Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Bối cảnh văn hóa và các bước luận đoán mệnh bàn theo Vương Đình Chi

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202613 phút đọc4 lượt đọc
Bối cảnh văn hóa và các bước luận đoán mệnh bàn theo Vương Đình Chi

Một người mẹ có Thất Sát thủ cung Mệnh của lưu niên, cung Tử Nữ nguyên cục gặp đủ lục sát tinh, theo sách cổ thì năm ấy sinh đẻ tất có nguy cơ. Vậy mà bà trả lời Vương Đình Chi rằng sinh con thuận lợi, chỉ thêm một câu: tôi được gây tê toàn thân. Đứa bé bị khiếm khuyết tim bẩm sinh cũng được bác sĩ chữa khỏi, chẳng ai coi đó là tai nạn. Lời đoán theo sách trượt, và từ chỗ trượt ấy mới sinh ra cả một trình tự xem lá số: cung Phụ Mẫu, Điền Trạch trước, cung Mệnh và Phúc Đức sau, rồi mới tới đại hạn, lưu niên. Theo đúng trình tự ấy, một cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ đã được lần ra và cứu vãn như thế nào?


Lấy bối cảnh văn hóa, xã hội làm nền tảng

Bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến cách luận đoán, đó là điều rất quan trọng cần phải lưu ý khi chúng ta muốn dùng Đẩu Số để đoán mệnh.

Vương Đình Chi từng nói, nữ mệnh có Thất Sát tọa thủ cung mệnh của lưu niên, nếu như cung tử nữ của nguyên cục gặp lục sát tinh: Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, mà các sao của lưu niên lại không tốt, chủ về sinh đẻ có nguy cơ.

Nhưng luận đoán này đã khiến cho Vương Đình Chi bị hố. Vương Đình Chi xem mệnh bàn của người phụ nữ này, hỏi bà ta năm ngoái có sinh con không, lúc sinh con có bị phiền phức nhiều không? Người phụ nữ trả lời: "Vâng, năm ngoái có sinh con, nhưng sinh đẻ thuận lợi." Vương Đình Chi nhíu mày. Người phụ nữ nói thêm: "Có điều tôi dùng phương pháp gây tê toàn thân để sinh con."

Thực sự, Vương Đình Chi không biết có chuyện gây tê toàn thân để sinh con, chiếu theo lí, "gây tê toàn thân" cũng là có vấn đề rồi. Nhưng lúc sinh con bà không cảm thấy đau khổ và đau đớn, nên không cho rằng đã có phiền phức mà thôi.

Sinh con không ưa gặp Phá Quân, chủ về sinh con khó dưỡng, đây cũng là thuyết của cổ nhân, nhưng Vương Đình Chi cũng bị hớ, đứa con của người phụ nữ này lúc mới sinh ra được các bác sĩ dùng kĩ thuật hiện đại chữa trị khiếm khuyết bẩm sinh về tim cho đứa bé, nhưng người ta không cho đó là nạn tai, cũng không cho rằng đứa bé khó nuôi.

Do đó có thể biết, Tử Vi Đẩu Số chỉ có thể luận đoán xu hướng của một mệnh vận, hậu thiên tuyệt đối có thể thay đổi tính chất của xu hướng này. Nhất là ngày nay khoa học tiến bộ, vốn có thể xoay chuyển được vận thế tiên thiên, những xu hướng mà cổ nhân đã lập thành định luận.

Có thể cử một số ví dụ để chứng minh Tử Vi Đẩu Số không phải là túc mệnh luận, tức chẳng thể luận đoán ra chuyện "không thể thay đổi được". Bởi vì khuynh hướng tiên thiên tuyệt đối có thể dùng việc làm hậu thiên của con người để bổ cứu (như mệnh bàn vừa kể ở trên, y học hiện đại có thể cứu sống một đứa bé, khiến cho luận đoán "sinh con khó dưỡng" không còn chính xác). Cổ nhân căn cứ bối cảnh văn hóa xã hội cổ đại để đưa ra luận đoán, rất nhiều trường hợp không còn phù hợp với xã hội hiện đại.

Cổ nhân nói: "Tham Lang, Liêm Trinh đồng cung, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm."

Nếu cứ y theo sách mà nói thẳng, ngày nay như vậy là quá cứng ngắc. Vương Đình Chi kể, ông có quen biết một nhà thiết kế quảng cáo khá có địa vị, cung mệnh là hai sao "Tham Lang, Liêm Trinh" tọa thủ, nếu nói "phóng đãng", tính chất cũng chính xác, bởi vì người này "có máu" nghệ thuật, đã từng phiêu bạt khắp nơi, nhưng sự nghiệp lại thành tựu. Cho nên đặc tính của một đời người tuyệt đối không thể dùng hai chữ "phóng đãng" để khái quát. Đây là do xã hội cổ đại khác với xã hội ngày nay. Thời cổ những người thích phiêu bạt giang hồ, dù có tài năng cũng khó phát huy, bởi vì xã hội ngày xưa bảo thủ, không ai dám làm "lãng tử", lại không có nghề nghiệp nào tạo cơ hội cho người ta phát huy tài năng nghệ thuật. Nhưng xã hội ngày nay đã khác, có nghề thiết kế quảng cáo để phát triển, do đó biến thành không phải là "phóng đãng".

Theo lời kể của Vương Đình Chi, năm xưa ông học Đẩu Số với thầy là Huệ lão, Huệ lão đã chỉ điểm cho Vương Đình Chi một điều rất hay. Ông nói: "Theo kinh nghiệm luận đoán của thầy trong những năm gần đây, nữ mệnh có Phá Quân Hóa Lộc ở cung mệnh, dường như đều có khuynh hướng giải phẫu thẩm mĩ."

Đương nhiên thời cổ đại không có chuyện giải phẫu thẩm mĩ, vì vậy Huệ lão chỉ nói nhẹ nhàng một câu mà đã gợi mở rất lớn cho Vương Đình Chi. Sau nhiều năm nghiên cứu vô số mệnh bàn, ông cũng phát hiện ra một số tính chất mới của các tinh hệ.

Năm xưa Huệ lão rất tán thưởng hai vị Đẩu Số danh gia, một vị là Lục Bân Triệu, từng mở lớp dạy Đẩu Số, trước tác Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, có tặng cho Huệ lão một bộ, Vương Đình Chi lúc đó có chép lại; một vị khác là Bắc phái cao thủ Trương Khai Quyển, với bộ Tử Vi Đẩu Số mệnh lí nghiên cứu, tác phẩm của tiên sinh vào thập niên 50 của thế kỉ trước đã có tác dụng mở đường. Phương pháp đoán mệnh của hai vị danh gia đương nhiên đều có sắc thái đặc biệt, họ không giữ bí mật mà công khai sở học, là tài liệu tốt để nghiên cứu Đẩu Số.

Những điều Huệ lão truyền lại cho Vương Đình Chi có nhiều chỗ khác với Lục Bân Triệu và Trương Khai Quyển. Như Thái Âm ở cung bệnh tật, Lục tiên sinh cho rằng chủ về bệnh tiêu chảy, kiết lị; còn Huệ lão thì cho rằng chủ về táo bón, hoàn toàn tương phản, Huệ lão từng bảo Vương Đình Chi sưu tập tư liệu để nghiên cứu thêm xem sao. Do đó có thể thấy phong cách của bậc danh sư là không khiến cho đệ tử phải sùng bái điều mình bí truyền, như vậy mới khiến cho Tử Vi Đẩu Số phát triển theo hoàn cảnh xã hội.

Quan sát toàn diện 12 cung

Thầy trò đời trước còn dám nói ngược nhau về một ngôi sao, thì người đời sau càng không nên đóng khung lá số vào vài cung quen mắt.

Kĩ thuật luận đoán thực ra rất đơn giản, trước tiên phải vượt ra khỏi khái niệm "tam phương tứ chính", sau đó phải lưu ý phản ứng giữa các tinh hệ với nhau. Tinh hệ A gặp phải tinh hệ B sẽ xảy ra một số tình hình đặc thù nào đó, đây là căn cứ dùng để luận đoán.

Thông thường khi đối mặt một tinh bàn, người mới học hay mắc một bệnh, đó là xem trọng việc luận đoán "tam phương tứ chính" của "cung mệnh", "cung thiên di", "cung tài bạch", "cung sự nghiệp" một cách thái quá. Mà không quan sát tinh bàn một cách tổng hợp. Bởi vì con người ngày nay phần lớn đều có tâm lí chú trọng vấn đề tiền tài và sự nghiệp, xem đó là ưu tiên hàng đầu.

Nhưng phương pháp luận đoán như vậy rất dễ rơi vào tệ vụn vặt, khiến người ta rất khó lí giải toàn diện sự cao thấp tốt xấu của mệnh cục. Theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi, cần phải tuần tự theo các bước sau đây để quan sát tinh bàn, mới có thể lí giải mệnh vận của mệnh bàn một cách toàn diện.

Các bước luận đoán mệnh bàn

Muốn nhìn đủ mười hai cung mà không rối, phải có thứ tự trước sau, bắt đầu từ ba điều căn bản của người học.

Học "Tử Vi Đẩu Số" thực ra chỉ cần nắm vững ba điều: (1) Phương pháp an sao; (2) Tính chất cơ bản của tinh hệ; (3) Căn cứ vào tinh bàn như thế nào để luận đoán vận trình.

Dưới đây sẽ bàn về điểm sau cùng, mục đích là để tạo hứng thú cho bạn đọc. Bởi vì có rất nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số vẫn không luận đoán được tinh bàn.

Trước tiên xem cung phụ mẫu, rồi xem cung điền trạch

Từ cung phụ mẫu và điền trạch, bạn có thể luận đoán xuất thân của người đó, và mức độ được hưởng sự che chở của cha mẹ. Như vậy, đến khi quan sát cung mệnh mới có thể quyết định người này thích nghi với vận thế sáng lập sự nghiệp, "tay trắng làm nên", hay là thích nghi với vận thế giữ gìn, bảo thủ cái đã có.

Điểm này rất trọng yếu, bởi vì, giả dụ một người có cung phụ mẫu và cung điền trạch đều rất tốt, nhưng khi trong tinh bàn lại hiện rõ vận trình "tay trắng làm nên", điều này chứng minh gia đình của người này rất có thể xảy ra một lần suy sụp. Ngược lại, nếu cung phụ mẫu và cung điền trạch của người đó đều xấu, liên tiếp hai ba vận trình đều có tính bảo thủ, không có sự đột phá, thì rất khó luận đoán người này có cơ hội tốt để xoay chuyển hoàn cảnh.

Đồng thời quan sát cung mệnh và cung phúc đức

Thông thường, sao hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung mệnh, là vận trình khá thực chất, như hưởng thụ vật chất, tài phú nhiều ít, sự nghiệp thuận lợi hay trở ngại. Còn sự hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung phúc đức là hưởng thụ về hoạt động tinh thần và tư tưởng của một người.

Nếu tính chất của hai cung vị đều tốt, người này đương nhiên chẳng có gì bất lợi, hơn nữa còn có thể luận, nhất định họ có một gia đình tốt; trái lại, nếu cung mệnh rất tốt, nhưng cung phúc đức lại khá tệ, như vậy cần phải chú ý, hôn nhân của họ có thể không như ý; hay có khả năng họ chỉ dựa vào may mắn mà giàu có, nên sự hưởng thụ tinh thần của họ chẳng cao thượng; hoặc cảnh ngộ của người đó tuy khá tốt, nhưng bị bệnh tật đeo đẳng.

Căn cứ vào sự quan sát hai hạng mục trên để tìm ra cung nào có điểm đặc biệt đáng chú ý

Nếu nghi ngờ người đó hôn nhân bất lợi, thì cần phải kiểm tra cung phu thê; nghi ngờ người đó mắc bệnh mạn tính khó khỏi, thì cần phải kiểm tra cung tật ách; nhất định phải tìm ra một số tinh hệ từ tinh bàn, đủ để giải thích tính chất phối hợp của cung mệnh và cung phúc đức, sau đó mới có thể đưa ra luận đoán.

Dưới đây chúng tôi xin đưa ra một ví dụ thực tế:

Tinh bàn nữ mệnh: cung mệnh Thiên Cơ Hóa Khoa, Thái Âm Hóa Lộc, cung phúc đức Cự Môn Hóa Kị

Đây là tinh bàn của một nữ mệnh. Cung mệnh Thiên Cơ Hóa Khoa, Thái Âm Hóa Lộc, hội Thiên Đồng Hóa Quyền ở cung tài bạch, là "Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội", trong Đẩu Số là một kết cấu rất tốt. Nhưng cung phúc đức có Cự Môn Hóa Kị; hội hợp với cung phu thê gặp hai sao đào hoa Hồng Loan, Hàm Trì; đối cung (tức cung tài bạch) lại gặp Thiên Diêu. Tinh hệ có kết cấu dạng này biểu thị khả năng do sinh hoạt hôn nhân gây nên sự đau khổ tinh thần, vì vậy cần phải kiểm tra tổ hợp sao ở cung phu thê.

Thái Dương, Lộc Tồn tọa thủ cung phu thê, chồng chẳng nghèo. Nhưng hội hợp Cự Môn Hóa Kị, xấu nhất còn hội hợp Thiên Lương, Thiên Hình, thêm sao Hỏa Tinh ở đối cung (tức cung sự nghiệp). Tổ hợp tinh hệ này biểu thị không có duyên vợ chồng.

Nhưng "không có duyên vợ chồng" có tới mấy loại tính chất. Ví dụ như phu thê không cùng chí hướng; gặp nhau ít mà xa nhau nhiều; chồng có tình nhân bên ngoài; chồng mắc nhiều bệnh, v. v.... Muốn quyết định thuộc loại tính chất nào, chỉ xem 12 cung của mệnh bàn không cách nào giải quyết được, mà cần phải xem đại vận và lưu niên.

Căn cứ tình hình của các cung để luận đoán vận hạn

Xem xét vận thế của đại hạn và lưu niên, thường thường có thể bổ sung cho luận đoán và có cái nhìn tinh bàn một cách tổng hợp. Như trong ví dụ trên, chúng ta chỉ cần xem xét mỗi một đại hạn của cung phu thê, là có thể đưa ra luận đoán chuẩn xác.

Đại hạn Canh Tuất từ 25-34 tuổi, cung Tuất biến thành cung mệnh của đại hạn, cho nên cung Mậu Thân (vốn là cung mệnh của nguyên cục, tức thiên bàn) biến thành cung phu thê của đại hạn.

Sao Lộc Tồn của đại hạn bay vào cung phu thê (tức "Lưu Lộc", bởi vì Lộc Tồn của đại hạn Canh Tuất ở cung Thân), nhưng đồng thời cũng có Lưu Dương và Lưu Đà của đại vận giáp cung (gọi tắt là Vận Dương và Vận Đà).

Tinh bàn đại hạn Canh Tuất 25-34 tuổi, cung phu thê có Vận Lộc, Vận Dương và Vận Đà giáp cung

Tham khảo thiên bàn ở trên, cung phu thê của nguyên cục cũng có hiện tượng Kình Dương, Đà La giáp cung, thấy khéo trùng hợp, nhưng khéo trùng hợp như vậy nhất định có lí lẽ của nó. Vả lại, cung phu thê của đại vận còn hội hợp Thiên Đồng Hóa Kị (nguyên cục là Hóa Quyền), lại thêm Cự Môn Hóa Kị ở cung mệnh của đại hạn đối nhau với Thiên Đồng Hóa Kị, do đó có thể khẳng định, trong đại hạn này vợ chồng ắt có vấn đề.

Xem xét tiếp, thì phát hiện vào năm Quý Hợi (1983) cung phu thê của lưu niên có vấn đề lớn.

Tinh bàn lưu niên Quý Hợi, cung phu thê ở Dậu có Tử Vi, Tham Lang Hóa Kị và Vận Dương

Cung phu thê của lưu niên ở cung Dậu, "Tử Vi, Tham Lang" tọa thủ, nhưng Tham Lang Hóa Kị vào năm Quý, đồng thời có Lưu Dương của đại vận (gọi tắt là "Vận Dương") đồng cung. Sát diệu hội hợp là Đà La của cung Tị, Lưu Dương (lưu niên) của cung Sửu, cho tới các sao Vũ Khúc, Phá Quân, Liêm Trinh, Thất Sát. Kết cấu tinh hệ kiểu này có tính chất là "không có niềm vui gia đình", xấu nhất chính là "Lưu Dương của lưu niên" xung động "Lưu Dương của đại vận", đồng thời xung khởi Hóa Kị của tinh hệ "Tử Vi, Tham Lang". Do đó luận đoán sơ bộ là, sinh hoạt vợ chồng của người này hoàn toàn không hòa hợp. Sau khi hỏi thăm thì biết năm Quý Hợi kết hôn, sau khi kết hôn được một tháng thì chồng bị mắc chứng rối loạn khả năng tính dục.

Kiểm tra cung tật ách của người chồng thì thấy "Thiên Cơ, Thái Âm" tọa thủ, có Linh Tinh và Đà La đồng cung, hội hợp Thiên Lương và Văn Xương Hóa Kị. Đồng thời "tam phương tứ chính" lại có các sao đào hoa Đại Hao, Hàm Trì, Hồng Loan, còn có thêm Âm Sát. Tổ hợp tinh hệ dạng này, theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi, là thuộc chứng quá túng dục mà dẫn đến âm phận hư tổn. Có thể luận đoán, thời kì trước hôn nhân người này đã rất trác táng. Vì vậy Vương Đình Chi đề nghị người chồng nên tìm một vị lương y trứ danh để chữa trị, dưỡng âm bồi nguyên khí, kết quả đầu năm Ất Sửu (1985), đôi vợ chồng nọ đến tìm Vương Đình Chi để cảm ơn vì đã cứu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của họ.

Tinh bàn của người chồng, cung tật ách có Thiên Cơ, Thái Âm, Linh Tinh, Đà La, Đại Hao, Âm Sát

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái