Bài tổng quan
Anh Tinh Nhập Miếu, Cự Cơ Đồng Lâm, Hùng Bá Và Hóa Tinh Hoàn Quý
Một công ti đang thuận buồm xuôi gió thì người có Phá Quân thủ mệnh ở Tí, Ngọ không có đất dụng võ, tính phá cũ của họ khó dung được người chung quanh. Nhưng khi xảy ra sự cố, hay bị cạnh tranh đột ngột, cục diện ấy lại rất cần đúng con người này. Cổ nhân nói Phá Quân nên ở thời loạn, không nên ở thời trị, và chữ loạn, chữ trị ấy chẳng cứ phải là chuyện thiên hạ. Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung ở Mão thì dễ sốc nổi, học nhiều mà không thành. Liêm Trinh gặp Thất Sát là lửa tôi luyện kim, thành tựu đến sau gian nan hung hiểm. Còn Cự Môn hãm ở Thìn, Thiên Đồng trở mặt ở Tuất, hai vị trí ai cũng ngại, vì sao riêng người sinh năm Tân và năm Đinh lại hóa thành quý?
Anh tinh nhập miếu cách
Cách cục "Anh tinh nhập miếu" tức là Phá Quân thủ mệnh ở cung Tí hoặc cung Ngọ (Xem hình 111). Cổ ca nói:
北斗英星最有权,
坎离之上福绵绵,
黄金建节超庙旺,
统帅英雄镇四边.Phiên âm:
Bắc Đẩu anh tinh tối hữu quyền,
Khảm Li chi thượng phúc miên miên,
Hoàng kim kiến tiết siêu miếu vượng,
Thống soái anh hùng trấn tứ biên.Dịch nghĩa:
Bắc Đẩu anh tinh rất có quyền,
Khảm Li ở đó phúc triền miên,
Hoàng kim kiến tiết hơn miếu vượng,
Anh hùng thống soái trấn tứ biên.
Phá Quân gọi là "anh tinh", do khi nó gặp cát tinh thì chủ về uy quyền. Nhưng Phá Quân còn có một đặc tính khác, tức là khi hung thì chủ về phá tán hao tài. Thực ra bất kể cát hung, nó đều mang tính phá hoại; có điều, khi hung thì thuần túy thuộc phá tán hao tài, khi cát thì sau khi phá hoại có sự kiến thiết.
Do Phá Quân có mang tính chất quyền uy, cho nên cổ nhân cho rằng rất thích hợp làm võ tướng, nhất là khi Phá Quân nhập miếu ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có hai sao "Liêm Trinh, Thiên Tướng" vây chiếu. Liêm Trinh mang tính tình cảm, Thiên Tướng thì chủ về chính trực, hai sao này ảnh hưởng đến Phá Quân, do đó lực phá hoại của nó cũng có khuynh hướng tốt lành.

Cổ nhân cho rằng các danh tướng vì nước quên mình, trấn thủ biên cương đều có mệnh cục loại này.
Cho nên Phá Quân nên ở vào thời loạn không nên ở vào thời trị. Trong lúc động loạn, Phá Quân có thể phát huy tài trí, trải qua trùng trùng hiểm trở mà lập nghiệp. Nếu ở vào thời thái bình thịnh thế, thì tính cách phá hoại của Phá Quân sẽ không dung được người khác, do đó có thể buồn bực sầu não mà chết. Cách cục "Anh tinh nhập miếu" cũng bị sự hạn chế này.
Có điều, nói "loạn" và "trị" ở đây, không nhất định nói về xã hội, nếu ở trong một công ti, nghiệp vụ đã thuận buồm xuôi gió, thì người "Anh tinh nhập miếu" không có đất dụng võ, nhưng giả dụ xảy ra sự cố, hoặc gặp sự cạnh tranh đột ngột, thế thì cục diện lúc đó rất cần người "Anh tinh nhập miếu" ứng phó.
Cự Cơ đồng lâm cách
Phá Quân cần thời loạn để dụng võ; còn cặp sao của miệng lưỡi và mưu cơ thì cần một lãnh vực mới để khỏi thành phù phiếm.
"Cự Cơ đồng lâm cách" tức là Cự Môn và Thiên Cơ cùng thủ mệnh ở cung Mão (xem hình 112).
Cổ ca nói:
巨门庙旺遇天机,
高节清风世罕稀,
学就一朝腾达去,
巍巍德业震华夷.Phiên âm:
Cự Môn miếu vượng ngộ Thiên Cơ,
Cao tiết thanh phong thế hãn hi,
Học tựu nhất triều đằng đạt khứ,
Nguy nguy đức nghiệp chấn Hoa Di.Dịch nghĩa:
Cự Môn miếu vượng gặp Thiên Cơ,
Tiết nghĩa thanh cao hiếm có đời,
Học đứng đầu triều thân vinh hiển,
Đức nghiệp nguy nga khiếp mọi người.

Tình hình "Thiên Cơ, Cự Môn" đồng cung có hai loại: Một là ở cung Mão; hai là ở cung Dậu. Cổ nhân đánh giá là "Thiên Cơ và Cự Môn cùng ở Mão Dậu, ắt tổ nghiệp suy sụp mà bản thân tự hưng thịnh" (Thiên Cơ dữ Cự Môn đồng cư Mão Dậu, tất thoái tổ nhi tự hưng 天机与巨门同居卯酉,必退祖而自兴); "Thiên Cơ Cự Môn ở Dậu hóa cát dù gặp tài quan cũng không vinh" (机巨酉上化吉者, 纵遇财官也不荣 Cơ Cự Dậu thượng hoá cát giả, túng ngộ tài quan dã bất vinh). Nói cách khác, tức là ưa ở cung Mão, mà không ưa ở cung Dậu. Nguyên nhân là vì Thiên Cơ thuộc mộc, ở cung Dậu thì bị kim khắc chế, không như ở cung Mão được vượng khí của mộc.
Do đó có thể thấy trong "Cự Cơ đồng lâm cách", sao Thiên Cơ đúng là then chốt của cách cục. Chủ yếu là vì Thiên Cơ chủ về mưu trí, quyền biến, và linh động; nếu Thiên Cơ bị khắc chế, thì "khí ám" của Cự Môn không được điều hòa.
Nhưng "Cự Cơ đồng lâm" cũng có nhiều khuyết điểm, nó khá dễ thành sốc nổi, không thiết thực, hơn nữa còn có cái tệ là học nhiều mà không thành. Trong cổ ca nói "học tựu" trong "Học tựu nhất triều đằng đạt khứ" là nói "học hành thành tựu", e rằng đã thêm vào phần bổ cứu hậu thiên rồi!
Người xưa nói "Cự Môn mà giao du với người thì trước thiện sau ác" (巨门交人,始善终恶 Cự Môn giao nhân, thuỷ thiện chung ác), khuyết điểm này khác với khuyết điểm của "Cự Cơ đồng lâm cách". Có điều, nếu người thuộc cách cục này có thể sửa đổi khuyết điểm kể trên, gần quân tử mà lánh xa tiểu nhân thì tự nhiên sẽ có phong khí thanh cao tiết nghĩa.
Hùng bá triều viên cách
Mưu cơ dễ thành sốc nổi; còn sao "hùng tú" thì uy vũ mà không phá hoại, chỉ có điều đường thành tựu phải qua gian nan.
"Hùng bá triều viên cách" tức là Liêm Trinh thủ mệnh ở hai cung Mùi hoặc cung Thân (Xem hình 113, 114).
Cổ ca nói:
申未廉贞得地方,
纵加七杀不为凶,
声名显达风云远,
二限优游富贵中.Phiên âm:
Thân Vị Liêm Trinh đắc địa phương,
Túng gia Thất Sát bất vi hung,
Thanh danh hiển đạt phong vân viễn,
Nhị hạn ưu du phú quý trung.Dịch nghĩa:
Thân Mùi Liêm Trinh đắc địa cung,
Dù thêm Thất Sát cũng không hung,
Thanh danh hiển đạt phong vân bước,
Hai hạn thong dong phú quý yên.
Liêm Trinh gọi là "hùng tú" do tính chất uy vũ của nó, nhưng lại không mang tính phá hoại giống như Phá Quân, cho nên sát khí của Phá Quân lớn hơn Liêm Trinh. Vì vậy người Liêm Trinh thủ mệnh cũng khá bình hòa, cuộc đời ít sóng gió, trắc trở.


Liêm Trinh ưa gặp Thất Sát, bởi vì âm hỏa của Liêm Trinh có thể tôi luyện âm kim của Thất Sát, khiến kim loại thành khí cụ. Lúc Liêm Trinh và Thất Sát cùng ở cung Mùi, đương nhiên có năng lực tôi luyện; nếu Liêm Trinh ở cung Thân, Thất Sát cư cung Ngọ, cũng có năng lực trui rèn, vì vậy người xưa cho rằng thuộc cách cục tốt.
Tuy nhiên, cung Sửu có Liêm Trinh và Thất Sát đồng cung, thì không gọi là cách cục tốt, do Mùi là mộc Mộ, mộc có thể sinh hỏa, có lợi cho Liêm Trinh; còn Sửu là kim Mộ, nên bất lợi đối với Liêm Trinh.
Lúc thấy Liêm Trinh ở cung Dần, Thất Sát ở cung Tí, cũng không phải là cách cục tốt (xem hình 115), là do ý nghĩa cung Thân là kim, lợi cho sự tôi luyện Liêm Trinh hơn.

Cổ nhân luận Đẩu Số, có lúc rất xem trọng ngũ hành sinh khắc, cách này là một ví dụ. Người thuộc cách này ắt sẽ thành tựu sau khi trải qua gian nan hung hiểm, đây là đặc điểm cơ bản của cách cục này.
Hóa tinh hoàn quý cách
Lửa rèn được kim, và sao hóa cũng rèn được một cung vốn bị xem là hãm địa: từ chỗ vất vả mà phát lên.
"Hóa tinh hoàn quý cách" tức là người sinh năm Đinh, Thiên Đồng thủ mệnh ở cung Tuất; người sinh năm Tân, Cự Môn thủ mệnh ở cung Thìn (Xem hình 116, 117).
Cổ ca nói:
三星变化最无穷,
同戌相逢巨遇龙,
生值丁辛须富贵,
青年公正庙堂中.Phiên âm:
Tam tinh biến hoá tối vô cùng,
Đồng Tuất tương phùng Cự ngộ long,
Sinh trị đinh tân tu phú quý,
Thanh niên công chính miếu đường trung.Dịch nghĩa:
Ba sao biến hoá vô cùng tận,
Cùng Tuất tương phùng Cự gặp Thìn,
Sinh năm Đinh Tân là phú quý,
Thanh niên công chính ở miếu đường.
Người sinh năm Đinh, Thiên Đồng Hóa Quyền ở cung Tuất, đối nhau với Cự Môn của cung Thìn, mà Cự Môn Hóa Kị. Người sinh năm Tân, Cự Môn Hóa Lộc ở cung Thìn, đối nhau với Thiên Đồng của cung Tuất. Cự Môn rất sợ ở cung Thìn, câu nói "Thìn Tuất ngại rằng Cự Môn ở hãm địa" (辰戌应嫌陷巨门 Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn) là đúng. Nhưng trong cách "Hóa tinh hoàn quý", Cự Môn lại không ngại hãm ở cung Thìn, nguyên nhân là vì năm Tân Cự Môn Hóa Lộc. Đây tức là nói "Hóa tinh hoàn quý" (sao Hóa là quý trở lại). Thiên Đồng cư cung Tuất, ở năm Đinh tuy hóa làm Quyền, nhưng lại đối nhau với Cự Môn Hóa Kị. Tuy nhiên, do hai sao có tính chất chế hóa, do đó chuyển thành cách đẹp, cũng là "Hóa tinh hoàn quý".
Cổ nhân có nói: "Cự Môn ở hai cung Thìn hoặc Tuất không đắc địa, người sinh năm Tân mà gặp mệnh này thì ngược lại, biến thành đặc biệt." (巨门辰戌不得地,辛人命遇反为奇 Cự Môn Thìn Tuất bất đắc địa, Tân nhân mệnh ngộ phản vi kì). Tức là thích Cự Môn Hóa Lộc khi thất hãm. Bởi vì hãm địa tuy rất u ám, nhưng Hóa Lộc lại có thể giải ám. Cổ nhân còn nói: "Thiên Đồng ở cung Tuất là trở mặt, người sinh năm Đinh mà hóa cát là chủ về đại quý." (天同戌宫为反背, 丁人化吉主大贵 Thiên Đồng Tuất cung vi phản bối, Đinh nhân hoá cát chủ đại quý). Tức cũng lấy Hóa Quyền của Thiên Đồng để hóa giải Thiên Đồng khi nó rơi vào "Thiên La, Địa Võng" bất tường.
Hai cách cục này đều nhờ sức mạnh của "sao Hóa" mà chuyển biến tình hình, sức mạnh của "Hóa tinh hoàn quý" là ở chỗ này. Nhưng cũng đều chủ về từ vất vả mà phát lên.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
