Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Bảy nhóm bệnh trong cung Tật Ách và tinh hệ ứng nghiệm

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202626 phút đọc0 lượt đọc
Bảy nhóm bệnh trong cung Tật Ách và tinh hệ ứng nghiệm

Một người được đoán là sa tử cung, không sinh nở được, rốt cuộc lại mắc một chứng bệnh hiếm đến mức cổ nhân chưa để lại cách đoán. Từ thần kinh, tiêu hóa, tuần hoàn đến ngũ quan và phụ khoa, mỗi nhóm bệnh có những tinh hệ riêng làm điềm tượng, nhưng thời điểm phát bệnh lại nằm ở một cung hạn khác...


CÙNG MỘT NHÓM SAO Ở NGUYÊN CỤC, PHẢI ĐỢI ĐẾN ĐÚNG CUNG HẠN TẬT ÁCH MỚI PHÁT BỆNH, VÀ NGUYÊN TẮC ĐƠN GIẢN ẤY NHIỀU DANH GIA ĐẨU SỐ VẪN KHÔNG BIẾT. Vương Đình Chi xếp các chứng bệnh thành bảy nhóm lớn, từ hệ thần kinh, tiêu hóa, tuần hoàn, hô hấp, tiết niệu sinh dục, đến ngũ quan và phụ khoa, rồi chỉ ra tinh hệ làm điềm tượng cho từng chứng. Đây là bảng tra cứu người luận tật ách nên tự lập cho mình.

Nguyên tắc luận bệnh theo nhóm tinh hệ

Phần này liệt kê theo từng nhóm bệnh, rồi kể ra các tinh hệ có thể gây ra những bệnh ấy. Hễ tinh hệ nào nằm ở cung mệnh, cung Tật Ách (có lúc bệnh thuộc hệ thần kinh và bệnh mạn tính lại ứng nghiệm ở cung Phúc Đức), bất kể ở lưu niên, ở đại hạn, hay ở tinh bàn nguyên cục, đều có thể ứng nghiệm.

Về nguyên tắc luận đoán, vẫn phải chú ý tính chất của cung Tật Ách. Ví dụ Tham Lang có kèm sát tinh thủ cung Tật Ách, tính chất có thể là bệnh gan, cũng có thể là bệnh thận; đến đại hạn, cung hạn Tật Ách gặp "Liêm Trinh, Thiên Tướng", mà Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", đây là điềm tượng chủ bệnh thận hoặc bệnh về tính dục. Vì Tham Lang ở nguyên cục có tính chất chủ bệnh thận, nên đến đại hạn này thì ứng nghiệm. Các tinh hệ thuật dưới đây thông thường đều phải gặp các sao sát, kị, hình, hao mới đúng, và xem các sao hội hợp cát hung nhiều ít thế nào mà định bệnh tình.

Sau đó tra các lưu niên trong đại hạn này sẽ tìm ra năm phát bệnh. Nguyên tắc luận đoán này nói ra nghe thật đơn giản, nhưng nhiều danh gia Đẩu Số còn không biết. Người đọc có thể dựa vào nguyên tắc này để thực tập; kinh nghiệm ngày càng phong phú thì ắt sẽ có thành tựu.

Nhóm 1: Bệnh hệ thần kinh

Nhóm bệnh đầu tiên không nằm ở tạng phủ nào cụ thể, mà ở những sợi dây mảnh điều khiển cả thân người.

Các tổ hợp sao chủ yếu là Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng. Cũng có thể nói tổ hợp "Cơ Nguyệt Đồng Lương" rất dễ bị bệnh liên quan đến hệ thần kinh, như suy nhược thần kinh, tâm thần, thiểu năng trí tuệ...

Nhiều lúc bệnh mang tính suy nhược thần kinh có liên quan tới Thiên Đồng, Cự Môn. Nếu "Tử Vi, Tham Lang" thủ cung Tật Ách, gặp sao đào hoa quá nặng thì lúc đến đại hạn "Cơ Nguyệt Đồng Lương" thủ cung Tật Ách, thường dễ mắc chứng bệnh này, biểu hiện là dương nuy, di tinh, xuất tinh sớm. Ở đây không cần xem Cự Môn.

Người bị bệnh tâm thần chủ yếu xem Thiên Cơ, Đông y gọi là "can phong".

Nếu "Thiên Cơ, Thái Âm" đồng cung với Hỏa Tinh, Đà La, còn gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, là rối loạn tâm thần kinh (hysteria), thường có biểu hiện kích động, cử chỉ thất thường. Nhưng phải hội Thiên Lương và có Thái Dương không nhập miếu tương chiếu thì mới ứng nghiệm.

