Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Người nam tuổi Tý, tuổi Sửu: thơ đoán vận và phụ giải

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp01/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Người nam tuổi Tý, tuổi Sửu: thơ đoán vận và phụ giải

Người con trai tuổi Giáp Tý được dặn rằng ai thất đức thì phải sa vào ngục hình, còn ai tu nhân tích đức thì rủi gặp tai nạn cũng có thánh thần hộ cho. Tuổi Canh Tý lại nghe thơ nói chuyện giàu có sớm vào tối ra. Và hai cánh cửa ấy mở ở đâu?


Nam mạng tuổi Tý

Sau phần nữ mạng, sách chuyển sang nam mạng, bắt đầu từ tuổi Tý. Phần đầu mỗi tuổi nay ghi thêm trực, mạng khắc với mạng nào và con nhà đế nào, rồi đến xương, tướng tinh, vị thần độ mạng, bài thơ đoán vận và đoạn phụ giải tổng quát. Sách xếp năm tuổi Tý nam mạng theo thứ tự Mậu, Nhâm, Giáp, Bính, Canh. Cũng như ở phần nữ mạng, mùa sinh và việc sinh ban ngày hay ban đêm vẫn là thước đo thuận số hay lỗi số của từng người.

Mậu Tý

Sinh các năm 1948 đến 2008 và 2068. Cung Càn, trực Mãn, mạng Thích lịch Hỏa là lửa sấm chớp, khắc Thiên thượng Thủy. Con nhà Xích Đế, phú quý. Xương con chuột, tướng tinh con chó sói. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói vốn người cốt cách cang cường, ấy là Mậu Tý, con người đảm đang. Thuận sinh thì được làm quan; cha mẹ vui vẻ, lập đàn ăn chay. Số này phước lớn chẳng vừa, nhờ ơn Trời Phật độ trì là may. Duyên nợ cũng hai đời. Sau này gia đạo cũng được bình yên. Phận xưa lận đận lo phiền, đến khi vận giữa thì tài nguyên tới lần. Sớm hôm lo liệu ân cần, vận sau sẽ thấy tấm thân an nhàn.

Phụ giải: con trai số tuổi Mậu Tý vốn người tính nết cang cường, tháo vát, đảm đương trong ngoài. Nếu thuận sinh ban ngày thì sau có số làm quan; còn ai sinh ban đêm thì thường hay bệnh tật. Người trung trực, sống cuộc đời tự lập, nên gia đình chẳng nhờ cậy ai. Vận trước không khá, vận sau mới tụ tài; từ tuổi 40 trở đi giàu sang phú quý.

Nhâm Tý

Sinh các năm 1912 đến 1972 và 2032. Cung Chấn, trực Chấp, mạng Tang đố Mộc là cây dâu, khắc Ốc thượng Thổ. Con nhà Thanh Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con chuột, tướng tinh con heo. Ông Tử Vi độ mạng. Thơ nói Nhâm Tý số mạng như vầy: phong sương cũng lắm, tha phương cũng nhiều. Số này cách trở quê hương, đi xa xứ khác, tìm nơi sinh phương thì nên nhà. Số phải khắc khẩu với cha mẹ: ở gần thì cắn đắng, đi xa thì buồn. Số này cách trở lương duyên, thay nhà đổi bạn, truân chuyên lắm bề. Chẳng nhờ cốt nhục họ hàng, tự mình lập nghiệp thì cửa nhà mới nên. Tiền vận chẳng yên thân. Nhâm Tý nhờ có quý thần, tu nhân tích đức thì phước trời ban cho.

Phụ giải: tuổi Nhâm Tý người có tài, học ít biết nhiều, nhưng số phải phong trần, nay đây mai đó. Phải xa xứ, xa nhà, lập nghiệp nơi xứ khác mới yên bề gia thất; tự chọn nhân duyên thì mới hạp, cha mẹ không định đoạt được số người. Số khắc mẹ thương cha. Vợ chồng khó ở trọn một đời, có thay đổi thì sau mới thành gia. Số người có căn tu; tiền vận không khá, sau từ 44 tuổi trở đi mới tụ tài.

Giáp Tý

Sinh các năm 1924 đến 1984 và 2044. Cung Chấn, trực Bế, mạng Hải trung Kim là vàng dưới biển, khắc Bình địa Mộc. Con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con chuột, tướng tinh con chó sói. Ông Quan Đế hộ mạng. Thơ mở đầu: luận xem số mạng tuổi này, Giáp Tý số cực, chịu nhiều nổi trôi. Rời quê hương, xa xứ; anh em, cô bác ai giàu nấy ăn. Lỗi sinh phải chịu bơ vơ, cực nhọc, lo lắng tại giờ sinh ra. Số người chết hụt nhiều lần; người nào thất đức thì phải sa vào ngục hình. Tu nhân tích đức thì hiển vinh; rủi bị tai nạn thì thánh thần hộ cho. Số này hậu vận mới no; tiền vận làm có của kho mà chẳng còn.

Phụ giải: tuổi Giáp Tý, số dù giàu hay nghèo thì thân cũng vất vả cực nhọc, ít khi sung sướng. Chỉ trừ người nào thuận sinh vào ban ngày mà mùa thu thì mới gọi là tốt số, được sống cuộc đời vinh hoa phú quý; còn ngoài ra thì vất vả. Số này tính nết bốc đồng, làm việc gì cũng không cần suy tính, có nhiều khi thất bại. Số tuổi hậu vận mới nên gia nghiệp; tiền vận làm giàu rồi cũng hết.

Bính Tý

Sinh các năm 1936 đến 1996 và 2056. Cung Cấn, trực Thành, mạng Giáng hạ Thủy là nước mù sương, khắc Thiên thượng Hỏa. Con nhà Hắc Đế, cô quạnh. Xương con chuột, tướng tinh con rắn. Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Thơ nói luận xem số tuổi mạng này: Bính Tý mạng Thủy, nước đầy tràn sông. Trai mà sinh được thu đông thì như cây gặp nước, như rồng gặp mây. Bính Tý tính hiền lành, có tiền ai hỏi cũng trao đưa liền. Yên rồi thì có kẻ phản phúc tự nhiên; đòi thì không trả, ngược lại còn nghịch. Một thân thất ý đủ điều, nửa lành nửa dữ biết bao nhiêu cho đành. Tới hồi vận giữa thì hiển vinh, căn nguyên tấn phát, môn đình đổi thay. Tuổi già vận đến cùng hay, vinh hoa phú quý, vàng son cửa nhà.

Phụ giải: tuổi Bính Tý, người nào sinh thuận mùa thu và mùa đông thì con người quý tướng, có phần ăn trên ngồi trước thiên hạ. Người có tính hiền lương, lòng dạ tốt, hay thương người nghèo khó. Thân tự lập, chẳng có anh em họ hàng giúp đỡ; tới năm ba mươi tuổi thì bắt đầu vinh hiển, sống cuộc đời đầy hạnh phúc. Càng lớn tuổi càng phát đạt, ấy là số tuổi Bính Tý.

Canh Tý

Sinh các năm 1960 đến 2020 và 2080. Cung Càn, trực Thành, mạng Bích thượng Thổ là đất trên vách, khắc Thiên thượng Thủy. Con nhà Huỳnh Đế, quan lộc, cô quạnh. Xương con chuột, tướng tinh con rắn. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Canh Tý mạng Thổ cung Càn, đất ở đầu vách khó mà tìm ra. Thuở nhỏ vất vả, phiêu lưu; lớn lên lập nghiệp lắm ưu lắm phiền. Số tuổi khẳng khái, đảm đương, thấy mạnh hiếp yếu thì thương mà nhảy vào. Bạc tiền như chiêm bao, giàu có như thế, sớm vào tối ra. Tạo lập lắm của, lắm nhà, mua cất rồi bán, thế là trắng tay. Thấy người yếu thế, cô đơn, có tiền cũng giúp, chẳng cần đền ơn. Số tuổi có chức có quyền, có tay quán xuyến, có quyền khiển binh. Vợ chồng xung khắc, hay rầy rà, thế mà con cháu đầy nhà, phải lo.

Phụ giải: tuổi Canh Tý là người đàn ông không chịu khuất phục kẻ có thế lực, tính tình khẳng khái, ăn nói đứng đắn. Nếu sinh vào mùa đông thì cuộc đời sung sướng, quyền cao chức trọng. Số này tuổi và mạng có khắc cho nên lận đận lúc nhỏ, trở về sau thì được giàu sang. Số tay trắng tạo nên sự nghiệp, sau nhờ con cái. Số trai hiếu thảo với cha mẹ, số có chân tu, nên ăn chay mỗi tháng sáu hoặc mười ngày thì tốt.

Nam mạng tuổi Sửu

Tuổi Sửu theo sau tuổi Tý. Sách vẫn ghi mỗi tuổi theo thứ tự cũ: năm sinh, cung, trực, mạng, con nhà đế nào, xương, tướng tinh, vị thần độ mạng, thơ đoán vận và phụ giải. Năm tuổi Sửu nam mạng được xếp theo thứ tự Tân, Kỷ, Đinh, Ất, Quý.

Với người con trai tuổi Sửu, thơ thường nhắc chuyện chết hụt thuở nhỏ và chuyện phải lập nghiệp phương xa.

Tân Sửu

Sinh các năm 1961 đến 2021 và 2081. Cung Đoài, trực Thâu, mạng Bích thượng Thổ là đất trên vách, khắc Thiên thượng Thủy. Con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con trâu, tướng tinh con đười ươi. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Tân Sửu mạng Thổ, số cùng với mạng lắm lần khắc khe. Vận thời dời đổi, ngả nghiêng; nhiều phen lận đận, lắm lần gian nan. Nếu sinh mùa hạ thì gặp may, thanh nhàn thong thả, ít ai dám sánh. Số này nhiều khi chết hụt, nhờ ơn Trời Phật, không thì mạng mong manh. Anh em, cha mẹ hai dòng; nếu không thì chồng vợ long đong đôi bà. Nếu không thay vợ đổi nhà thì cuộc đời luôn chịu vui nhiều buồn mai. Cho hay số ở thiên tài, tu nhân tích đức thì phước nhờ về sau.

Phụ giải: người có số tuổi này, bản thân bất thường, trời sinh quả là người khôn ngoan. Số có nhiều người thương mến, nhưng số và mạng có khắc cho nên tuổi nhỏ có chết hụt nhiều lần, nhờ hồng phúc của Trời Phật mà tai nạn được qua khỏi. Thuận sinh vào mùa đông, lúc ban đêm thì quý; sinh ban ngày thì cực khổ. Số phải phiêu bạc giang hồ, lập nghiệp ở phương xa thì mới nên nghiệp. Số phải lấy vợ ít nhất hai lần, sau mới bền duyên tơ tóc.

Kỷ Sửu

Sinh các năm 1949 đến 2009 và 2069. Cung Đoài, trực Bình, mạng Thích lịch Hỏa là lửa sấm chớp, khắc Thiên thượng Thủy, phú quý. Xương con trâu, tướng tinh con cú. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Kỷ Sửu số mạng như lửa trời chớp nhoáng, có ngày cũng tan. Số người mạng Hỏa tương sinh, làm ăn thuận lợi, công danh dễ dàng. Thu đông xung khắc, chẳng yên; phải phòng người phụ phúc, mưu toan hại mình. Chớ có tranh tụng, hiểm nguy; ở đời nhịn nhục, nhẹ thì cho ta. Anh em nghịch ý chẳng hòa, ở gần gây gổ, đi xa nhớ hoài. Số tuổi sau có đất điền, ruộng vườn mua sắm, của tiền làm ra. Đầu tiên làm chẳng được yên; hậu vận có của, làm ăn mới bền.

Phụ giải: số mạng của tuổi Kỷ Sửu này, con người tính hiền hậu, thông minh hơn người; thành bại trong cuộc đời có nhiều nỗi gian lao ở tiền vận. Nhưng số tài vượng lão lai, hậu vận khá tốt. Người lại có căn tu. Nếu sinh nhằm ban ngày mà được nhằm mùa hạ và mùa thu thì có số sang quý, sau có cơ nghiệp, vợ con có hạnh phúc. Số lại nhờ vợ chứ sau chẳng nhờ con.

Đinh Sửu

Sinh các năm 1937 đến 1997 và 2057. Cung Ly, trực Thâu, mạng Giáng hạ Thủy là nước mù sương, khắc Thiên thượng Hỏa. Con nhà Hắc Đế, cô quạnh. Xương con trâu, tướng tinh con giun. Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Thơ nói Đinh Sửu số mạng như giang hà, là nước chảy dài ra sông. Trai mà sinh thuận thu đông; mùa hạ là lỗi, làm không nên trò. Số như nổi sóng lênh đênh, đầu đội tay xách, vác cày lùa trâu. Sinh ra nhiều lúc hiểm nghèo, tưởng chết thuở nhỏ, lúc mới sinh. Số này quyền tước công danh, không thầy cũng thợ mới đành số ta. Tuổi này tính nết thật thà, giận thì nói dữ nhưng lòng vị tha. Đầu tiên làm có của kho; nhiều lần làm khá, hiệp rồi lại tan.

Phụ giải: số tuổi Đinh Sửu có thể gọi là cao số vì được tam sinh, có long thần chiếu mạng. Số lập nghiệp nhiều lần, làm ăn như diều gặp gió. Con đường sự nghiệp khá vẻ vang, số có quyền cao chức trọng, nhưng lận đận ở tuổi nhỏ, phải muộn màng về lương duyên thì mới tốt. Tính hiền, trí sáng, hiếu thảo với cha mẹ. Số có căn tu và trường thọ.

Ất Sửu

Sinh các năm 1925 đến 1985 và 2045. Cung Tốn, trực Kiến, mạng Hải trung Kim là vàng dưới biển, khắc Bình địa Mộc. Con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con trâu, tướng tinh con chó. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Ất Sửu số mạng cuộc đời, bà con hàng họ chẳng nhờ chẳng trông. Anh em xung khắc chẳng gần; người dưng giúp đỡ thì thích mà thân cũng chẳng nhờ. Phụng thờ của quý có duyên, lợi danh được chút hão huyền mà thôi. Tính người chân chất thật thà, làm ơn cho bạn. Bạc tiền trợ giúp, bạn hỏi vay, yên rồi thì lấy dao trở tay đâm mình. Bụng người cũng có tính linh, nghĩ ai thì có thiệt tình chẳng sai. Số phải tu niệm ăn chay, không thì khổ não, bị mang giam cầm.

Phụ giải: số tuổi này có phần lận đận. Sống cuộc đời như gió đông tuyết lạnh chảy, không có anh em họ hàng giúp đỡ, tự tay làm nên gia nghiệp, tức bạch thủ thành gia. Số phải chịu sự khổ não nhiều bề, có chí tang bồng hồ thỉ, phiêu lưu nơi xứ lạ quê người, hầu quên sự khổ tâm. Vợ chồng cũng bất hòa. Số về già mới được thanh nhàn, chỉ trừ người nào sinh vào mùa thu và mùa đông là thuận phú quý, trung vận đã giàu có rồi.

Quý Sửu

Sinh các năm 1913 đến 1973 và 2033. Cung Càn, nhưng phần phụ giải lại ghi cung Tốn; trực Phá, mạng Tang đố Mộc là cây dâu, khắc Ốc thượng Thổ. Con nhà Thanh Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con trâu, tướng tinh con cua biển. Ông Tử Vi độ mạng. Thơ nói số này lúc nhỏ gian nan, lao tâm khổ trí, vui chiều buồn mai. Thân phải chịu lao đao; tình duyên trở ngại, bằng không thì đổi dời. Số người thân tự lập thân, tha phương cầu thực thì gia môn an hòa. Họ hàng như thể người xa, cũng như giá lạnh đêm đông điêu tàn. Lúc nhỏ chẳng được an thân; hậu vận phú túc, gia môn an hòa. Mùa xuân mới được thảnh thơi, thanh nhàn sung sướng, đố ai sánh bằng.

Phụ giải: tuổi Quý Sửu này cung Tốn mạng Mộc, cho nên sinh vào mùa thu thì phải chịu vất vả lênh đênh, vận mạng có đổi dời; dù rằng có ăn nhưng phải lo hoài. Chỉ thuận vào mùa đông thì về sau phú túc; sinh ban ngày là thuận, ban đêm là nghịch số. Số có bôn ba mà cũng chẳng thành. Bà con cốt nhục chẳng ai giúp đỡ, một mình thân tự lập thân ở phương xa; trở về hậu vận sẽ được yên ổn, gia môn mới an hòa. Tình duyên có trắc trở nhưng số con đông.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp