Bài tổng quan
Sao khắc chế tình dục và các yếu tố xã hội, thời gian chi phối
Gần hai mươi sao dục vọng chưa phải là toàn bộ câu chuyện: bên cạnh chúng, khoa Lý số học còn dựng hẳn một hàng rào sao khắc chế bằng phẩm hạnh, bằng ý chí, thậm chí bằng chính Hóa Kỵ. Và cuối cùng, chính hoàn cảnh xã hội cùng năm tháng mới là kẻ quyết định sau rốt...
Mục lục · 2 phần
Hàng chục ngôi sao đã điểm qua phơi bày một sự thật: dưới con mắt của Lý số học, dục tính là sức đẩy dữ dội, hầu như ai cũng phải mang theo. Nhưng đó mới chỉ là một mặt của đồng tiền. Còn mặt kia là: ham muốn không phải lúc nào cũng được tuôn chảy tự do. Đối diện với đội ngũ sao dâm đông đảo là cả một bức tường gồm những sao lo việc ghìm giữ, ngăn trở. Hơn thế, sách còn công nhận rằng bối cảnh xã hội và dòng thời gian cũng cùng nhau nhào nặn đời sống sinh lý của từng con người.
Hai lực lượng cùng có mặt, một đẩy tới và một kéo lại, chứng tỏ Lý số học không coi con người là cỗ máy sinh học chỉ biết chạy theo bản năng. Sự giằng co giữa thèm muốn và tiết chế mới là chân dung đúng nhất của thế giới nội tâm. Ở đó chẳng ai buông thả tuyệt đối, cũng chẳng ai khổ hạnh tuyệt đối; mỗi người chao đảo ở một điểm nào đó giữa hai cực, và điểm ấy tùy thuộc vào bản chất riêng của lá số.
Các sao ghìm giữ tình dục
Có một điều cần nói rõ ngay từ đầu. Khi các sao dưới đây kìm hãm dục tính, đó không phải là sự diệt dục như của bậc tu hành. Nó chỉ đưa ham muốn của đương số về đúng ngưỡng thông thường của người đời, nằm gọn trong mức đạo đức tối thiểu mà xã hội yêu cầu.
Trước hết là Chủ Tinh, Thiên Phủ và Thái Dương khi sáng sủa. Cả ba đều làm giảm dục tính rất mạnh, vì cùng biểu trưng cho lòng ngay thẳng, nếp đoan chính, sự trung hậu và khí tiết. Chúng cân bằng được các sao tình dục, giữ cho con người khỏi trượt dài vào sa đọa ở một mức đáng kể; sức kiềm chế của ba sao xấp xỉ nhau, chẳng sao nào vượt trội.
Kế đến là Ấn Quang và Thiên Quý, hai sao nói về phẩm hạnh và đức chung thủy, lòng sắt son, chữ tín và sự trung thành. Trong chuyện tình cảm, người mang Quang Quý không sống hai lòng, không mê mới bỏ cũ, không phai nhạt rồi phụ bạc người từng gắn bó. Vì thế khi hai sao này đồng hiện diện cùng các sao tình dục trên một lá số, chúng bớt đi đáng kể phần trăng hoa vốn có của những sao kia.
Thiên Hình mang nghĩa chính trực, thẳng thắn. Trong bản tính của sao này có sự chuyên nhất, mực thước và một ý chí biết chống lại mọi cám dỗ của ái tình. Nếu Ấn Quang, Thiên Quý làm nhẹ dâm tính bằng phẩm hạnh thì Thiên Hình làm nhẹ bằng nghị lực và lý trí; hai lối đi khác nhau nhưng cùng về một đích.
Long Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức và Thiên Đức hợp thành nhóm Tứ Đức, biểu tượng của sự thanh sạch và ý thức đạo lý trong chuyện tình ái. Chính lương tri ấy trở thành sức mạnh ghìm đương số lại khỏi nết sa đọa. Song phải đủ cả bốn Đức thì sức ghìm mới thật vững. Nhìn chung, Tứ Đức chỉ làm dịu được những dâm tính ở hạng tầm thường, còn trước dâm tính nặng như Tham Lang hay Thiên Riêu hãm địa thì gần như bất lực.
Hóa Kỵ là trường hợp đáng chú ý. Khi ngồi chung cung với Liêm Trinh, Tham Lang, Hóa Kỵ chế được cái xấu của cặp sao ấy nói chung, và qua đó kìm luôn dục tính mãnh liệt của Liêm Tham. Một sao vốn tiếng xấu lại đóng vai trò tích cực trong việc tiết chế ham muốn, quả là hiếm thấy. Điều ấy cho thấy Hóa Kỵ, tuy thường bị xếp vào hàng hung tinh ở hầu hết các mặt khác như tài lộc hay sự nghiệp, lại có thể là một lực cản hữu ích khi đứng cạnh những sao dâm mạnh. Đây thêm một bằng chứng cho nguyên lý xuyên suốt của Lý số học: chẳng có sao nào tốt tuyệt đối hay xấu tuyệt đối, tất cả tùy vào hoàn cảnh nó xuất hiện.
Ấn Quang, Thiên Quý, Thiên Hình và Tứ Đức đều ghìm dục tính bằng con đường đạo hạnh, ý chí và luân thường. Song ngoài lối kìm giữ mang sắc thái đạo đức ấy, Lý số học còn một lối khác, thuần túy là cơ chế vận hành, không dính dáng gì đến phẩm hạnh của con người.
Lộc Tồn chỉ tình yêu đến muộn, sinh lý phát lộ có chừng mực, và đồng thời còn hàm ý cô độc trong tình cảm. Đi với Lộc Tồn, các dâm tính khó chi phối được đương số và chậm phát ra ảnh hưởng. Tuy nhiên đừng đồng nhất Lộc Tồn với đoan chính: nó chỉ là chiếc phanh tạm thời trước ái tình, không hề khóa chặt tình tính lại. Sao này tượng trưng cho sự dè dặt, cho việc kén chọn cẩn thận trước lúc yêu, từ đó sinh ra nghĩa mực thước và tự chủ. Cội nguồn của sự mực thước ấy chính là tính khó của Lộc Tồn. Đây là người kén yêu, gian nan trong tình duyên, chỉ yêu đối tượng đã qua sàng lọc kỹ và luôn tính toán trong chuyện tình, chẳng bừa bãi như Tham Lang, Đào Hoa hay Thiên Riêu. Người có Lộc Tồn ít khi yêu bằng con tim và thân xác, mà thiên về yêu bằng khối óc và lý trí; mối tình nào không hợp tiêu chuẩn đã đặt ra thì họ tự chế, tự dè dặt ngay từ bước đầu. Ta có thể hình dung họ như một người giữ của cẩn trọng, không dễ rộng tay chi cho khoản đầu tư nào chưa cân nhắc chín chắn. Đem thái độ đó vào tình cảm, họ chỉ "đầu tư" trái tim cho những đối tượng đã vượt qua sự chọn lọc gắt gao của lý trí, hoàn toàn trái với nét bốc đồng, liều lĩnh của những người mang nhiều sao dâm mạnh.
Triệt và Tuần đều chế được nết dâm đãng khá mạnh, nhưng mỗi sao một cách. Triệt hiệu lực hơn hẳn Tuần, dù chỉ mạnh trong một quãng thời gian nhất định. Đi cùng Triệt, dâm tính gần như mất hết ý nghĩa, không còn sức chi phối hay ảnh hưởng gì lên đương số. Ngược lại, đi cùng Tuần thì dâm tính vẫn sai khiến con người ở mức tương đối vừa phải, kéo dài suốt cuộc đời chứ không đứt hẳn như với Triệt.
Tuần, Triệt là biểu tượng của những trở ngại đến từ bên ngoài. Tình dục chịu sự chi phối của Tuần, Triệt thì thiếu dịp bộc phát tự do, bị nén trong tiềm thức và tư tưởng, không hiện thành hành động cụ thể. Đó là tình dục thiếu môi trường thuận lợi: bị cản trở, gặp ngang trái, bị tranh giành, thất bại liên miên. Theo cách nhìn phân tâm học, đây là dục tính bị dồn nén; Tuần, Triệt như bức tường thành nhốt nó lại, không cho thoát ra một cách tự nhiên.
Mặt khác, các sao tình dục gặp Tuần, Triệt còn có thể mang nghĩa vô duyên và lỡ thì, thứ duyên không ai hay biết, thiếu đủ điều kiện để nên một mối tình trọn vẹn. Dân gian quen gọi đó là cảnh gái già, trai muộn.
Câu hỏi được đặt ra là: dâm tính gặp Tuần, Triệt có đem lại cho đương số sự đoan chính hay không? Thực ra bài toán này không có đáp số cố định. Nó còn tùy vào cường độ của chính sao tình dục đang bị chặn lại. Có ý kiến cho rằng trong trường hợp ấy đương số không còn sa đọa và có thể trở nên chính trực hơn. Tốt nhất, người luận số vẫn cần xét kỹ từng lá số, từng sao cung cụ thể rồi mới đưa ra phán đoán đáng tin, chứ không nên áp một quy tắc chung cho mọi trường hợp. Sự thận trọng này lại nhắc đến tinh thần của cả chương sách: dù Lý số học dựng nên một hệ thống sao tình dục phong phú và tỉ mỉ đến đâu, nó vẫn chừa một khoảng trống cho sự phán đoán tinh tế của người xem số, chứ không biến việc luận đoán thành công thức máy móc, đem áp y hệt cho mọi lá số mà khỏi cần suy xét thêm.
Các yếu tố khác chi phối tình dục
Yếu tố xã hội
Bên cạnh các sao tiết chế còn có những sức ghìm giữ sinh ra từ chính hoàn cảnh xã hội. Muốn đánh giá đời sống tình dục của một người, bao giờ cũng phải để ý đến quan niệm đạo đức của xã hội đương thời về chuyện sinh lý ở cả hai phái. Trong một xã hội đậm nho phong, nơi "nam nữ thụ thụ bất thân" là chuẩn mực, việc trai gái gần nhau đã bị xem là điều đáng hổ thẹn. Dư luận và đạo lý xã hội khiến các khuynh hướng tình dục của cá nhân không được tự do phát lộ; bản năng sinh lý của con người vì vậy ít nhiều bị nén lại. Trong bối cảnh ấy, các sao tình dục chỉ có thể tác động một cách ngầm và kín. Ngay cả các sao trợ tình cũng yếu đi nhiều, trong khi các sao khắc chế dục tình lại càng thêm quyền lực giữa khung cảnh đạo đức khắt khe của thời đó.
Đảo lại, ở một xã hội hiện đại, nơi tình dục được nhìn nhận cởi mở và dễ được thỏa mãn hơn, quan niệm sinh lý của hai phái không còn bị trói vào đạo đức truyền thống như xưa, thì các sao dâm và sao trợ tình tất sẽ bộc phát mạnh theo đúng bản năng. Khi ấy, chính các sao khắc chế dục tình phải lùi bước trước sức mạnh của dâm tính. Do đó, ảnh hưởng thực tế của các sao trong Lý số học phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh xã hội bao quanh đương số, không phải một hằng số bất biến qua mọi thời. Nhận định này đáng chú ý, vì nó cho thấy người biên soạn cũng tự ý thức rằng Lý số học không phải hệ thống khép kín, bất di bất dịch, mà khi ứng dụng luôn phải đối chiếu với bối cảnh văn hóa và đạo đức của từng thời kỳ. Một lá số nhiều sao dâm dục sinh vào đời Tống hẳn sẽ có đời sống tình dục rất khác so với chính lá số đó nếu giả sử sinh ra trong một xã hội phóng khoáng hơn nhiều thế kỷ về sau, dù các con số và vị trí sao trên lá số vẫn y nguyên.
Yếu tố thời gian
Ngoài những ràng buộc do xã hội đặt ra, các sao tình dục còn bị giới hạn bởi chính thời gian. Những sao dâm kể trên, mạnh đến mấy cũng chỉ tác động trong giai đoạn con người còn khỏe khoắn, sung sức. Tuổi càng cao, hiệu lực của chúng càng phải giảm theo đà sa sút của sinh lực mỗi người. Sao tình dục, như mọi ngôi sao khác trên lá số, có một đời sống riêng, lúc thịnh lúc suy, không thể mãi giữ nguyên cường độ ban đầu. Hiểu được lẽ thịnh suy tất yếu ấy, người sáng suốt sẽ không gượng ép một ngôi sao đã tàn theo năm tháng phải hồi sinh để phụng sự bản năng của mình, vì làm vậy vừa nghịch tự nhiên vừa dễ chuốc lấy hậu quả không mong muốn.
Ngoảnh lại toàn chương, từ quan niệm ái tình ở phần mở đầu, qua hai nhóm sao tình dục chung cho cả hai phái, sang nhóm sao dành riêng cho phái nữ, rồi vị trí của các sao ấy trên từng cung, và cuối cùng là hệ thống sao khắc chế cùng các yếu tố xã hội, thời gian vừa bàn, ta thấy Lý số học đã dựng nên một công trình khảo cứu về tình dục con người vừa đồ sộ vừa có hệ thống, hiếm có ở bất kỳ trước tác nào cùng thời. Đó không phải phụ lục qua loa mà là cả một chương riêng, cấu trúc đầy đủ không kém các chương bàn về vận mệnh, công danh hay tài lộc.
Điều đáng suy ngẫm nhất có lẽ là tinh thần quân bình xuyên suốt: hễ dựng lên một hệ thống sao thúc đẩy dục vọng, Lý số học liền dựng thêm một hệ thống đối trọng để ghìm và tiết chế. Sự quân bình ấy rốt cuộc chính là hình ảnh thu nhỏ của đời sống con người, luôn bị xé giữa bản năng và lý trí, giữa khao khát và tiết độ, không bao giờ ngã hẳn về một bên mà luôn tìm cách dung hòa hai cực theo lối riêng của mỗi người.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn)