Bệnh viêm não Nhật Bản B, một bệnh nhiễm trùng thần kinh cấp tính gây tổn thương não nặng nề do virus truyền qua muỗi, cũng có liên quan với tinh hệ "Cơ Nguyệt Đồng Lương": năm phát bệnh là cung hạn Tật Ách có Thiên Lương lạc hãm, hội chiếu Hỏa Tinh, Linh Tinh, Phi Liêm, Âm Sát. Nhóm tinh hệ này khác với nhóm tinh hệ chủ bệnh "hysteria", cần thận trọng phân biệt.

Tinh hệ chủ viêm màng não đại khái tương tự với tinh hệ chủ viêm não Nhật Bản B, chỉ khác nhau một điểm là Thái Dương nhập miếu; nếu Thái Dương lạc hãm thì phần nhiều là viêm não Nhật Bản B. Thời gian ứng nghiệm thường là lúc cung hạn Tật Ách là Thất Sát hoặc Phá Quân; Thất Sát thường chủ chứng viêm, Phá Quân chủ chứng viêm cấp tính.

Chứng miệng méo, miệng chảy nước dãi (không phải do trúng phong) thì xem các tinh hệ chủ bệnh ở tạng thận. Có lúc cung Tật Ách của nguyên cục là Tham Lang, niên hạn ứng nghiệm là lúc cung hạn Tật Ách là "Thiên Cơ, Thái Âm"; có lúc ngược lại, nguyên cục là "Thiên Cơ, Thái Âm", thời kì ứng nghiệm là cung hạn Tham Lang. Đây là một ví dụ.

Hai chứng này nếu gặp nhiều tạp diệu như Thiên Hư, Thiên Sứ, Thiên Diêu thì phải lưu ý.

Trong số các bệnh hệ thần kinh có "bệnh rỗng tủy sống" (syringomyelia), một bệnh mạn tính của ống tủy khi trong tủy hình thành dần những nang chứa dịch, xem "Thiên Đồng, Cự Môn" và "Thất Sát, Phá Quân". Người bệnh thường cảm thấy tay chân tê, không có cảm giác; nghiêm trọng thì các ngón tay ngón chân có thể bị co quắp, hoặc tê liệt phần mặt. Cổ nhân cho rằng Thất Sát, Phá Quân là sao chủ tổn thương, tàn tật, nguyên nhân có liên quan đến chứng bệnh này.

Ngoài ra còn có bệnh múa tay múa chân (St. Vitus's dance): người bệnh không tự kiểm soát được hoạt động của chân tay, thường có một số động tác nhanh không tự chủ, có lúc thì mắt nháy giật, nhíu mày, lè lưỡi; bệnh tình tuy không đau nhưng rất phiền phức. Tinh hệ chủ chứng này là Tham Lang đồng cung với Địa Không, Địa Kiếp, lại gặp thêm Kình Dương, Thiên Sứ; có lúc là Thiên Đồng Hóa Kị đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh. Địa Không, Địa Kiếp đồng cung cũng chủ chứng này, nhưng cung Tật Ách của nguyên cục phải là Kình Dương ở cung Ngọ, đó cũng là một nhân tố quan trọng chủ chứng bệnh này.

Đau dây thần kinh tam thoa (dây thần kinh sinh ba), tinh hệ chủ yếu là Thái Dương, Thiên Lương, có Hỏa Tinh, Linh Tinh hội chiếu hoặc đồng độ, lại gặp thêm Thiên Thương, còn có Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn" hội chiếu cung mệnh, đều chủ chứng bệnh này.

Tinh hệ chủ tê liệt thần kinh mặt và tinh hệ chủ đau dây thần kinh tam thoa rất khó phân biệt. Điều cần chú ý là, Kình Dương phần nhiều chủ tê liệt thần kinh mặt, tinh hệ ứng nghiệm phát bệnh phần nhiều là Thiên Cơ; còn đau dây thần kinh tam thoa thì không phải vậy.

Bệnh thiên đầu thống (đau nửa đầu) mang tính thần kinh thì xem Thiên Đồng, Thiên Lương; tạp diệu hội hợp phần nhiều đều có Thiên Nguyệt, Thiên Hình. Có lúc "Thiên Cơ, Cự Môn" đồng cung với Hỏa Tinh cũng chủ bệnh xuất huyết não, khác với bệnh thần kinh đơn thuần; chỗ phân biệt chủ yếu là "Thiên Cơ, Cự Môn" có biểu hiện choáng ngất.

Nếu "Thiên Cơ, Cự Môn" mà Thiên Cơ Hóa Kị, còn gặp thêm Thiên Hư, thì càng ứng nghiệm.

Bệnh tay chân run mang tính thần kinh thì xem "Thiên Đồng, Cự Môn", cũng có quan hệ với Đà La và Cô Thần.

Bệnh tay chân run do trúng độc thì xem "Thái Dương, Thiên Lương", có Thiên Nguyệt cùng bay đến thì càng đúng. Trúng độc cũng có thể gây ra chứng tắc ruột, thời kì ứng nghiệm phải xem cung hạn Cự Môn.

Viêm da mang tính thần kinh là tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Tướng", thời kì ứng nghiệm ắt cung hạn phải gặp Thiên Cơ, Thiên Đồng.

Nhóm 2: Bệnh hệ tiêu hóa

Rời những sợi dây thần kinh, nhóm thứ hai đi dọc con đường của thức ăn, từ dạ dày qua ruột tới gan mật.

Cơ quan thuộc hệ tiêu hóa gồm trường (ruột), vị (dạ dày), can (gan), đảm (mật). Theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, có thể phân chia như sau.

Vị hàn, thõng dạ dày (sa bao tử) thì xem Thiên Phủ thuộc loại "kho lộ", "kho trống", hoặc Tử Vi là "tại dã cô quân"; nhưng không được có Hỏa Tinh đồng độ mới đúng, có Hỏa Tinh thì chuyển hóa thành chứng viêm.

Nếu "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ cung Tật Ách thì thường là vị hàn, buồn nôn, hoặc tiêu chảy thuộc chứng hàn. Thiên Phủ đồng cung với Hữu Bật phần nhiều là thõng dạ dày (sa bao tử).

Chứng vị hàn cũng có thể là chứng dạ dày dư acid, các sao ứng nghiệm là Thiên Phủ gặp Thiên Thương, Phá Toái, Âm Sát; gặp Liêm Trinh Hóa Kị thì rất nghiêm trọng, có thể phát triển thành chứng đau thần kinh dạ dày, thần kinh dạ dày quá mẫn cảm.

Nếu là viêm dạ dày thì xem Thiên Cơ hoặc Cự Môn. Thiên Cơ thì chủ bệnh mạn tính, thường còn chủ đau gan. Cự Môn đồng cung với Hỏa Tinh thì chủ viêm dạ dày cấp tính, hay viêm đại tràng cấp tính. Nếu "Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ, nguy cơ bị viêm dạ dày hay viêm đại tràng rất lớn; có sao lộc thì giảm nhẹ, không có sao lộc mà còn Hóa Kị thì càng nặng thêm. Nhưng nếu có lộc thì thường chủ bệnh trường vị bất hòa, mức độ nhẹ thì viêm dạ dày mạn tính. Bệnh viêm ruột thừa cấp tính thì xem Thiên Lương, Kình Dương; Thất Sát, Kình Dương; hoặc Phá Quân, Kình Dương. Trường hợp sau cùng cũng thường chủ viêm ruột kết, viêm đại tràng cấp tính.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ cũng chủ bệnh dạ dày, phần nhiều thuộc chứng hàn. Nếu có Thiên Mã đồng độ, lại gặp thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì phần nhiều là rối loạn tiêu hóa, hoặc tiến triển thành tiêu chảy.

Tử Vi cũng chủ tiêu chảy, nhưng khác tính chất. Tiêu chảy của Tử Vi thông thường là hấp thu không tốt; còn tiêu chảy của "Thiên Đồng, Thiên Lương" là không tiêu hóa được.

Xơ gan thì xem Thiên Cơ, cũng xem Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân, nhưng trường hợp sau phần nhiều là viêm gan siêu vi.

Hễ Thiên Cơ đồng cung với Phi Liêm, gặp các sao sát, kị, còn gặp thêm các sao hư, hao, Thiên Nguyệt, phần nhiều chủ gan nhiễm ấu trùng (Clonorchiasis, sán lá gan) dẫn đến xơ hóa.

Nếu xơ gan do ống mật tắc nghẽn gây ra thì xem Thiên Tướng, có Đà La đồng độ thì càng đúng.

Ống mật tắc nghẽn thường do sỏi mật gây ra, tinh hệ ứng nghiệm là "Liêm Trinh, Thiên Tướng" đối nhau với Phá Quân có sát tinh đồng độ.

Giun chui ống mật (gây nên sỏi mật), ngoài Thiên Tướng, Đà La, còn phải xem Phi Liêm. Hễ bệnh liên quan đến ấu trùng, giun, đều phải xem Phi Liêm, Thiên Nguyệt.

Có lúc Cự Môn cũng chủ bệnh túi mật, thì vẫn lấy cung hạn Thiên Tướng làm thời kì ứng nghiệm, nhất là "Liêm Trinh, Thiên Tướng" thì càng đúng.

Bệnh ở hậu môn chủ yếu xem Thiên Đồng; tạp diệu thì xem Âm Sát, Long Đức, Phá Toái.

Trúng độc đường tiêu hóa khác với trúng độc mang tính thần kinh. Trường hợp sau có thể ví dụ là sử dụng ma túy; trường hợp trước chỉ là ăn uống trúng độc. Cung Tật Ách gặp Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", Thiên Phủ lại không gặp sao lộc, hoặc gặp sao lộc mà đồng thời hội Kình Dương, Đà La, đều cần chú ý vấn đề ẩm thực. Nếu lại gặp Liêm Trinh Hóa Kị thì càng phải đề phòng độc tố trong thức ăn nhiễm vào máu.

Nhóm 3: Bệnh hệ tuần hoàn

Từ đường ruột đi lên, dòng máu và nhịp tim là nơi Thái Dương, vầng mặt trời của thân thể, đứng ra làm chủ.

Nhóm bệnh này chủ yếu là bệnh tim mạch, huyết áp; phần nhiều xem Thái Dương, kế đến là Thiên Tướng.

Nhưng bệnh hệ tuần hoàn có khi do bệnh hệ thần kinh gây ra, Đông y gọi là "tâm thận bất giao", hoặc suy nhược thần kinh, có thể dẫn đến tâm thần phân liệt, nhịp tim rối loạn; các chứng bệnh này lại không liên quan tới Thái Dương hoặc Thiên Tướng. Có thể tham khảo nhóm bệnh hệ thần kinh đã thuật ở trên.

Thái Dương ở cung vượng, lại gặp Quyền Lộc, cũng có thể chủ huyết áp cao, không nhất định phải gặp sát tinh mới đúng.

Thái Dương Hóa Kị, hoặc Thái Dương có tứ sát tinh giao hội, cũng là điềm tượng huyết áp cao. Nếu là tổ hợp "Thái Dương, Cự Môn" thì càng đúng.

"Thái Dương, Thiên Lương" cũng chủ trúng phong, bại liệt. Vì Thiên Lương có tính chất bệnh kinh niên. Tinh hệ này cũng thường gặp các sao Thiên Nguyệt, Thiên Hình hội hợp.

Thiên Tướng chủ thận, cho nên lúc Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", hoặc có các sao hung sát trùng trùng giao hội, cũng chủ huyết áp cao, cũng có thể là đau tim. Nếu cung Tật Ách của nguyên cục có khuynh hướng chủ bệnh hệ thần kinh, lúc đến niên hạn Thái Dương thủ cung Tật Ách cũng dễ bị chứng huyết áp cao.

Còn chứng huyết áp thấp có liên quan đến hệ nội tiết, cũng xem tinh hệ "Thái Dương, Thiên Lương", nhưng thường có Địa Không, Địa Kiếp hội hợp. Một tinh hệ quan trọng khác là "Thái Dương, Thái Âm": hễ có chứng trạng âm dương bất hòa thì cũng là rối loạn nội tiết.

Cự Môn đồng độ với Đà La, hội Thái Dương có sát tinh, có lúc chủ đau thắt ngực (angina pectoris), xơ vữa động mạch; nhưng cũng có thể là bán thân bất toại, tức trúng phong (tai biến mạch máu não).

"Thiên Đồng, Thiên Lương" cũng chủ đau thắt ngực; nếu hội các sao hình, kị thì chủ tắc nghẽn cơ tim, tắc nghẽn mạch máu.

Bệnh hệ tuần hoàn cũng bao gồm các chứng thiếu máu, tăng bạch cầu; các chứng này thì xem Liêm Trinh. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, có các sao ác sát tụ hội, thì chứng bệnh nghiêm trọng.

Nếu do trúng độc gây ra thiếu máu thì vẫn xem Thiên Lương, hoặc vẫn xem tinh hệ "Thái Dương, Thái Âm".

Thiếu tiểu cầu thì da có thể bị bầm tím; chứng bệnh này lấy Thiên Đồng Hóa Kị làm điềm tượng. Có lúc Thái Dương Hóa Kị ở nguyên cục, có Âm Sát đồng độ, niên hạn ứng nghiệm là lúc đến cung hạn Tật Ách Thiên Đồng Hóa Kị, gặp các sao sát, hình; hoặc Thiên Đồng của nguyên cục Hóa Kị, niên hạn ứng nghiệm là lúc đến cung hạn Tật Ách Liêm Trinh đồng cung với Âm Sát. Nhưng hai trường hợp có sự khác biệt tinh tế: y học gọi trường hợp sau là da bị bầm tím có tính mẫn cảm, không liên quan tới tình trạng thiếu tiểu cầu.

Nhóm 4: Bệnh hệ hô hấp

Máu chảy trong mạch thì hơi thở đi qua phổi, và nơi đó thuộc về kim tinh Vũ Khúc.

Nhóm bệnh này chủ yếu xem Vũ Khúc, kế đến là Thiên Đồng. Nếu Thất Sát, Phá Quân hội hợp với các sao sát, kị, nhất là Vũ Khúc Hóa Kị, thì bệnh tình nghiêm trọng, hoặc bị ác tính.

Nhưng cũng có một số bệnh chứng không liên quan đến các tinh hệ chủ bệnh đường hô hấp như đã thuật ở trên; như hen suyễn, thường xem Thái Âm, Thiên Lương; nếu là hen suyễn có tính bẩm sinh thì xem "Liêm Trinh, Thất Sát". Trường hợp trước là bệnh ở ống phế quản, trường hợp sau là bệnh dị ứng bẩm sinh.

Nếu là bệnh viêm ống phế quản cấp tính thì lấy tinh hệ Vũ Khúc gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh làm ứng nghiệm; có Thiên Mã cùng bay đến thì bệnh tình càng nghiêm trọng. Bệnh viêm ống phế quản mạn tính cũng có thể xem Vũ Khúc; nhưng nếu do ngoại vật xâm nhập lâu ngày mà gây ra bệnh, như người hút thuốc, công nhân ở công xưởng có nhiều bụi, thì xem Thiên Đồng, Cự Môn; có các sao sát, kị tụ tập có thể phát triển thành bệnh tràn khí phổi (khí phế thũng).

Ho gà thì lấy Thiên Lương làm điềm tượng; nhất là tinh hệ "Thiên Đồng, Thiên Lương" gặp sát tinh, có Thiên Mã, phần nhiều chủ bệnh ho gà. Khác với tắc nghẽn cơ tim là tinh hệ "Thiên Đồng, Thiên Lương" gặp sát tinh mà không có Thiên Mã.

Lao phổi (phổi kết hạch) thì xem "Liêm Trinh, Thất Sát", hoặc "Vũ Khúc, Thất Sát". Nếu nguyên cục gặp tinh hệ này, đến đại hạn hoặc lưu niên gặp cung hạn Tật Ách Thái Âm Hóa Kị, hội Hỏa Tinh, Linh Tinh, là bệnh tình nghiêm trọng, thường phát triển đến giai đoạn cuối.

Bệnh tràn khí phổi cũng xem Vũ Khúc: nếu Vũ Khúc Hóa Kị, bị Liêm Trinh Hóa Kị của cung hạn xung hội, lại gặp các sao Thiên Hình, Thiên Nguyệt, Âm Sát thì ứng nghiệm.

Một nhóm sao khác chủ bệnh tràn khí phổi là Phá Quân đồng cung với Văn Khúc Hóa Kị. Còn Vũ Khúc Hóa Kị đồng cung với Văn Khúc Hóa Kị thì chủ bị kéo đàm, hen suyễn.

Nếu bệnh ở cổ họng, thông thường là viêm amiđan, xem Cự Môn, Hóa Kị thì càng đúng. Nếu là bệnh bạch hầu thì xem tình hình Thái Âm và Cự Môn xung hội; nếu các sao sát, kị trùng trùng thì ứng nghiệm. Nếu là bệnh viêm họng thì lấy Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao làm biểu trưng.

Nhóm 5: Bệnh hệ tiết niệu, cơ quan sinh dục

Đi xuống dưới cùng của thân thể là hệ thủy đạo, nơi Thiên Đồng, Thiên Tướng và Liêm Trinh chia nhau cai quản.

Nhóm bệnh này xem Thiên Đồng, Thiên Tướng, Liêm Trinh. Nếu bệnh tình phát triển đến giai đoạn cuối, nhất là những bệnh có tính viêm, thì xem Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Hễ viêm thận cấp tính hay mạn tính, phần nhiều đều lấy Liêm Trinh làm ứng nghiệm. Nếu Liêm Trinh gặp Tham Lang đồng độ hoặc vây chiếu, có sát tinh; hoặc Liêm Trinh Hóa Kị, có sát tinh, đều chủ viêm thận.

Nhưng nếu viêm thận do hệ sinh dục bị nhiễm trùng gây nên thì không gặp Tham Lang cũng ứng nghiệm. Ví dụ như "Liêm Trinh, Thiên Tướng" bị Kình Dương và Đà La giáp cung, Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, hay "Hình kị giáp ấn", đều có thể mắc bệnh nhiễm trùng này.

Nếu bệnh viêm thận phát triển đến giai đoạn mặt bị thũng, hoặc thậm chí ngực hay bụng giữ nước, thì lấy niên hạn cung Tật Ách gặp Thiên Đồng, Thái Âm và các sao sát, kị làm thời kì ứng nghiệm.

Bệnh bàng quang làm khó tiểu tiện thì xem Thiên Tướng, trường hợp đồng cung với Đà La là đúng. Nếu do bệnh tuyến tiền liệt gây tiểu tiện khó thì lấy Tham Lang, Liêm Trinh làm ứng nghiệm. "Hỏa Tham", "Linh Tham" đồng độ với Đà La càng chủ bệnh này.

Niệu đạo kết sỏi, sỏi bàng quang thì xem "Liêm Trinh, Thiên Tướng", lấy trường hợp bị Kình Dương, Đà La giáp cung, hay "Hình kị giáp ấn" là đúng. Có lúc "Thiên Đồng, Cự Môn" Hóa Lộc bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung cũng chủ các bệnh này. "Thiên Đồng, Cự Môn" chủ bệnh ở đường ống, niệu đạo kết sỏi cũng có thể gây tiểu tiện khó.

Bệnh tiểu tiện khó trái ngược với bệnh đái tháo nhạt, là tiểu ra quá nhiều nước. Chứng đái tháo nhạt, Đông y cho rằng do thận hư, vì vậy xem Thái Âm, Thiên Đồng. Nhưng cũng do thùy thể sau não phân tiết thất thường mà gây ra, thì lấy Thái Dương Hóa Kị, hội Cự Môn và các sát tinh làm ứng nghiệm.

Còn các bệnh về tính dục liên quan đến hệ tiết niệu đều xem Tham Lang, Liêm Trinh, lấy trường hợp gặp các sao đào hoa và Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị làm ứng nghiệm. Thời kì ứng nghiệm có khi kéo dài đến lúc gặp niên hạn Thiên Đồng thủ cung Tật Ách mới phát tác. Hoặc ngược lại, cung Tật Ách của nguyên cục gặp Thiên Đồng, đến niên hạn "Tham Lang, Liêm Trinh" thủ cung Tật Ách mới phát tác. Hai nhóm tinh hệ này cũng có sự phân biệt: trường hợp trước là do thể chất dễ nhiễm bệnh về tính dục, trường hợp sau là thể chất dễ bị nhiễm bệnh hệ tiết niệu.

Cho nên các bệnh như thoát vị bẹn, sa đì, viêm tinh hoàn cũng xem Thiên Đồng có các sao sát, kị, hình hội hợp là chứng viêm; Thiên Đồng có Địa Không, Địa Kiếp hội hợp, lại gặp Hoa Cái, phần nhiều là thoát vị bẹn, sa đì.

Tiểu đường cũng có thể xem là bệnh hệ tiết niệu, lấy "Liêm Trinh, Thiên Tướng" làm điềm tượng. Nhóm tinh hệ này dù gặp sao lộc cũng không thể xem là tránh được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nếu nguyên cục là "Liêm Trinh, Thiên Tướng", mà Liêm Trinh Hóa Lộc (có lúc còn hội Lộc Tồn), thường ở đại hạn Liêm Trinh lại gặp Lưu Lộc thì phát bệnh. Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa không đại biểu cho việc tránh mắc bệnh, đây là một ví dụ.

Nhóm 6: Bệnh ở ngũ quan

Cuối cùng là mắt, tai, mũi, miệng, những cửa sổ của thân thể, nơi bệnh bên trong thường lộ ra bên ngoài.

Bệnh ở ngũ quan rất phức tạp, thông thường là do nội tạng phát bệnh mà dẫn đến. Đẩu Số nghiên cứu về bệnh tật, cổ nhân để lại tư liệu chứng nghiệm không nhiều. Vương Đình Chi tuy có nỗ lực nghiên cứu bổ sung, nhưng do thời gian và kiến thức y học đều có giới hạn, nên tư liệu chứng nghiệm về bệnh tật ở ngũ quan càng không được đầy đủ. Đông y giải thích bệnh tật ở ngũ quan chỉ căn cứ lí luận âm dương ngũ hành và lí thuyết tạng phủ, thực ra không đủ để từ đó luận đoán ra nhiều bệnh tật ở ngũ quan. Ví dụ như mắt bị cườm nước (glaucoma), rất khó tìm ra tinh hệ chính xác tuyệt đối. Vương Đình Chi kể ông từng tình cờ gặp một trường hợp Thái Dương lạc hãm Hóa Kị mà mắt bị cườm nước, nhưng trước đó ông cũng từng gặp một người bị mù mắt vì bệnh cườm nước mà cung Tật Ách lại là Thiên Lương. Vì vậy Vương Đình Chi đề nghị xem các sao Thái Dương, Thiên Lương, Cự Môn là điềm tượng chủ các bệnh về mắt, để người đọc tham khảo.

Viêm giác mạc mắt là Thái Dương gặp sát tinh, hoặc Thái Dương đồng cung với Hỏa Tinh. Chứng bệnh này lấy trường hợp Thái Dương Hóa Quyền hay Hóa Lộc làm ứng nghiệm. Nếu gặp các sao Kình Dương, Thiên Hình, Thiên Sứ, mà Thái Dương hóa làm sao kị, sẽ chủ phẫu thuật ở bộ phận mắt; nhẹ thì viêm thần kinh thị giác.

Mắt mù do bệnh tiểu đường gây ra thì xem "Liêm Trinh, Thiên Tướng". Nếu do nguyên nhân khác gây ra thì vẫn xem Thái Dương, hoặc Thiên Đồng, Thái Âm.

Thiên Đồng, Thái Âm chủ thận, gây ra bệnh mắt là do tạng thận gây ra. Vì vậy thận khí hư thường sẽ bị chứng ruồi bay trước mắt, cũng lấy nhóm tinh hệ này làm ứng nghiệm.

Bệnh tai, các nhà Đẩu Số cổ đại chỉ xem Thất Sát; nếu có Long Trì đồng độ sẽ chủ tai điếc.

Nếu do thận hư gây ra bệnh ở lỗ tai, tai ù, thì có thể dùng tinh hệ chủ bệnh thận để luận đoán, như tinh hệ Thái Âm.

Nhưng nếu là bệnh viêm tai giữa, theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi thì "Vũ Khúc, Thiên Tướng" có Hỏa Tinh hội hợp hoặc vây chiếu thường chủ chứng bệnh này.

Viêm họng lấy Cự Môn làm ứng nghiệm, và cũng xem Thiên Đồng, Thái Âm.

Khoang miệng thường bị lở, miệng lưỡi bị rát bỏng, thì lấy Cự Môn Hóa Kị làm điềm tượng.

Đau răng thì xem Phá Quân, Vũ Khúc. Sâu răng thì xem Thiên Tướng có bị sát tinh giáp cung hoặc hội chiếu hay không.

Chảy máu mũi thì xem Liêm Trinh, không cần Hóa Kị; gặp sát tinh và Âm Sát là chủ dễ bị chảy máu mũi.

Mũi dị ứng và viêm mũi thì lấy "Liêm Trinh, Thất Sát", và Liêm Trinh hội Phá Quân có kèm sát tinh làm điềm tượng.

Nhóm 7: Bệnh phụ khoa

Nhóm bệnh sau cùng dành riêng cho nữ mệnh, cũng là nhóm mà cổ nhân để lại lời lẽ mơ hồ nhất.

Các sao chủ bệnh phụ khoa, cổ nhân tương truyền là Liêm Trinh và Tham Lang; các sao khác như Tử Vi, "Thái Âm, Thiên Cơ", Thiên Đồng, Thiên Tướng, Phá Quân cũng chủ đau bụng kinh, huyết trắng, nhưng ý nghĩa trùng lặp, phân biệt giới hạn không rõ, cho nên lúc luận đoán hơi chung chung.

Luận đoán đặc biệt như Thiên Lương đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh chủ bệnh ung thư vú, mức độ chính xác rất cao. Theo chứng nghiệm của Vương Đình Chi, nếu Tham Lang Hóa Kị xung hội Liêm Trinh Hóa Kị hoặc Vũ Khúc Hóa Kị, đồng thời còn gặp Kình Dương, Đà La xung chiếu, thì chủ tử cung hoặc ống dẫn trứng có khối u, độ chính xác cũng cao. Nhưng đáng tiếc những chứng nghiệm như vậy không nhiều, vẫn còn chờ nghiên cứu thêm. Ở đây chỉ thuật một số nguyên tắc rất có giới hạn.

Bệnh phụ khoa thường gặp nhất là đau bụng kinh. Nếu không kèm bị viêm thì có thể là Thiên Tướng, có lúc là "Tử Vi, Thiên Tướng"; nếu kèm bị viêm là Tham Lang. Nếu ở hai cung Tị hoặc Ngọ mà gặp sát tinh thì chủ lệch tử cung, nội mạc tử cung bị dị dạng bẩm sinh.

Nếu kinh nguyệt không điều hòa và ra máu nhiều thì xem Thiên Đồng, hoặc "Thiên Cơ, Thái Âm". Trường hợp tính chất của Thiên Đồng là ôn hòa thì không kèm bệnh biến, gọi là "xuất huyết có tính cơ năng". Nếu "Thiên Cơ, Thái Âm" gặp sát tinh sẽ chủ bệnh biến, nếu nghiêm trọng có thể là sa tử cung.

Bệnh sa tử cung cũng gặp ở trường hợp Thiên Tướng thủ cung Tật Ách, gặp các sao đào hoa và Thiên Hư, Địa Không, Địa Kiếp. Phần nhiều là do sau khi sinh cơ thể hư nhược gây ra.

Nếu viêm nội mạc tử cung, viêm ống dẫn trứng, thì lấy Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ là điềm tượng; nếu có Kình Dương đồng độ, lại gặp Hàm Trì, Đại Hao, nhất là gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì càng chính xác.

Hai sao Liêm Trinh, Thiên Cơ chủ bệnh kín của phụ nữ, phần nhiều là kinh nguyệt khô ít, hoặc huyết trắng (bạch đới), còn kèm bị viêm âm đạo.

Nhưng nếu đã gặp tinh hệ chủ bị viêm, mà đến niên hạn có các sao Thiên Tướng, Đà La, Âm Sát, Thiên Hình, Thiên Nguyệt, Thiên Đức thủ cung Tật Ách, thường thường có thể phát triển thành khối u, hoặc ung thư. Có lúc đến niên hạn Vũ Khúc Hóa Kị thủ cung Tật Ách cũng chủ ứng nghiệm.

Lúc Phá Quân thủ cung Tật Ách thì bệnh tình rất là nghiêm trọng, nhất là hội hợp với Vũ Khúc Hóa Kị, lại gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, tạp diệu thì gặp các sao hư, hao, hình, nguyệt, phần nhiều chủ ung thư cổ tử cung, nhưng hiện tượng bề ngoài chỉ là ra huyết trắng.

Nếu viêm âm đạo do nhiễm trùng thì cần chú ý Phi Liêm.

Viêm tuyến vú thì xem Thiên Lương, cần chú ý xem có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ hay không, có thì bệnh tình có thể phát triển thành ác tính.

Phụ nữ mang thai thì lấy trường hợp cung mệnh, cung Phúc Đức, hoặc cung Phu Thê gặp Hồng Loan, Thiên Hỉ làm nguyên tắc luận đoán. Nếu lưu niên gặp Lưu Xương, Lưu Khúc hội chiếu, cung Tử Nữ của lưu niên cát lợi, thì có thể mẹ tròn con vuông. Nhưng nếu cung Tử Nữ của nguyên cục gặp Thiên Đồng, Thái Âm, mà một sao hóa làm sao kị, lại gặp sao không và các sao Hoa Cái, Âm Sát, Thiên Sứ, Thiên Hư, Đại Hao, thì có thể không sinh đẻ. Lúc này cung Tật Ách ắt cũng sẽ có điềm tượng, có thể hiển thị bệnh biến về tính dục bẩm sinh, hoặc bệnh biến về tính dục hậu thiên. Hai tinh hệ Tham Lang và "Thiên Cơ, Thái Âm" ở hai cung Tị hoặc Ngọ là điềm tượng dị dạng bẩm sinh. Có thể bổ cứu là Thiên Tướng, nhưng nếu Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, hay Kình Dương và Đà La giáp cung, thì cũng có thể bị dị dạng bẩm sinh.

Bảy nhóm bệnh chứng thuật ở trên chưa được toàn diện, còn rất nhiều chứng bệnh thiếu chứng nghiệm. Vương Đình Chi kể ông từng gặp một trường hợp, đoán là bị sa tử cung, không sinh nở được, nhưng rốt cuộc lại là một chứng bệnh rất hiếm gặp gọi là chứng "thạch nữ": người phụ nữ không thể giao hợp bình thường dù vẫn có những đặc trưng thông thường của phụ nữ, do đường kinh nguyệt bị dị dạng hay bị tắc nghẽn. Bà ta kết hôn hơn mười năm mà vẫn không thể giao hợp với chồng. Những căn bệnh hiếm gặp như thế, cổ nhân không để lại nguyên tắc luận đoán, ứng nghiệm như thế nào phải do người đời nay tìm tòi nghiên cứu.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái