Bài tổng quan
Phúc khi lo khi vui khi Thiên Đồng đến Tham Lang ngồi ở cung Phúc Đức
Có người cả đời ung dung nhưng bụng vẫn bận, có người cả đời lắm chuyện nhưng lúc già lại yên. Phúc của mỗi người không giống nhau, và lá số ghi nó bằng từng cặp sao đứng trong cung Phúc Đức. Một sao sát chen vào là cả bức tranh đổi sắc…
Mục lục · 5 phần
- 01Thiên Đồng ở cung Phúc Đức: sao phúc đúng chỗ thì thanh nhàn, sai chỗ thì lắm chuyện
- 02Liêm Trinh ở cung Phúc Đức: càng bận càng có phúc, nhưng dễ vấp vì rượu sắc
- 03Thiên Phủ và Thái Âm ở cung Phúc Đức: phúc dày vì kho đầy, hay vì lòng an
- 04Cự Môn ở cung Phúc Đức: cả đời khẩu thiệt, nhiều lo nhiều sầu
- 05Tham Lang ở cung Phúc Đức: hứng thú rộng, lao tâm vì thú vui và dục vọng
Thiên Đồng ở cung Phúc Đức: sao phúc đúng chỗ thì thanh nhàn, sai chỗ thì lắm chuyện
Thiên Đồng là sao phúc; cái phúc ấy lúc thì là ung dung, lúc thì là khẩu thiệt, và nó đổi sắc theo cặp sao đứng cạnh.
Thiên Đồng cùng Thái Âm ở Tý: cả đời hưởng phúc, yên vui, không lo không nghĩ; mệnh nữ rất đẹp. Có thể làm ủy viên giám sát, có thể thành bác sĩ nổi danh một vùng, luật sư, chuyên gia. Gặp bảy cát tinh thì hiển quý, phú quý, cả đời vui vẻ ung dung. Gặp Dương Nhẫn thì thân thể bị thương. Gặp sáu sát tinh thì bề ngoài nhàn tản nhưng tinh thần bận rộn.
Thiên Đồng cùng Thái Âm ở Ngọ: phiền não bất an; mệnh nữ rất đẹp. Gặp Dương Nhẫn thì người tuổi Bính, tuổi Mậu có thế "ngựa đeo tên", uy trấn biên cương, có phú quý. Gặp sáu sát tinh thì thân thể suy yếu. Gặp bảy cát tinh thì phú quý.
Thiên Đồng cùng Cự Môn ở Sửu, Mùi: cả đời khẩu thiệt thị phi, buồn bực không vui, nhiều lo ít vui, đến tuổi già mới vui vẻ. Gặp Kình Dương, Đà La thì thân thể bị thương, đời sống chăn gối không bình thường, cả đời cay đắng. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường.
Thiên Đồng cùng Thiên Lương ở Dần, Thân: thanh nhàn vui vẻ, sống được cuộc sống nho nhã, có một mối tình đẹp; không sợ hung nguy; mệnh nữ hợp ở vị trí vợ lẽ. Gặp Đà La thì béo phì. Gặp Kình Dương, Đà La thì làm điều trái đạo đức. Gặp Thiên Mã thì phiêu đãng. Gặp sáu sát tinh thì cô độc, chết yểu, trong lòng bận rộn. Gặp bảy cát tinh thì hiển quý, sống được một đời vui vẻ, phúc thọ vẹn toàn.
Thiên Đồng đứng một mình ở Mão, Dậu: cả đời vui vẻ, có phúc có thọ; hợp duyên với người khác giới. Gặp Dương Nhẫn thì thân thể bị thương. Gặp sáu sát tinh thì có một mối tình đau lòng; bề ngoài nhàn tản nhưng tinh thần bận rộn. Gặp bảy cát tinh thì cả đời vui vẻ.
Thiên Đồng đứng một mình ở Thìn, Tuất: cả đời khẩu thiệt thị phi nhiều. Gặp Kình Dương, Đà La thì đời sống chăn gối không bình thường, thân thể bị thương. Gặp sáu sát tinh thì có chuyện đau lòng. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường.
Thiên Đồng đứng một mình ở Tỵ, Hợi: có phúc khí, hưởng cao thọ; rất có duyên với người khác giới; thích cùng bạn bè chia nhau niềm vui sống; mệnh nữ rất đẹp. Gặp Đà La thì béo phì. Gặp sáu sát tinh thì tàn tật, cô độc, hình khắc. Gặp bảy cát tinh thì hiển quý.
Liêm Trinh ở cung Phúc Đức: càng bận càng có phúc, nhưng dễ vấp vì rượu sắc
Liêm Trinh là sao của tình và của kỷ luật; phúc của người ấy nằm trong lúc bận rộn, và tai ương của họ nằm trong cái nết ham vui.
Liêm Trinh cùng Thiên Tướng ở Tý, Ngọ: phúc thọ vẹn toàn; càng bận rộn càng hạnh phúc vui vẻ. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tàn tật, cả đời cay đắng. Gặp Kình Dương thì thị phi nhiều. Gặp Lộc Tồn thì phú quý. Gặp bảy cát tinh thì cả đời vui vẻ, có phú quý.
Liêm Trinh cùng Thất Sát ở Sửu, Mùi: có thể tích ít thành nhiều, trở thành phú ông; có danh tiếng, có mưu lược; lao nhọc mệnh. Gặp sáu sát tinh thì xương sống bị thương, tàn tật, chết yểu; nếu lại gặp Hóa Kỵ thì chết vì tai nạn xe. Gặp Văn Xương thì yêu âm nhạc, có lễ độ. Gặp bảy cát tinh thì tuổi già thuận tâm toại ý.
Liêm Trinh đứng một mình ở Dần, Thân: trong bận rộn có phúc, nên cầu tiến; sẽ phát tài, sẽ nổi danh. Gặp Hỏa Tinh hãm địa cùng các sao Không thì có họa tự hủy hoại thân mình. Gặp Đà La thì có tai ương đổ máu. Gặp sáu sát tinh thì cả đời cay đắng, tuổi già hơi được như ý. Gặp Văn Xương thì yêu âm nhạc, có lễ độ. Gặp Lộc Tồn thì có phú quý. Gặp bảy cát tinh thì trong lúc bận rộn có phúc.
Liêm Trinh cùng Phá Quân ở Mão, Dậu: cay đắng bôn ba, lao tâm tốn sức. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì không có lương tâm. Gặp sáu sát tinh thì làm công chức hoặc dựa nghề khéo mà sống; có kiện tụng, bệnh tật, thị phi nhiều; nếu Dương Nhẫn ở Sửu xung chiếu thì có tai ương lao ngục. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì sợ nước, phải đề phòng nạn nước. Gặp Lộc Tồn thì có phú quý. Gặp bảy cát tinh thì tuổi già hưởng phúc.
Liêm Trinh cùng Tham Lang ở Tỵ, Hợi: phúc mỏng, thân tâm bất an; rượu sắc quá độ làm tổn hại thân thể; lang thang nơi chân trời, thích đến chốn gió trăng; có tai ương lao ngục. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì nhiều hư ít thực, ngoài đẹp trong rỗng. Gặp Lộc Tồn thì có phú quý. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường. Gặp Đà La, Hóa Kỵ thì cô nghèo, hư tướng, tàn tật; nếu Dương Nhẫn ở Dậu xung chiếu thì có tai ương lao ngục. Gặp sáu sát tinh thì mệnh nữ sa vào chốn phong trần, cả đời lao khổ.
Thiên Phủ và Thái Âm ở cung Phúc Đức: phúc dày vì kho đầy, hay vì lòng an
Thiên Phủ cho phúc bằng của ăn của để; Thái Âm cho phúc bằng một đời sống yên tĩnh.
Thiên Phủ cùng Vũ Khúc ở Tý, Ngọ thì đọc theo cặp Vũ Khúc – Thiên Phủ. Cùng Tử Vi ở Dần, Thân thì đọc theo cặp Tử Vi – Thiên Phủ. Cùng Liêm Trinh ở Thìn, Tuất thì đọc theo cặp Liêm Trinh – Thiên Phủ.
Thiên Phủ đứng một mình ở Sửu, Mùi: có phúc khí, sống được những ngày vui; tinh tường chuyện ăn uống. Gặp bảy cát tinh thì tiền và quan đều đẹp, ở nhà cao cấp, làm được chủ quản. Gặp sáu sát tinh thì gian trá, cô lập, lao khổ. Thiên Phủ đứng một mình ở Mão, Dậu và ở Tỵ, Hợi thì giống như ở Sửu, Mùi.
Thái Âm cùng Thiên Đồng ở Tý, Ngọ thì đọc theo cặp Thiên Đồng – Thái Âm. Cùng Thái Dương ở Sửu, Mùi thì đọc theo cặp Thái Dương – Thái Âm. Cùng Thiên Cơ ở Dần, Thân thì đọc theo cặp Thiên Cơ – Thái Âm.
Thái Âm đứng một mình ở Mão, Thìn, Tỵ: lúc lo lúc vui. Gặp sáu sát tinh thì cả đời cay đắng, không được yên, lao nhọc bôn ba, nên sớm rời nhà; hợp dâng thân cho tôn giáo; tay chân thương tật; hành xử theo tình cảm. Gặp bảy cát tinh thì có phúc khí, cả đời vui vẻ.
Thái Âm đứng một mình ở Dậu, Tuất, Hợi: hưởng phúc vui vẻ; thích sống yên tĩnh và nơi yên tĩnh. Gặp bảy cát tinh thì phú quý, thuở trẻ đắc chí, có thể sống như thần tiên. Gặp sáu sát tinh thì có lo có vui.
Cự Môn ở cung Phúc Đức: cả đời khẩu thiệt, nhiều lo nhiều sầu
Cự Môn là sao của lời; cung phúc có nó thì người ấy sống giữa những cuộc tranh luận, thị phi, ít khi có ngày yên.
Cự Môn đứng một mình ở Tý, Ngọ: lao nhọc mệnh, công việc bận rộn nặng nề; tuy phú quý nhưng không lâu dài. Gặp Kình Dương, Đà La thì đời sống chăn gối quá độ và không bình thường. Gặp sáu sát tinh thì cả đời cay đắng, nhiều lo nhiều sầu. Gặp Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, hoặc các sao ấy củng chiếu, thì có phú quý. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì hợp nghiên cứu triết học nhân sinh. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường.
Cự Môn cùng Thiên Đồng ở Sửu, Mùi thì đọc theo cặp Thiên Đồng – Cự Môn. Cùng Thái Dương ở Dần, Thân thì đọc theo cặp Thái Dương – Cự Môn. Cùng Thiên Cơ ở Mão, Dậu thì đọc theo cặp Thiên Cơ – Cự Môn.
Cự Môn đứng một mình ở Thìn, Tuất: cả đời khẩu thiệt thị phi. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì hợp dâng thân cho tôn giáo. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường. Gặp Kình Dương, Đà La thì đời sống chăn gối quá độ và không bình thường. Gặp sáu sát tinh thì cả đời cay đắng, nhiều lo nhiều sầu, không được yên.
Cự Môn đứng một mình ở Tỵ, Hợi: lao tâm lao lực, tuy phú quý nhưng không lâu dài. Gặp Kình Dương, Đà La thì đời sống chăn gối quá độ và không bình thường. Gặp sáu sát tinh thì cả đời cay đắng. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì hợp nghiên cứu triết học nhân sinh. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường.
Tham Lang ở cung Phúc Đức: hứng thú rộng, lao tâm vì thú vui và dục vọng
Tham Lang cho người ta nhiều đam mê; đam mê rộng thì phúc cũng khó yên, và nó đổi nhanh theo từng sao đi cùng.
Tham Lang đứng một mình ở Tý: hứng thú rộng, lao tâm bất an. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì nhiều hư ít thực, ngoài đẹp trong rỗng. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường. Gặp Dương Nhẫn thì người tuổi Bính, tuổi Mậu giàu sang. Gặp sáu sát tinh thì cả đời cay đắng.
Tham Lang đứng một mình ở Ngọ: hứng thú rộng, lao tâm bất an. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì nhiều hư ít thực, ngoài đẹp trong rỗng. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường. Gặp Dương Nhẫn thì hợp làm bác sĩ ngoại khoa, nghề mổ giết. Gặp Linh Tinh thì người tuổi Kỷ vào làm tướng ra làm tướng quốc. Gặp sáu sát tinh thì cả đời cay đắng.
Tham Lang cùng Vũ Khúc ở Sửu, Mùi thì đọc theo cặp Vũ Khúc – Tham Lang. Cùng Tử Vi ở Mão, Dậu thì đọc theo cặp Tử Vi – Tham Lang. Cùng Liêm Trinh ở Tỵ, Hợi thì đọc theo cặp Liêm Trinh – Tham Lang.
Tham Lang đứng một mình ở Dần: đắm mê những thú vui xấu. Gặp Đà La thì vì phạm hình, vì sắc mà rước họa; đời sống chăn gối quá độ, mắc bệnh. Gặp sáu sát tinh thì cả đời cay đắng. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì nhiều hư ít thực, ngoài đẹp trong rỗng. Gặp bảy cát tinh thì phúc khí bình thường.
Tham Lang đứng một mình ở Thìn, Tuất: có phúc khí. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì nhiều hư ít thực, ngoài đẹp trong rỗng. Gặp bảy cát tinh thì thọ như núi Nam. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì có phú quý. Gặp Kình Dương, Đà La thì làm nghề mổ giết. Gặp Địa Không, Địa Kiếp thì biết lỗi biết sửa, đổi mới bản thân.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.
