Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cung Mệnh với Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh và Thiên Phủ

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202630 phút đọc2 lượt đọc
Cung Mệnh với Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh và Thiên Phủ

Thái Âm là cái đầu lập kế hoạch kiếm tiền, Vũ Khúc là đôi tay ra tay làm; chỉ một chỗ phân biệt ấy đã chia văn với võ. Bốn sao bàn tiếp trong cung mệnh đều có chỗ tinh tế tương tự, mà kho tiền Nam Đẩu là chỗ khó nhất.


CÙNG LÀ SAO TIỀN TÀI, NHƯNG THÁI ÂM LÀ CÁI ĐẦU LẬP KẾ HOẠCH KIẾM TIỀN, CÒN VŨ KHÚC LÀ ĐÔI TAY RA HÀNH ĐỘNG. Chỉ một chỗ phân biệt tỉ mỉ ấy đã đủ để cổ nhân xếp Thái Âm thuộc văn còn Vũ Khúc thuộc võ. Bốn sao bàn tiếp trong cung mệnh đều có chỗ tinh tế tương tự: Thiên Đồng ở đâu cũng có khuyết điểm, Liêm Trinh vừa là tình cảm vừa là máu, còn Thiên Phủ thì phải nhìn sang Thiên Tướng mới biết cao thấp.

Vũ Khúc ở cung mệnh

Vũ Khúc là sao tiền tài; phân biệt tỉ mỉ thì nó là hành động kiếm tiền, khác với Thái Âm là kế hoạch kiếm tiền, cho nên cổ nhân xếp Thái Âm thuộc văn, còn Vũ Khúc thuộc võ. Cổ quyết nói: người sinh năm Thìn mà cung mệnh là Vũ Khúc ở cung Thìn, người sinh năm Tuất mà cung mệnh là Vũ Khúc ở cung Tuất, người sinh năm Sửu mà cung mệnh là "Vũ Khúc, Tham Lang" ở cung Sửu, người sinh năm Mùi mà cung mệnh là "Vũ Khúc, Tham Lang" ở cung Mùi, đều chủ về lập được chiến công, lấy công trạng để khởi nghiệp.

Vũ Khúc là sao cô quả, vì vậy không thích hợp với nữ mệnh; dù có cuộc sống hôn nhân cũng chủ về vợ đoạt quyền chồng, ở thời hiện đại thường là điểm tượng thao túng sự nghiệp của chồng, mà còn chủ về kết hôn muộn.

Vũ Khúc đồng độ với các sao khác

"Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở hai cung Tí hoặc Ngọ thì ở cung Ngọ tốt hơn. Tuy cổ quyết nói "Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng cung chủ về sống thọ, nhưng tinh hệ này thủ mệnh ở cung Tí lại ngại cung phụ mẫu là Thái Dương lạc hãm, e rằng còn nhỏ đã mồ côi, hoặc khó được cha mẹ che chở. Khí của "Vũ Khúc, Thiên Phủ" rất hòa hoãn nên cổ nhân cho là rất thích hợp với nữ mệnh; ở thời hiện đại, bất kể nam hay nữ mệnh, tinh hệ này mà có sao lộc lại gặp Thiên Khôi, Thiên Việt thì phần nhiều chủ về đắc ý trong giới kinh doanh; không có Thiên Khôi, Thiên Việt mà gặp Tả Phụ, Hữu Bật cũng cát; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì chỉ chủ về thông minh, không chủ về đắc ý. Hai cung hạn Thiên Đồng và "Thái Âm, Thái Dương" là đại vận then chốt của đời người: gặp cát tinh và cát hóa thì tiền vận tốt, trung niên và vãn niên phúc trạch cũng dày; gặp các sao sát, kị, hình thì tuổi trẻ không cát tường, trung niên và vãn niên cũng bị ảnh hưởng. Các cung hạn Tham Lang, "Tử Vi, Thiên Tướng", Thất Sát, Phá Quân là các lưu niên then chốt.

"Vũ Khúc, Tham Lang" thủ mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng độ là rất tốt, ở cung tài bạch và cung điền trạch cũng gặp cát. Cổ quyết nói:

"Vũ Khúc, Tham Lang ở tài trạch vị, hoạnh phát tiền của."

Không có cát tinh mà có sát tinh thì chủ về hoạnh phát hoạnh phá. Tinh hệ này đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh mà gặp sao lộc thì chủ về phú; gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật thì chủ về quý, hoặc phú nhờ quý mà có. Nếu Hóa Kị, mà Vũ Khúc Hóa Kị thì nặng hơn, lại gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì luận là gặp sát tinh, nhưng còn chủ về thông minh, có nghề đặc biệt để mưu sinh, ở thời hiện đại cũng có thể theo ngành công nghệ, khoa học kĩ thuật. Các cung hạn "Thái Dương, Cự Môn", "Thiên Đồng, Thái Âm" là đại vận then chốt của đời người, vận trình lúc còn trẻ tốt hay xấu có thể ảnh hưởng suốt cuộc đời; các cung hạn Thiên Phủ, "Liêm Trinh, Phá Quân", "Thiên Cơ, Thiên Lương" là các lưu niên then chốt. "Vũ Khúc, Tham Lang" ở cung thân không bằng ở cung mệnh; nếu gặp các sao sát, kị, hình thì chủ về cuộc đời nhiều hung hiểm, đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng chủ về hoạnh phát liền hoạnh phá.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, phần nhiều chủ về là người làm việc hưởng lương, chỉ nên làm chức phó, không nên một mình cáng đáng công việc. Có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp thì chủ về thông minh, tay nghề khéo; cổ quyết nói "Vũ Khúc, Thiên Tướng gặp Văn Xương, Văn Khúc, thông minh, tay nghề khéo mưu sinh", ở thời hiện đại cũng là điểm tượng đặc biệt về khoa học kĩ thuật. Nếu có Văn Khúc đồng độ lại gặp các sao đào hoa, nhất là Thiên Diêu, thì chủ về là người trôi nổi, không yên một nghề, cần lấy nỗ lực hậu thiên để khắc chế, mới có thể dựa vào nghị lực mà sáng lập sự nghiệp. Tinh hệ này thủ mệnh ở cung Tí, nếu cung thân có các sao sát, kị hội hợp, thì gặp năm Tí có nguy cơ về sông nước, lấy năm có lưu sát tinh xung hội lưu kị làm ứng nghiệm. Nếu cung tài bạch là "Liêm Trinh, Thiên Phủ" mà Liêm Trinh Hóa Kị, nên làm công việc có tính hung sự để kiếm tiền: thời hiện đại như ẩm thực, y dược, ngoại khoa, hóa nghiệm, tang lễ; thời cổ đại là đồ tể, chăn nuôi. "Vũ Khúc, Thiên Tướng" rất ưa cung thiên di là Phá Quân Hóa Lộc, thì tuy ở chức phó nhưng cũng có thanh danh, mà cuộc đời phần nhiều gánh vác trọng trách khó khăn. Nếu có Văn Khúc đồng độ, đối cung có Thiên Mã mà không có Hóa Lộc, Lộc Tồn, các sao cát và sát tinh lẫn lộn, cổ nhân cho là mạng linh đinh. Các cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", "Thiên Cơ, Thái Âm" là đại vận then chốt; các cung hạn Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Tử Vi là lưu niên then chốt.

"Vũ Khúc, Thất Sát" thủ mệnh ở cung Mão, gặp các sao sát, kị sẽ chủ về nạn tai bất trắc. Cổ quyết nói:

"Các sao ác, sát, hao, tù hội hợp ở cung Chấn, chủ về cây đè, sét đánh."
"Vũ Khúc, Kiếp Sát hội Kình Dương, vì tiền mà cầm dao."
"Vũ Khúc, Kình Dương, Đà La kiêm Hỏa Tinh, mất mạng vì tiền."

Đều là nói về "Vũ Khúc, Thất Sát" ở hai cung Mão hoặc Dậu; ở cung Dậu là điểm tượng vì tranh giành tiền bạc mà động võ. Tóm lại, "Vũ Khúc, Thất Sát" đồng cung là tổ hợp sao có nguy cơ: ở bản cung không có các sao sát, kị thì không sao; nếu ở ngoài bản cung mà gặp các sao sát, kị thì thích hợp với võ nghiệp, có thể lập công trạng. Các cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương", "Thái Dương, Thái Âm" là đại vận then chốt; các cung hạn "Liêm Trinh, Tham Lang", "Tử Vi, Phá Quân" và bản cung "Vũ Khúc, Thất Sát" là lưu niên then chốt.

Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp cát tinh cũng chủ về nắm quyền tài chính; gặp sát tinh là tiểu thương, tuyệt đối không nên theo võ nghiệp. Vũ Khúc ở hai cung này ắt đối nhau với Tham Lang, tính chất tương tự "Vũ Khúc, Tham Lang" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, các đại vận hoặc lưu niên then chốt cũng tương tự. Nếu cung thiên di là Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì không chủ về rời xa quê hương mà chỉ chủ về phát đột ngột; phải là cung mệnh có Hỏa Tinh, Linh Tinh mới chủ về rời xa quê hương để lập nghiệp.

"Vũ Khúc, Phá Quân" ở hai cung Tị hoặc Hợi, đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ về phá tổ nghiệp mà tự lập; được cát hóa và có sao cát thì cuộc đời phần nhiều gánh vác trọng trách, hoặc thường gánh vác công việc quá mức. Tinh hệ này ở cung mệnh hay cung thân phần nhiều ưa hợp tác với người khác, vì vậy nên xem xét kĩ cát hung của cung huynh đệ. Ở cung Hợi thì phần nhiều chủ về thị phi, không ổn định; nếu cung phụ mẫu là Thái Dương lạc hãm ở cung Tị, cuộc đời thiếu sự che chở của cha mẹ, hoặc cấp trên không lấy lòng thành đối xử với mệnh tạo. Nhưng người sinh năm Nhâm, tuy Vũ Khúc Hóa Kị mà Thái Dương được Thiên Lương Hóa Lộc vây chiếu, mới chủ về được người ta đề bạt, trọng dụng; cho nên "Vũ Khúc, Phá Quân" Hóa Kị mà thành cách cục "phản bối" thì lại chủ về cát tường. Các cung hạn Thái Dương, "Thiên Cơ, Thái Âm", Thiên Đồng là đại vận then chốt; các cung hạn Thái Dương, Thiên Lương, "Tử Vi, Tham Lang", "Thiên Cơ, Thái Âm" là lưu niên then chốt.

Thiên Đồng ở cung mệnh

Sang phúc tinh, câu cổ nhân để lại nghe như một lời khen trọn vẹn, nhưng đọc kĩ mới thấy nó là lời nhắc về chỗ khuyết.

Thiên Đồng ở mười hai cung đều có khuyết điểm; cổ nhân nói "Thiên Đồng vào mười hai cung đều là phúc trạch", đó là nói rốt cuộc nó có thể khắc phục được khuyết điểm. Như ở cung mệnh thì chủ về tay trắng làm nên, tức là cần lưu ý cung phụ mẫu, xem cung phụ mẫu của mệnh tạo có phá tán, thất bại hay không, hay vận trình lúc còn trẻ có phá tán, thất bại hay không.

Thiên Đồng chủ về tâm trạng, cho nên lúc có các sao phụ, tá tụ hội chưa chắc đã cát lợi, bởi vì có thể xảy ra tính ỷ lại, khiến đời người dễ vì thành tựu nhỏ mà đã an vui, không chịu tiến thủ. Thiên Đồng thuần túy là sao tinh thần, ưa được kích phát mới có tinh thần phấn chấn; vì vậy gặp sát tinh và Hóa Kị, có lúc lại chủ về trải qua gian nguy rồi sau mới được thu hoạch lợi ích. Nhưng nếu gặp các sao sát, hình trùng trùng thì chủ về tinh thần rối rắm khó xử; gặp thêm các tạp diệu Thiên Hình, Thiên Hư, Đại Hao, Âm Sát mà bản thân Thiên Đồng lại hóa làm sao kị, thì nên đề phòng bệnh tinh thần, hay tâm lí mất quân bình mà gây ra bệnh hoạn; gặp thêm cát tinh cũng chủ về tinh thần bị áp lực. Do Thiên Đồng ưa được kích phát, trừ phi nguyên cục có các sao sát, kị, hình, hao trùng trùng, nếu không thì thông thường nó ưa đến cung hạn Thất Sát tọa thủ: cung hạn này hơi gặp cát tinh mà tam phương tứ chính còn có sao lộc, tức là vận trình chủ về phát mạnh, bất kể đại hạn hay lưu niên đều như vậy.

Thiên Đồng qua các cung độ

"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ thì ở cung Tí tốt hơn, vì ở cung Ngọ Thái Âm lạc hãm, gây ảnh hưởng khiến Thiên Đồng có tâm trạng không ổn định; nếu lại gặp sát tinh sẽ chủ về bệnh mang tính thần kinh, âm dương không điều hòa, nội tiết mất quân bình, âm hư; không gặp sát tinh cũng chủ về thần kinh quá mẫn cảm. Ở cung Ngọ mà gặp cát tinh lại có Kình Dương đồng độ thì gọi là "Mã đầu đới kiếm": người sinh năm Bính, Thiên Đồng Hóa Lộc, tốt hơn người sinh năm Mậu là Thái Âm Hóa Quyền mà cũng gặp Thiên Cơ Hóa Kị; người sinh năm Mậu phải trải qua gian nguy để lập nghiệp, lại thường vì nghi kị mà sinh phá tán, thất bại, còn người sinh năm Bính sau khi lập nghiệp thì nhiều phúc trạch. Ở cung Tí tuy không bằng cách cục "Mã đầu đới kiếm" ở cung Ngọ, nhưng lại hơn trường hợp ở cung Ngọ mà không thành cách, vì có thể mượn "Thái Dương, Cự Môn" của cung Dần, nếu được cát hóa thì chủ về được người ngoại quốc hay người ở phương xa đề bạt, nữ mệnh thường kết hôn với người ngoại quốc; nhất là cung Tí vô chính diệu mà mượn "Thiên Đồng, Thái Âm" của cung Ngọ để an sao thì càng đúng, hoặc cung Ngọ vô chính diệu mà mượn của cung Tí cũng vậy.

"Thiên Đồng, Thái Âm" ở hai cung Tí hoặc Ngọ rất kị Thiên Đồng hay Thái Âm Hóa Kị; khi đến cung hạn Thiên Tướng tọa thủ, bất kể lưu niên hay đại hạn đều có khuyết điểm, thông thường là niên hạn chủ về trắc trở. Nếu người sinh năm Đinh, Thiên Đồng Hóa Quyền, Thái Âm Hóa Lộc, thì cung phúc đức là Cự Môn ắt Hóa Kị, thích hợp với các nghề cần đến tài ăn nói; nữ mệnh đến vận Thiên Tướng chỉ cần đề phòng trắc trở trong hôn nhân. Nếu gặp sát tinh thì các cung hạn Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang là những niên vận then chốt; không gặp sát tinh mà gặp cát tinh thì các cung hạn "Tử Vi, Thất Sát", Thiên Tướng, "Thiên Cơ, Thiên Lương" là các niên vận then chốt.

"Thiên Đồng, Cự Môn" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, Cự Môn là ám tinh, ảnh hưởng đến sắc thái tâm trạng của Thiên Đồng, cho nên bản thân tổ hợp sao đã có khuyết điểm: Thiên Đồng Hóa Kị thì tâm chí bạc nhược, hoặc có nỗi đau khổ thầm kín; Cự Môn Hóa Kị thì nỗi đau khổ thầm kín ấy thường do chính mệnh tạo chủ động gây ra. Tinh hệ này tuy tài lộc dồi dào nhưng vẫn không tránh được nỗi đau khổ thầm kín; cần phải Cự Môn Hóa Quyền, hoặc hội các sao Hóa Khoa, Hóa Quyền, mới chủ về tâm trạng ổn định, tránh bị người ngoài gây ra nỗi khổ ấy. Nếu Cự Môn Hóa Kị thì Thiên Đồng ắt hóa làm sao quyền: Thiên Đồng Hóa Quyền có thể ổn định tâm trạng, Cự Môn Hóa Kị thì sinh lực kích phát; nhưng lúc này nếu ở cung Sửu thì không có Kình Dương, còn ở cung Mùi ắt có Kình Dương đồng cung, lực kích phát thái quá sẽ thành rối rắm khó xử, vì vậy không tốt bằng Thiên Đồng ở hai cung Thìn hoặc Tuất đối nhau với Cự Môn. Ngoài cung hạn Thất Sát là vận hạn then chốt, các cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", Thái Âm, Phá Quân, Thiên Cơ cũng là những niên hạn then chốt. Hễ "Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ với Đà La thì chủ về buồn phiền, đời người ắt phải trải qua sóng gió lớn mới phát mạnh; về vận phát mạnh, nam mệnh nên đến cung hạn Thất Sát, nữ mệnh nên đến cung hạn "Liêm Trinh, Thiên Phủ".

"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân thành cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương", kết cấu này ổn định hơn trường hợp "Thiên Cơ, Thái Âm" thủ mệnh thành cách ấy. Có điều Thiên Đồng chủ về tâm trạng, Thiên Lương chủ về nguyên tắc, hai sao đồng cung khó tránh mâu thuẫn, xung đột; nhưng vẫn lấy trường hợp gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền làm cách cục cát lợi, còn gặp Hóa Khoa thì chỉ sang quý thanh cao, có địa vị xã hội nhưng không giàu có, thu nhập tùy theo địa vị mà định. Tinh hệ này chủ về bất lợi trong hôn nhân, cung phu thê là Cự Môn Hóa Kị thì càng đúng. Các cung hạn "Vũ Khúc, Thất Sát", Cự Môn, Thái Âm, Thái Dương là những lưu niên hay đại vận then chốt.

Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu, đối nhau với Thái Âm, trường hợp Thái Âm ở cung Dậu thì tốt hơn. Nếu người sinh năm Đinh có tứ hóa diệu tụ hội, do Cự Môn Hóa Kị ở cung tài bạch nên không chủ về lực kích phát, mà chỉ chủ về dùng lời nói để kiếm tiền, nếu không sẽ thành điều tiếng thị phi. Thiên Đồng ở cung Dậu, nếu đối cung là Thái Âm Hóa Kị thì dễ thất chí, hoặc nhiều mặc cảm tự ti; ở cung Mão mà đối cung là Thái Âm Hóa Kị thì chủ về thủ đoạn. Nếu hội Cự Môn Hóa Lộc hoặc Cự Môn Hóa Kị thì cũng dễ sinh nỗi đau khổ thầm kín, nhất là đau khổ vì mối tình không bình thường, giống như "Thiên Đồng, Cự Môn" ở hai cung Sửu hoặc Mùi. Các cung hạn Thiên Cơ, Thất Sát, Thiên Lương, Cự Môn là những niên hạn then chốt.

Thiên Đồng ở hai cung Thìn hoặc Tuất đối nhau với Cự Môn nên cũng có đặc tính của "Thiên Đồng, Cự Môn". Có điều Thiên Đồng ở cung Tuất ưa đối cung là Cự Môn Hóa Kị kích phát, gọi là cục "phản bối", chủ về trải gian khổ mà sáng lập sự nghiệp, cần chú ý điều hòa quan hệ nhân tế vì có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp. Thiên Đồng ở cung Thìn thì không thành cục "phản bối", vì hội Thiên Lương có tính "cô kị" ở cung Tị không bằng hội Thiên Lương ở cung Ngọ, cho nên đời người khá thuận lợi toại ý, nhưng lại ít tính chất "qua cơn mưa trời lại sáng" để thành sự nghiệp lớn. Thiên Đồng ở cung Thìn thông thường đều độc đoán, có thành kiến, vì vậy không nên hợp tác làm ăn với người khác. Các cung hạn "Liêm Trinh, Thất Sát", Thiên Lương, Cự Môn, "Thiên Cơ, Thái Âm" là những niên vận then chốt.

Thiên Đồng ở hai cung Tị hoặc Hợi thì ở cung Tị tốt hơn; ở cung Hợi thì Thiên Lương của đối cung ở cung Tị, dễ mang lại thị phi, kiện tụng, khắc hại. Thiên Đồng đối nhau với Thiên Lương có tính lười biếng, vì vậy nên thận trọng trong việc kết bạn, dễ giao du với bạn xấu khiến ảnh hưởng xấu đến cuộc đời. Tinh hệ này rất ngại Hóa Kị, nhất là ở cung Hợi, chủ về cuộc đời vất vả, rời xa người thân, lưu lạc, không nơi nương tựa; ở cung Tị thì có thể tự lập, chỉ cần giữ ổn định, không thay đổi mới cũ, mới có thể lập nghiệp. Lúc hơi thành tựu, nhất thiết không được hợp tác với người khác, nếu không sẽ có kết cục rất xấu. Các cung hạn "Thiên Cơ, Cự Môn", Thất Sát, Liêm Trinh là những niên hạn then chốt.

Liêm Trinh ở cung mệnh

Sao thứ ba mang trong mình hai thứ tưởng chẳng liên quan: một bên là tình cảm và lí tưởng, một bên là máu.

Liêm Trinh chủ về tình cảm, cũng chủ về máu. Liêm Trinh Hóa Kị, về phương diện quan hệ nhân tế là tình cảm bị tổn thương, họa hại; về phương diện cơ thể là bệnh tật liên quan đến máu. Vì chủ về tình cảm nên khi có các sao đào hoa hội hợp, nó chuyển biến thành tình cảm nam nữ, vì vậy gọi là sao "đào hoa thứ", đối lại với "đào hoa chính" của Tham Lang: Tham Lang chủ về hành động, Liêm Trinh chủ về tư tưởng, nên gọi là "thứ". Nói cách khác, đào hoa của Tham Lang chủ về theo đuổi sắc tình, còn đào hoa của Liêm Trinh là ghi lòng tạc dạ.

Liêm Trinh còn là chính trị, hoặc đối với chính trị rất cuồng nhiệt và có lí tưởng; tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Tướng" đặc biệt có tính chất này. Tính chất ấy khi nhuyễn hóa sẽ thành quyền biến hay thủ đoạn, khác với khuynh hướng quan hệ giao tế thiên về tửu sắc của Tham Lang. Liêm Trinh trôi nổi, nóng nảy, thuộc về phương diện tinh thần; Tham Lang lẳng lơ, thuộc về hành vi, cử chỉ. Cho nên Liêm Trinh ưa Thiên Tướng, nhuyễn hóa thành thủ đoạn chính trị linh hoạt và tính chất phục vụ; còn Tham Lang thì ưa Vũ Khúc, nhuyễn hóa thành thủ đoạn kiếm tiền linh động, khéo ăn khéo ở.

Liêm Trinh có thể văn mà cũng có thể võ, cho nên cổ nhân nói:

"Liêm Trinh gặp Văn Xương thì giỏi lễ nhạc, gặp sát tinh võ nghiệp hiển hách."

Vì vậy lúc có Văn Xương, Văn Khúc và các sao đào hoa cùng bay đến, đây là người phong lưu; đồng độ với Phá Quân mà gặp sát tinh thì chủ về võ nghiệp, hoặc làm những nghề có tính hung hiểm, hay có công cụ bén nhọn. Rất ưa đồng độ với Thiên Phủ, hội Tử Vi của cung Ngọ và "Vũ Khúc, Thiên Tướng" của cung Dần, đây là kết cấu tốt, gặp cát tinh có thể trở thành người hữu dụng.

Liêm Trinh qua các cung độ

"Liêm Trinh, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ thì khí hòa hoãn hơn, khác với "Liêm Trinh, Phá Quân" ở hai cung Mão hoặc Dậu vốn hấp tấp, quyết liệt. Tinh hệ này rất ngại có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, chủ về gặp trắc trở nghiêm trọng, hoặc có khuynh hướng tự sát; nhất là lúc Liêm Trinh Hóa Kị bị Vũ Khúc Hóa Kị xung hội, lại gặp thêm Kình Dương, Đà La, Thiên Hình xung hội thì khuynh hướng này càng đúng. Người sinh năm Bính, Liêm Trinh Hóa Kị, đến cung hạn Thiên Đồng thì hoạnh phát, đến cung hạn Vũ Khúc thì phải đề phòng hoạnh phá. "Liêm Trinh, Thiên Tướng" rất ưa "Tài ấm giáp ấn", Liêm Trinh Hóa Lộc hoặc Phá Quân Hóa Lộc ở đối cung, sẽ chủ về phú quý, nhưng vẫn chủ về chỉ nên ở vị trí phụ tá hay phó, nghề nghiệp có tính chất làm việc hưởng lương. Ngoài người sinh năm Bính lấy hai cung hạn Thiên Đồng, Vũ Khúc làm vận trình then chốt, còn lại đều lấy các cung hạn "Tử Vi, Thiên Phủ", Vũ Khúc, Cự Môn, Phá Quân làm đại vận hoặc lưu niên then chốt.

"Liêm Trinh, Thất Sát" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, chỉ có cung Mùi mới có thể cấu tạo thành cách cục "Hùng tú kiền nguyên", điều kiện là gặp các sao phụ, tá cát, không có tứ sát tinh và các sao hình, kị, Địa Không, Địa Kiếp xung hội, chủ về trải qua gian khổ mà thành giàu có; ở cung Sửu chỉ có mức sống trung bình. Ở cung Mùi mà Liêm Trinh Hóa Lộc là cách "thanh bạch", cũng chủ về dư giả, nếu không có Hỏa Tinh, Linh Tinh hội chiếu sẽ chủ về phú quý; ở cung Sửu cũng chỉ thành cục trung bình. Tinh hệ này không ưa có Kình Dương đồng độ, chủ về gặp nhiều thị phi; cũng không ưa Đà La đồng độ, chủ về gặp nhiều rối ren; còn không ưa gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về bị trắc trở nghiêm trọng. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị lại gặp các sao hình, hao, sát, chủ về chết ở xứ người; nếu Vũ Khúc Hóa Kị, hoặc Văn Khúc hay Văn Xương Hóa Kị xung khởi, lại có Hỏa Tinh, Linh Tinh hội hợp, chủ về sự cố bất trắc, nghiêm trọng thì ngấm ngầm có ý định tự sát. Các cung hạn Thiên Lương, "Vũ Khúc, Phá Quân", Thiên Đồng là những lưu niên hay đại hạn then chốt.

Liêm Trinh độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, trường hợp ở cung Thân cũng thành cách cục "Hùng tú kiền nguyên"; trường hợp ở cung Dần không thành cách cũng như trên. Tinh hệ này rất kị Văn Khúc bay đến cung thiên di mà cung mệnh lại hội Văn Xương, còn hội các tạp diệu Âm Sát, Đại Hao, Thiên Hư, Thiên Hình và Vũ Khúc Hóa Kị đến hội; các sao ác sát nặng thì chủ về có khuynh hướng trộm cắp, mà còn chủ về quyến luyến tửu sắc, trụy lạc mà dẫn đến thất bại. Cổ quyết nói:

"Liêm Trinh, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân gặp nhau, Văn Khúc ở thiên di là làm giặc."

Theo Vương Đình Chi, hai chữ trong nguyên văn ghép lại thành chữ "tặc"; đời nay có người cho rằng đây là do chép lầm của hai chữ "binh nhung", giải thích là "võ nghiệp hiển quý", hoàn toàn trái ngược với kiến giải của Vương Đình Chi. Liêm Trinh ở hai cung Dần hoặc Thân cũng ưa Tham Lang ở đối cung thành cách "Hỏa Tham" hay "Linh Tham", chủ về phát lên một cách đột ngột, cũng chủ về được tiền của nhờ vợ, hoặc nhờ vợ trợ giúp mà trở nên giàu có. Các cung hạn Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Thiên Tướng là lưu niên then chốt; các cung hạn Thất Sát, Thiên Lương, "Thiên Cơ, Cự Môn", "Vũ Khúc, Thiên Phủ" là đại vận then chốt.

"Liêm Trinh, Phá Quân" ở hai cung Mão hoặc Dậu rất ngại có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, chủ về suy sụp nhanh chóng; gặp sát tinh nặng, còn gặp thêm Thiên Hình, sẽ chủ về bị phẫu thuật hoặc xảy ra sự cố bất trắc, lấy năm Liêm Trinh Hóa Kị ở lưu niên xung khởi làm ứng nghiệm. Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc thì cung tật ách ắt là Thái Dương Hóa Kị, vì vậy chủ về bệnh tật ở mắt. Tinh hệ này có năng lực sáng tạo; gặp Kình Dương đồng độ mà không có các sao hình, hao thì chủ về suy nghĩ khéo, có tay nghề khéo. Người sinh năm Bính cũng chủ về hoạnh phát, hoạnh phá: đến đại hạn Thiên Phủ thì hoạnh phát, đề phòng đến cung hạn "Thiên Đồng, Thái Âm" thì hoạnh phá. Các cung hạn "Vũ Khúc, Tham Lang", "Thiên Đồng, Thái Âm", "Thái Dương, Cự Môn" là những niên hạn then chốt.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở hai cung Thìn hoặc Tuất, khí rất hòa hoãn, gặp sao lộc thì cát; Thiên Phủ là "kho trống", "kho lộ" thì hung, nhưng nhẹ hơn các tổ hợp sao khác. Có điều kết hôn sớm thì bất lợi, thường dễ bị tình trạng ngó đứt mà tơ chưa lìa, hoặc có một thời kì hữu danh vô thực. Gặp sao lộc lại có sao phụ, tá cát thì có thể làm việc trong giới kinh tế tài chính, hoặc làm quan thuế, gặp thêm Tả Phụ, Hữu Bật thì rất tốt. Nếu được Thái Dương và Thái Âm giáp cung thì ở cung Tuất ưu hơn ở cung Thìn; hội các sao cát là đại phú đại quý. Các cung hạn Phá Quân, Tham Lang, "Thái Dương, Thiên Lương" có Văn Xương, Văn Khúc là những đại vận hoặc lưu niên then chốt.

"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, gặp các sao sát, kị thì chủ về phiêu lưu tứ hải, rời xa quê hương; gặp các sao phụ, tá mà không phải chỉ có Văn Xương, Văn Khúc, thì khí chất cao thượng, phong lưu nho nhã, làm việc trong chính giới hay quân đội có thể hơn mọi người. Có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì tính chất bạo phát bạo bại cực kì nghiêm trọng, sau khi phát đạt cần nắm vững thời thế mới duy trì được thành tựu. Có Đà La đồng cung thì có lúc xảy ra xung đột giữa tình cảm và ham muốn vật chất, dễ có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ. Tinh hệ này phần nhiều bất lợi trong hôn nhân, dễ ngó đứt mà tơ chưa lìa, cần xem xét kĩ cung phu thê để định mức độ. Các cung hạn Cự Môn, Thiên Tướng, "Tử Vi, Phá Quân", "Thiên Đồng, Thiên Lương" là những niên vận then chốt; cần chú ý "Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung Tị thì cuộc đời gặp nhiều nạn tai, nhưng có thể chuyển nguy thành an.

Thiên Phủ ở cung mệnh

Với kho tiền của Nam Đẩu, câu hỏi không phải là kho lớn hay nhỏ, mà là kho ấy có người biết mở hay không.

Thiên Phủ ưa tương hội với Tử Vi ở tam phương mà lại không ưa đồng độ, hễ đồng độ ắt sẽ có khuyết điểm; cần xem xét các sao ở cung phúc đức, cung sự nghiệp và cung phu thê mà định tính chất. Thiên Phủ ở cung mệnh, gặp sao lộc là điều kiện cơ bản để thu hoạch lợi ích, sau đó mới xem tính chất của Thiên Tướng để định cách cục cao thấp. Thiên Phủ ưa đến các cung hạn Thiên Lương, Thái Dương, nếu có các sao cát sẽ chủ về địa vị thăng tiến; ưa đến cung hạn có Lộc Tồn, Hóa Lộc hội hợp sao cát, chủ về tài phú tăng nhiều.

Đối cung của Thiên Phủ ắt là Thất Sát, đây là một cách bố trí các sao rất xảo diệu. Thiên Phủ chỉ sở trường phòng thủ, không giỏi khai sáng, cũng không giỏi chỉ huy; năng lực khai sáng và quyền lực có vận dụng được tự nhiên hay không, cần phải xem các sao hội hợp ở cung Thất Sát mà định. Cho nên gọi là "phùng Phủ khán Tướng", gặp Thiên Phủ thì phải xem Thiên Tướng, mà thực ra cũng là "phùng Tướng khán Phủ", gặp Thiên Tướng thì phải xem Thiên Phủ. Thiên Phủ không có sao lộc là "kho trống", hội Địa Không, Địa Kiếp cũng là "kho trống"; nếu là "kho trống" mà Thất Sát ở đối cung hội hợp các sao cát, mới chủ về tạo dựng sự nghiệp từ hư không. Thiên Phủ có tứ sát tinh hội hợp là "kho lộ"; hễ kho lộ thì Thiên Tướng cần phải có sao lộc, hoặc thành cách "Tài ấm giáp ấn", mới chủ về giỏi cạnh tranh và nhờ đó mà giàu có.

Thiên Phủ đồng độ và độc tọa

Thiên Phủ đồng độ với các sao khác thì trường hợp "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung Tuất là tốt nhất; cổ nhân nói:

"Thiên Phủ lâm Tuất hữu tinh phù, yếu kim y tử."

Tức Thiên Phủ đến cung Tuất có sao phù trợ thì là đai vàng áo tía. Trường hợp Liêm Trinh Hóa Lộc, hoặc hội Vũ Khúc Hóa Lộc là thượng cách; hội Tử Vi Hóa Khoa là quý mà không phú; còn ưa Tả Phụ, Hữu Bật đến hội, Thiên Khôi, Thiên Việt giáp cung, sẽ chủ về địa vị rất cao. Nếu "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ thì Tử Vi là chủ, Thiên Phủ là phụ, cho nên cũng ưa Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp; không có sao phụ, tá thì tinh hệ này có khiếm khuyết đáng tiếc, chủ về tiến thoái thiếu quyết đoán; nếu có Lộc Tồn đồng độ thì Thiên Phủ thành vai chủ, luận đoán cát hung cũng nặng về tính chất của Thiên Phủ. "Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp Lộc Tồn ở cung tài bạch tốt hơn ở cung mệnh, còn gặp Vũ Khúc Hóa Lộc thì gặp ở cung mệnh tốt hơn: trường hợp trước, gặp ở cung mệnh thì chủ về bủn xỉn, keo kiệt, tham lam, gặp ở cung tài bạch thì chủ về giỏi quản lí tài chính, giỏi kiếm tiền; trường hợp sau, gặp ở cung mệnh thì chủ về độ lượng, còn có năng lực quyết đoán và quản lí tài chính.

Thiên Phủ độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi, có Văn Xương, Văn Khúc giáp cung thì lợi về cầu danh, tiền của tùy theo địa vị xã hội mà định; được Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung thì lợi về tiền của, địa vị xã hội thì xem tiền của nhiều ít mà định; do đó có thể định mục tiêu nỗ lực của Thiên Phủ. Trường hợp ở cung Mùi tốt hơn, vì ở cung Sửu sẽ hội Thiên Tướng ở cung Tị mà Thiên Lương ở cung Ngọ giáp Thiên Tướng, khí "hình sát" khá nặng, gián tiếp khiến Thiên Phủ bị áp lực khá nặng. Các cung hạn "Tử Vi, Tham Lang", Thiên Lương, "Liêm Trinh, Thất Sát", "Vũ Khúc, Phá Quân" có Lộc Tồn và Hóa Lộc là những lưu niên, đại vận then chốt.

Thiên Phủ độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu là ở nhược địa; nếu hai sao Địa Không, Địa Kiếp một sao bay đến cung mệnh, một sao bay đến cung sự nghiệp, thì Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", lại gặp thêm sát tinh, chủ về cơ mưu cỡ nào cũng chẳng được gì. Tinh hệ này ưa Tả Phụ đồng cung, hội Hữu Bật, sẽ chủ về có địa vị rất cao, hoặc có sự nghiệp hiện đang phát triển; có điều rất sợ đến niên hạn Thái Dương Hóa Kị, bị "Hình kị giáp ấn" là điểm tượng đổ vỡ, gặp trắc trở nghiêm trọng. Ngoài ra, các cung hạn "Tử Vi, Phá Quân", "Liêm Trinh, Tham Lang" là những đại vận hoặc lưu niên then chốt.

Thiên Phủ độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung là "Tử Vi, Thất Sát" là tinh hệ quyền lực, cho nên chủ về nữ mệnh thao túng chồng, ở thời hiện đại còn chủ về phụ nữ có sự nghiệp riêng. Gặp các sao phụ, tá bất quá chỉ làm tăng trợ lực, nhưng vì đối nhau với "Tử Vi, Thất Sát" nên chẳng cần thiết; không bằng gặp Lộc Tồn và Thiên Tướng thuộc loại "Tài ấm giáp ấn", hoặc hội Vũ Khúc Hóa Lộc mượn sao an cung và Tham Lang Hóa Lộc là tốt, có thể phú quý song toàn. Nếu Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", ở thời hiện đại phần nhiều chủ về được người ngoại quốc hay người ở phương xa đề bạt; nếu không thì cần gặp Thiên Khôi, Thiên Việt mới chủ về được quý nhân đề bạt. Tinh hệ này rất ưa đến cung hạn Thiên Khôi, Thiên Việt trùng điệp, tức Lưu Khôi và Lưu Việt trùng điệp với Thiên Khôi, Thiên Việt của nguyên cục mà xung khởi nhau, chủ về phát đột ngột.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái