sinh phá tán, thất bại. Dù gặp cát tinh, sau khi phá tán, thất bại cũng khó khôi phục nguyên khí.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở Thìn, Tuất

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" đồng độ ở Thìn hoặc Tuất giỏi tích lũy tiền, mà cũng giỏi kiếm tiền. Nhưng nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống" thì dù thay đổi hoàn cảnh cũng khó giữ được tiền bạc.

Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc ở cung Tài Bạch, hoặc cung mệnh có Lộc Tồn, mà cung Sự Nghiệp có Lộc Tồn hay Hóa Lộc ("Lộc trùng điệp" thì càng tốt), thì đó là phú cách. Nếu Thiên Phủ Hóa Khoa thì về phương diện tiền bạc rất có uy tín, lời hứa đáng giá ngàn vàng. Nếu lúc này hội Vũ Khúc Hóa Kị thì dễ bị túng thiếu. Vì vậy không nên đầu cơ, cũng không nên hứa hẹn một cách khinh suất, để tránh bị người ta gây lụy.

"Liêm Trinh, Tham Lang" ở Tị, Hợi

"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ ở Tị hoặc Hợi, trong hai sao có một sao Hóa Lộc, đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, đều chủ "thiên tài" (tiền có được ngoài thu nhập bình thường), nhưng được nhanh mất nhanh; nếu gặp thêm Thiên Hình, Đại Hao, Địa Không, Địa Kiếp thì vì vậy mà phá tán, thất bại. Trường hợp đồng cung với các sao đào hoa là tinh hệ chủ nghệ thuật, có khuynh hướng biểu diễn, như ca sĩ, diễn viên.

"Liêm Trinh, Tham Lang" ở Tị, Hợi chủ sắc thái, vì vậy hợp làm những công việc liên quan đến mĩ quan để kiếm tiền; cũng nên làm những nghề liên quan đến giải trí, vui chơi và hưởng thụ.

"Liêm Trinh, Tham Lang" ở Tị, Hợi có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ là hào nhoáng bề ngoài, cũng chủ lễ tiết phức tạp, cho nên có ý vị trang sức; đây cũng là tính chất kiếm tiền, như thiết kế mĩ thuật. Có điều công việc kiếm tiền cũng có hiện tượng thiếu thực tế, trống rỗng, không có thực chất. Trường hợp Liêm Trinh Hóa Kị thì chủ phá tán, thất bại, không nên cầu tài "trên trời rơi xuống"; Tham Lang Hóa Kị thì chủ mục tiêu kiếm tiền khó đạt tới, nhưng vì tình hình diễn tiến nên không có con đường kiếm tiền nào khác.

Thiên Phủ ở cung Tài Bạch

Liêm Trinh kiếm tiền giữa sóng gió giao tế; Thiên Phủ thì là cái kho, việc của nó là giữ, còn đầy hay vơi thì phải trông vào sao lộc.

Thiên Phủ thủ cung Tài Bạch không chủ giàu có, chỉ chủ năng lực giữ tiền và kiếm tiền. Cần phải gặp sao lộc mới có thể trở thành "phú cục"; Lộc Tồn hay Hóa Lộc đều được.

Thiên Phủ thủ cung Tài Bạch cũng ưa gặp các sao phụ, tá, chủ làm tăng năng lực giữ tiền, cũng tăng năng lực kiếm tiền.

Nếu không gặp sao lộc thì Thiên Phủ nên Hóa Khoa, chủ có uy tín, đặc biệt về phương diện quản lí tài chính và đầu tư, ắt sẽ có người bảo lãnh, nhờ đó có cơ hội phát triển.

Thiên Phủ vốn chủ bảo thủ, dùng tiền rất có kế hoạch; nếu có Lộc Tồn đồng độ lại chủ mọi việc đều xử lí cẩn thận, nhưng điều này chỉ có lợi cho việc phát triển sự nghiệp đã có, mà bất lợi về việc mở ra cục diện mới.

Thiên Phủ có Lộc Tồn đồng độ nên có các sao phụ, tá tụ hội mới chủ có trợ lực và cơ hội phát triển.

Thiên Phủ không có sao lộc, lại không Hóa Khoa, mà còn không có các sao phụ, tá, đây là "kho trống". Có tài tinh đồng độ hoặc tương hội (như Vũ Khúc) thì còn được; nếu không có thì chỉ nên làm việc hưởng lương; tự kinh doanh sẽ khó phát đạt, dễ đánh mất cơ hội tốt.

Thiên Phủ đồng độ với Lộc Tồn mà không gặp các sao phụ, tá thì kiếm tiền gian nan; hơi gặp sát tinh thì hao tài, phá tán.

Thiên Phủ là "kho trống", nếu lại có các sao sát, kị, không, kiếp hội hợp, thì chủ túng thiếu, chỉ hợp làm việc hưởng lương; tự kinh doanh ắt sẽ gây ra tranh đoạt.

Thiên Phủ là "kho trống" hay "kho lộ", có Âm Sát, Thiên Diêu đồng độ, thì tiền có tính chất tính toán, cơ mưu. Nếu có Văn Xương Hóa Kị hoặc Văn Khúc Hóa Kị đồng cung, đây là lừa đảo hoặc bị lừa. Cần xét kĩ cung mệnh và cung Phúc Đức mà định đương số lừa đảo hay bị lừa.

Thiên Phủ có sao lộc, gặp cát tinh, nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung thì thường kiếm được tiền cũng sẽ bị tổn thất, nhưng số tiền kiếm được lớn hơn số tiền bị tổn thất.

Thiên Phủ ở Sửu, Mùi

Thiên Phủ độc tọa ở Sửu hoặc Mùi đối nhau với "Liêm Trinh, Thất Sát", thành cục "Nhật Nguyệt giáp tài". Cổ nhân cho rằng Thái Dương và Thái Âm giáp tài tinh thì không có quyền thế cũng giàu có; thêm Kình Dương, Đà La xung chiếu thì nên làm tăng nhân, đạo sĩ. Cục này cần gặp Lộc, Quyền, Khoa và sao cát mới nhập cách. Cũng nên đồng độ với Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, cũng chủ nắm quyền tài chính.

Thiên Phủ độc tọa ở Sửu, Mùi, nếu có Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, lại hội hợp các sao đào hoa, thì tối kị có Thiên Diêu đồng độ hoặc vây chiếu, chủ phụ nữ giữ tiền. Tính chất tốt thì còn được; nếu tính chất không tốt thì sẽ xảy ra sự cố. Trường hợp hội Thiên Tướng gặp "Hình kị giáp ấn" thì bị áp lực về tiền bạc; hội Thiên Tướng gặp "Tài ấm giáp ấn" thì được hưởng phúc ấm, hoặc có cơ hội quản lí sự nghiệp có sẵn.

Thiên Phủ bị Liêm Trinh Hóa Kị đối xung thì nhiều trắc trở; Thiên Phủ có sát tinh đồng độ thì chủ phá tán, thất bại.

Thiên Phủ ở Mão, Dậu

Thiên Phủ độc tọa ở Mão hoặc Dậu đối nhau với "Vũ Khúc, Thất Sát"; Vũ Khúc là sao tiền tài, nên lực nắm quyền tài chính lớn hơn trường hợp Thiên Phủ độc tọa ở Sửu, Mùi. Vì vậy rất cần gặp các sao phụ, tá hội hợp, chủ được quản lí sự nghiệp có sẵn, hoặc thừa kế sự nghiệp kinh doanh của gia tộc.

Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao, mà Vũ Khúc Hóa Kị, thì sự nghiệp phá tán, thất bại, hoặc hạng mục đầu tư mới bị thất bại, gây ảnh hưởng đến sự nghiệp, khiến nền tảng bị lung lay.

Thiên Phủ rất ưa gặp Vũ Khúc Hóa Lộc, hoặc Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", thì sự nghiệp kinh doanh có phát triển, nên lập thêm kế hoạch mới.

Nếu Vũ Khúc Hóa Khoa thì năng lực kiếm tiền rất tốt, đây gọi là "tiền đẻ ra tiền", dễ được người ta tín nhiệm, rất nên tích lũy tiền của.

Thiên Phủ ở Tị, Hợi

Thiên Phủ độc tọa ở Tị hoặc Hợi đối nhau với "Tử Vi, Thất Sát", rất ưa Tử Vi Hóa Quyền, Thiên Phủ đồng thời Hóa Khoa, chủ nắm quyền tài chính. Ở thời hiện đại, thích hợp kinh doanh tiền tệ, tài chính. Rất nên gặp "Lộc Mã giao trì"; nếu đồng thời gặp các sao phụ, tá, cát, có thể nắm quyền về tài vụ ở các công ti có tính quốc tế.

Nếu Thiên Phủ thành "kho trống" ở Tị, Hợi thì nguồn tiền trồi sụt thất thường với biên độ rất lớn; dù làm việc rất cẩn thận vẫn dễ xảy ra sơ sót, sai lầm.

Thiên Phủ ở Tị, Hợi rất kị là "kho lộ", chủ hơi có phát triển liền bị người ta dòm ngó. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp lại chủ đột nhiên xảy ra phá tán, thất bại.

Thiên Phủ độc tọa ở Tị, Hợi rất là thương tiền, không thấy tiền thì không có cảm giác an toàn. Cho nên nếu gặp sát tinh sẽ ảnh hưởng đến cơ hội phát triển. Cũng rất kị hội Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", chủ bị áp lực về tài chính.

Thái Âm ở cung Tài Bạch

Thiên Phủ chỉ giữ tiền; Thái Âm thì vừa giữ vừa biết tận hưởng cái thành quả của việc giữ ấy, như vầng trăng lặng lẽ thu ánh sáng về mình.

Thái Âm là sao tiền tài, nhưng Thái Âm chủ "tĩnh", chủ "tàng chứa"; cho nên về tiền bạc là biểu trưng cho sự tích lũy, tích tụ, suy nghĩ cẩn thận và hưởng thụ. Khác với Thiên Phủ, vì Thiên Phủ chỉ có ý nghĩa giữ tiền, không biểu trưng cho hưởng thụ và suy nghĩ cẩn thận. Thiên Phủ giống như một ngân hàng: ngân hàng giữ được nhiều tài khoản, nhưng bản thân nhân viên ngân hàng chẳng thể hưởng thụ về mặt tinh thần đối với những tài khoản ấy. Thái Âm thì giống như một nhà quản lí kinh doanh tiền tệ, nhờ kế hoạch của bản thân mà thu được thành quả, đương nhiên phải có cảm giác thỏa mãn.

Thái Âm cũng khác với Vũ Khúc. Vẫn lấy kinh tế tài chính làm ví dụ: Thái Âm giống như nhà quản lí đưa ra quyết sách, lập kế hoạch đầu tư, còn Vũ Khúc giống như nhân viên thực hiện kế hoạch. Lúc đưa ra quyết sách đương nhiên cần trầm tĩnh, lạnh lùng; lúc thực hiện kế hoạch đương nhiên cần quả quyết. Cho nên Vũ Khúc chủ quyết đoán, còn Thái Âm chủ kế hoạch.

Thái Âm chủ kế hoạch, tức cũng giỏi vận dụng tiền bạc, về mặt tinh thần còn được hưởng thụ thành quả của việc vận dụng tiền bạc. Những sở đắc tuy chẳng thuộc về mình toàn bộ, nhưng vẫn có thể nhờ đó mà thành giàu có.

Thái Âm Hóa Lộc, hoặc đồng độ với Lộc Tồn, đều chủ dư giả; Hóa Quyền thì làm tăng phạm vi quản lí kế hoạch tài chính, và tính chất hưởng thụ tài phú; Hóa Khoa thì chỉ làm tăng sự nổi tiếng về tài quản lí tài chính.

Thái Âm nhập miếu, người sinh ban đêm, chủ phú quý (thực ra địa vị xã hội cũng do tài phú mà có); người sinh ban ngày thì tốt kế đó. Thái Âm lạc hãm thì kiếm tiền một cách gian nan; người sinh ban đêm đỡ hơn, người sinh ban ngày thì càng vất vả.

Thái Âm cũng ưa hội hợp các sao phụ, tá, cũng là chủ tinh của người sinh ban đêm.

Thái Dương chủ quý, có địa vị xã hội trước rồi mới có tiền tài; Thái Âm chủ phú, có tiền tài trước, hoặc có thành tựu trong giới làm ăn kinh doanh rồi mới có địa vị xã hội.

Thái Âm Hóa Kị, trong tình huống thông thường đều chủ bị dẫn dụ mà đầu tư thất bại. Đây là nói bị thuyết phục, bị quyến rũ, hay được người ta chỉ dẫn không chính xác, cũng có thể bị xu thế biến động của xã hội lôi kéo. Nếu lại gặp Văn Khúc Hóa Kị xung hội thì tình hình dụ dỗ này còn có tính chất lừa dối.

Nếu có sát tinh thì không những bị thất bại mà còn gây ra bất hòa, tranh chấp; gặp Địa Không, Địa Kiếp thì đây là tai họa trộm cướp. Thái Âm Hóa Lộc xung hội Văn Khúc Hóa Kị thì bị rơi mất, đánh mất.

Thái Âm ở Mão, Dậu

Thái Âm độc tọa ở Mão hoặc Dậu đối nhau với Thiên Đồng; ở Dậu là nhập miếu nên ưu hơn ở Mão là lạc hãm, nhưng cả hai trường hợp đều chủ tay trắng làm nên. Về đại thể có thể tham khảo "Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở Tí, Ngọ.

Thái Âm độc tọa ở Mão, Dậu, lúc kiếm tiền thường quá lí tưởng, vì vậy cũng có lúc cảm thấy mất mát.

Thái Âm độc tọa ở Mão, Dậu có Thái Dương và Thiên Lương hội chiếu, cho nên lúc hội hợp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các, hoặc gặp Hóa Khoa, đều chủ nguồn tiền có ý vị học thuật, thông thường là biểu trưng cho việc nghiên cứu kinh tế tài chính. Trường hợp hội Thái Dương Hóa Khoa càng chủ nghiên cứu học thuật, hoặc làm đại lí các sản phẩm danh tiếng, hoặc làm việc cho những công ti hay tập đoàn nổi tiếng.

Thái Âm ở Thìn, Tuất

Thái Âm độc tọa ở Thìn hoặc Tuất đối nhau với Thái Dương; trong tình huống thông thường, ở Tuất ưu hơn ở Thìn. Có điều ở Thìn là "Nhật Nguyệt phản bối", nếu có "Lộc Quyền Khoa hội", gặp cát tinh, cũng chủ thành cách đại phú.

Thái Âm độc tọa ở Thìn, Tuất rất ưa Thái Âm Hóa Lộc, chủ phú rồi mới quý; Thái Dương Hóa Lộc thì quý trước phú sau. Vì vậy thông thường lúc đầu nên làm việc hưởng lương ở các công ti, sau đó mới tự sáng lập sự nghiệp. Hội Thiên Đồng Hóa Lộc cũng chủ tay trắng làm nên; hội Thiên Cơ Hóa Lộc thì chỉ chủ tiền qua tay với số lượng lớn.

Nếu Thiên Đồng Hóa Kị thì phải lao tâm lao lực để kiếm tiền; Thiên Cơ Hóa Kị thì bôn ba vất vả; Thái Dương Hóa Kị thì kiếm được tiền đồng thời cũng có thị phi.

Thái Dương Hóa Lộc hay Hóa Khoa đều chủ được thừa kế sản nghiệp.

Thái Âm ở Tị, Hợi

Thái Âm độc tọa ở Tị hoặc Hợi đối nhau với Thiên Cơ; ở Hợi ưu hơn ở Tị. Thái Âm ở Hợi thường dễ gặp cơ hội mà trở thành cự phú; ở Tị thì rất gian khổ, bôn ba tứ xứ.

Thái Âm ở Hợi thủ cung Tài Bạch còn chủ có danh dự, địa vị trước rồi mới có tài phú sau. Vì vậy đây không phải là mạng kinh doanh làm ăn mà trở nên giàu có; dù Thái Âm có sao lộc cũng vậy. Nếu gặp các sao khoa văn thì rất hợp nghiên cứu học thuật. Thái Âm ở Tị tuy có tính chất tương đồng, nhưng danh dự và địa vị giảm bớt, tiền kiếm được cũng ít hơn, hoặc gian khổ hơn.

Do ảnh hưởng của Thiên Cơ nên chủ biến động thay đổi. Lúc tính chất không cát thì tiền bạc không tụ, hoặc làm việc hưởng lương có tính lưu động trường kì. Nếu tính chất cát lợi thì có liên quan đến một lượng lớn tiền bạc lưu thông, ví dụ làm công tác xã hội dính dáng đến một lượng lớn tiền cứu tế; làm nghiệp vụ ngân hàng dính dáng đến một lượng lớn tiền gởi; làm công việc nghiên cứu học thuật dính dáng đến một khoản tiền đầu tư lớn.

Thái Âm độc tọa ở Tị, Hợi không nên có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, nếu không sẽ thường uổng phí tâm lực, hoặc gặp trắc trở, việc sắp thành lại hỏng.

Thái Âm thủ cung Tài Bạch ở mười hai cung độ, chỉ có cung Tị và cung Hợi là chủ quý mà không chủ phú; điểm này cần phải lưu ý.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái