Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Người nam tuổi Thìn, tuổi Tỵ: thơ đoán vận và phụ giải

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp01/10/202613 phút đọc1 lượt đọc
Người nam tuổi Thìn, tuổi Tỵ: thơ đoán vận và phụ giải

Người tuổi Canh Thìn hễ giàu thì giàu hơn người, còn nghèo thì nghèo xác xơ, chứ không có lưng chừng. Người tuổi Ất Tỵ thì thơ báo trước, nếu kém phước đức, lớn lên cũng có ngày bị cầm giam. Còn ai trong họ nghe được linh tính báo trước chuyện lành dữ?


Nam mạng tuổi Thìn

Tuổi Thìn theo sau tuổi Mẹo trong phần nam mạng. Sách vẫn ghi mỗi tuổi theo thứ tự cũ: năm sinh, cung, trực, mạng, con nhà đế nào, xương, tướng tinh, vị thần độ mạng, rồi thơ đoán vận và đoạn phụ giải tổng quát. Năm tuổi Thìn nam mạng được xếp theo thứ tự Nhâm, Giáp, Canh, Mậu, Bính.

Nhâm Thìn

Sinh các năm 1952 đến 2012 và 2072. Cung Chấn, trực Kiến, mạng Trường lưu Thủy là nước chảy dài, khắc Thiên thượng Hỏa. Con nhà Hắc Đế, trường mạng. Xương con rồng, tướng tinh con chó sói. Ông Tử Vi độ mạng. Thơ nói Nhâm Thìn số mạng như là Trường lưu mạng Thủy, chảy hoài luôn luôn. Lỗi số xuân hạ phải buồn; giàu sang cũng mệt, khổ thân, cực hoài. Thu đông sinh được thời may, như cá gặp nước, như rồng gặp mây. Đàn ông thuận số can Nhâm: số người quyền tước, không thì cũng ông. Được sinh là số tự trời, nhờ Trời Phật độ mới toàn mạng. Số phải đợi vận làm giàu; hạn quá bốn mươi chín thì lên cao lần lần. Phước dư, trời báo thiện nhân; thọ khương, phú hậu, duyên xuân một nhà.

Phụ giải: số này là số giàu có nhưng thể xác không được sung sướng. Chỉ trừ người nào sinh thuận mùa đông và mùa thu thì cuộc đời gặp may nhiều rủi ít; khi thuận mùa sinh thì đời lên như diều gặp gió. Có câu nam Nhâm nữ Quý: đàn ông can Nhâm thì phần đông được tốt số; hơn nữa nếu sinh vào ban ngày thì dễ nuôi, hậu vận lại được vinh hiển. Tính tình của tuổi Nhâm Thìn là người cương trực, ngay thẳng mà hiền lương. Số lúc nhỏ vất vả, lớn lên có vợ giàu sang; tuổi từ 49 thì giàu có ít ai sánh kịp. Nhân duyên lại có phần trắc trở, hai lần thay đổi sau mới yên nhà.

Giáp Thìn

Sinh các năm 1904 đến 1964 và 2024. Cung Càn, trực Phá, mạng Phúc đăng Hỏa là lửa đèn nhỏ, khắc Xoa xuyến Kim. Con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con rồng, tướng tinh con rắn. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Giáp Thìn số mạng may thay: tuổi cùng với mạng hợp hòa, thuận sinh. Thu đông sinh ra thì khổ hèn; xuân hạ sinh được như đèn sáng trưng. Trai thì vui vẻ, đào hoa, tính hiền hậu, không hay gian tà. Thuận sinh sung sướng biết bao; lỗi số cực nhọc gian lao lắm lần. Ví như cờ bạc đánh thua, về nhà lo lắng như cua gãy càng. Số này trước ngắn sau dài; vợ chồng thay đổi ba lần mới yên. Số phải tu niệm ăn chay thì sống lâu, hưởng phước lộc trời ban cho.

Phụ giải: Giáp Thìn là số người may mắn, vì tuổi và mạng tương sinh cho nên cao số, làm ăn có quý nhân giúp đỡ. Số này không giàu thì cũng sang, lại được trường thọ và có số đào hoa, cho nên phải nhiều lần thay đổi vợ chồng mới thành gia thất, ít lắm cũng ba lần. Phần đông thì tài lộc đủ dùng, trở về già mới được hiển vinh. Nếu có tu niệm thì phước lộc được tặng thêm. Sau này con cái đông đủ, lại được nhờ. Số có chân tu, nên cữ ăn thịt chó, mèo, ngựa, rùa; nên dùng trai lạt mỗi tháng sáu hoặc mười ngày là tốt.

Canh Thìn

Sinh các năm 1940 đến 2000 và 2060. Cung Càn, trực Bình, mạng Bạch lạp Kim là vàng chân đèn, khắc Phúc đăng Hỏa. Con nhà Bạch Đế, trường mạng. Xương con rồng, tướng tinh con lạc đà. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Canh Thìn là số rất cao, có kẻ đón người đưa rộn ràng. Thuận sinh thì tiếp đãi dạ thưa; hậu vận một cách có thừa, chẳng sai. Mùa xuân lỗi số, đắng cay, mồ hôi nước mắt chảy ròng ròng. Anh em xung khắc chẳng xong; nói ra gây dữ, tự nhiên chẳng hòa. Lớn lên lập nghiệp xứ xa; cô bác có của thì ta không nhờ. Can Canh, can Mậu bơ vơ, tại sinh lỗi số, trật giờ, khổ thân. Thuận sinh sung sướng mười phần; lòng ở ngay thẳng thì thánh thần độ cho.

Phụ giải: người số tuổi Canh Thìn có số hễ giàu thì giàu hơn người, còn ai nghèo thì cũng nghèo xác xơ, chứ không có lưng chừng. Nếu thuận sinh thì làm quan, nhất là người nào sinh vào ban đêm thì được phú quý. Nhưng số này nói chung là khắc vợ khắc con, không ở gần nhau. Nhân duyên cũng trắc trở buổi đầu, khó bề chung thủy. Tuổi từ 40 trở về sau mới được tụ tài. Số có căn tu, nên cữ ăn thịt chó, mèo, rùa, ngựa; nên dùng trai lạt mỗi tháng bảy hoặc mười ngày thì tốt.

Mậu Thìn

Sinh các năm 1928 đến 1988 và 2048. Cung Ly, trực Thâu, mạng Đại lâm Mộc là cây ở rừng, khắc Đại trạch Thổ. Con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con rồng, tướng tinh con quạ. Phật độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: tuổi cùng với mạng thuận hòa, tương sinh. Số như cây trái nở đua, nhưng mà bị khắc vì sinh lỗi mùa. Mùa xuân vượng tướng, phát tài; mùa hạ giàu có muôn ngàn mà cực thân. Anh em cô bác chẳng gần; người dưng giúp đỡ ân cần, độ ta. Tuổi sinh biết được nhiều nghề, phiêu lưu xa xứ, xa quê ông bà. Có tài có đức trong tay. Xuân sinh thất bại, sau này thịnh hưng. Lòng ở ngay thẳng mới hay, Phật Trời dòm ngó, có ngày làm nên.

Phụ giải: số tuổi Mậu Thìn nhờ tuổi và mạng tương sinh, số giàu có mau lẹ, cũng như cây trái trổ bông đua nhau nở. Nhưng nếu ai bị lỗi số sinh thì dù có giàu tiền muôn bạc triệu cũng không nhờ tiền của cha mẹ. Nếu ai sinh nhằm mùa xuân và mùa đông là người quý tướng, sau này làm nên danh phận. Nhưng về đường lương duyên thì rắc rối gian truân, vì mạng lớn và cao số nên tình phải long đong, phải đôi ba dòng con, nhiều vợ.

Bính Thìn

Sinh các năm 1916 đến 1976 và 2036. Cung Chấn, trực Kiến, mạng Sa trung Thổ là đất pha cát, khắc Dương liễu Mộc. Con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con rồng, tướng tinh con chuột. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói Bính Thìn số mạng tuổi này: tuổi cùng với mạng ấy là tương sinh. Số người tính nết hiền lành, đằm thắm, thuận hòa, tương lâu. Mạng may có phước lộc trời; phong sương cũng lắm, gian nan cũng nhiều. Số phải lập nghiệp phương xa, cửa nhà yên ổn, gia môn hiệp hòa. Trung vận làm có của kho nhưng hậu vận mới là hiển vinh. Số này phước lớn mới yên, không thì chết hụt, chết oan đã rồi. Giận ai nói dữ nói nhiều, lòng không độc ác, nói rồi bỏ qua.

Phụ giải: tuổi Bính Thìn là người có nhiều dịp may mắn trong đời, bởi tuổi cùng với mạng tương sinh. Nếu được sinh nhằm ban ngày thì là người có quyền tước lớn, có óc kinh doanh hoặc chỉ huy nhiều người. Người ăn ở có tâm đức, không làm điều gì xằng bậy, hiền lương, siêng năng, trí sáng. Lúc nhỏ thường gặp cảnh khổ cực, nhưng lớn lên thì được sung sướng; kể từ trung vận sẽ được phát tài, gia đình có hạnh phúc. Số phận lập nghiệp phương xa thì mới khá, sống lâu. Sách ghi số có âm đạo, cho nên kiêng cữ và phải thờ phượng ơn trên thì tốt.

Nam mạng tuổi Tỵ

Tuổi Tỵ theo sau tuổi Thìn. Năm tuổi Tỵ nam mạng được xếp theo thứ tự Quý, Ất, Kỷ, Tân, Đinh, và thơ ở đây nhắc nhiều đến chuyện tu tâm, chuyện cầm giam và linh tính báo trước điều lành dữ.

Quý Tỵ

Sinh các năm 1953 đến 2013 và 2073. Cung Khôn, trực Trừ, mạng Trường lưu Thủy là nước chảy dài, khắc Thiên thượng Hỏa. Con nhà Hắc Đế, trường mạng. Xương con rắn, tướng tinh con chó. Ông Tử Vi độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: Quý Tỵ mạng Thủy, nước tuôn ra vàm. Thu đông thuận số thì sang, giàu nghèo cũng sướng, tấm thân thanh nhàn. Xuân hạ lỗi số, cực thân; hai mùa ấy cũng lỗi, tảo tần gian nan. Số này thân tự lập thân; lộc trời có bởi ông cha để dành. Số được vinh hiển gia đình; bôn ba nào có ích gì, chỉ thêm bồn chồn. Phong trần ngồi những đợi thời. Nam ba mươi tuổi có cơ làm giàu; một mai vận động hanh thông, phong lưu sung sướng trong vòng trần ai.

Phụ giải: số tuổi Quý Tỵ mặc dầu cực khổ lúc nhỏ nhưng số giàu có sớm, năm 30 tuổi trở đi thì có cơ hội làm giàu. Số có được hưởng của cha mẹ để lại, số này nhờ âm đức của tiền nhân mà giàu có, phát đạt sớm. Nhưng tuổi dưới 20 thì phải lưu lạc nhiều nơi. Số người được quý nhân giúp đỡ. Số trường thọ và gia môn yên ổn; sau có vợ cũng là con nhà có gia giáo, và nhờ bên vợ nhiều hơn cha mẹ ruột.

Ất Tỵ

Sinh các năm 1905 đến 1965 và 2025. Cung Khôn, nhưng thơ lại ghi cung Đoài; trực Nguy, mạng Phúc đăng Hỏa là lửa đèn nhỏ, khắc Xoa xuyến Kim. Con nhà Xích Đế, tận khổ. Xương con rắn, tướng tinh con trâu. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Ất Tỵ mạng Hỏa số này, cung Đoài, lửa cháy sáng ngời, tọa đăng. Thu đông lỗi số, khó khăn; hai mùa khác nghịch, có ăn mà lo hoài. Xuân hạ mà được sinh ra thì kẻ hầu người hạ, có đầu bếp sai khiến. Số này tuổi nhỏ gian nan, trở về lớn tuổi có phần an thân. Số người cách trở lương duyên, bằng không thì cũng vợ trong vợ ngoài. Số mạng phước lớn nhờ trời, khỏi bị chết hụt thì cũng cầm giam. Phải nên phước đức tu tâm, Phật Trời hộ độ mới yên gia đình.

Phụ giải: số người tuổi Ất Tỵ lúc nhỏ khó nuôi; dù cho có thuận số cũng bị lo lắng hoài. Chỉ trừ người nào sinh ban đêm thì mới có số thọ trường và quan lộc, nhưng ít số người tuổi nhỏ có bị chết hụt, hay lớn cũng bị tù đày nếu kém phước đức. Số trở về hậu vận, từ 44 tuổi về sau mới tụ tài. Số phải hai dòng con, hoặc vợ đôi chồng ba, chứ không thể một vợ một chồng mà nên nghiệp được. Số người sinh ban ngày thì có tiểu tật, nhưng lại có giác quan thứ sáu, thường hay nghĩ đâu có đó, tâm linh báo trước những điều lành dữ. Số thọ đến 64 tuổi hoặc 87 tuổi, sau chết con cháu đông đủ mặt.

Kỷ Tỵ

Sinh các năm 1929 đến 1989 và 2049. Cung Cấn, trực Khai, mạng Đại lâm Mộc là cây ở rừng lớn, khắc Đại trạch Thổ. Con nhà Thanh Đế, trường mạng. Xương con rắn, tướng tinh con khỉ. Phật độ mạng. Thơ nói Kỷ Tỵ cung Cấn tốt thay, mạng Mộc, cây lớn mọc ngay giữa rừng. Đông xuân thuận số quá chừng, có kẻ tưới nước, vun chân, lâu tàn. Hạ thu là lỗi số của chàng; lỗi sinh cực nhọc nên đành khổ thân. Số người chết hụt mấy lần, quý nhân độ mạng mới hòng khỏi nguy. Hạn xưa vất vả long đong, tới hồi vận cuối mới hòng thịnh hưng. Cuộc đời khó lắm cát tường, không thì vất vả chịu đường lênh đênh. Tạo nên gia nghiệp sau này, nhờ Trời Phật độ có ngày làm nên.

Phụ giải: số tuổi Kỷ Tỵ là người tốt số, nếu sinh được vào mùa xuân và mùa đông là thuận, mà sinh nhằm ban ngày thì mới trọn tốt, tiền vận cũng như hậu vận phú quý. Nhưng số chẳng nhờ được tổ nghiệp hoặc anh em họ hàng. Tay trắng tạo nên cơ nghiệp; số này nhờ âm đức của tiền nhân cho nên phần đông đều có số sung sướng. Người có tính hiền hậu, không tham lam, làm việc gì cũng cố gắng chịu đựng mọi gian khổ, cho nên thành công trên đường đời nhiều mà thất bại thì ít.

Tân Tỵ

Sinh các năm 1941 đến 2001 và 2061. Cung Khôn, trực Định, mạng Bạch lạp Kim là vàng chân đèn, khắc Phúc đăng Hỏa. Con nhà Bạch Đế, trường mạng. Xương con rắn, tướng tinh con hổ. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói số sinh cách trở quê hương, lập nên cơ nghiệp phải hai ba lần. Thành nhân cũng tự lập thân, hai bàn tay trắng tạo nên gia đình. Thuận sinh giàu có đã đành; nghịch sinh như thể con cua gãy càng. Được sinh sung sướng là chàng; lòng ở ngay thẳng thì thánh thần độ cho. Ở cho biết phải biết điều, lòng thành kính Phật ít nhiều cũng có ăn. Sẽ có chức phận, môn đình; không thầy cũng thợ, ít khi bần hàn. Khi trên trời cũng chiều lòng; thai vinh sự nghiệp, thanh nhàn hồi sau.

Phụ giải: số tuổi Tân Tỵ nhờ được của trời cho, vì cha mẹ ăn ở có âm đức nên số không bần cùng; nhờ Trời Phật che chở cho nên gia đình không đến nỗi túng thiếu. Người nào sinh nhằm ban đêm là quý tướng, có chức phận giàu có; còn sinh nhằm ban ngày thì ở mức trung bình. Số phần tha phương lập nghiệp. Dựng thành gia phải đôi ba lần; về sau từ 40 tuổi trở đi mới chắc chắn tụ tài. Vận số truân chuyên lúc nhỏ, về già an nhàn, vinh hoa phú quý, số được nhờ vợ nhờ con.

Đinh Tỵ

Sinh các năm 1917 đến 1977 và 2037. Cung Khôn, trực Trừ, mạng Sa trung Thổ là đất pha cát, khắc Dương liễu Mộc. Con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con rắn, tướng tinh con cú. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: trong tâm thường có tính linh thường thường. Số người khôn khéo mọi đường; nếu mà lỗi số thì thiên đường sầu vương. Có khi mắc phải tai ương; phu thê cắn đắng, đôi phen lỡ đường. Thấy ai thất nghiệp lỡ đường, ai than thở thì thương giúp liền. Nhiều lúc làm có của tiền cũng bị tan rã rời. Bà con thân thích chẳng trông; một tay lập nghiệp, gia môn an hòa. Số này trời đã ban cho; trở về hậu vận mới là thảnh thơi.

Phụ giải: số tuổi Đinh Tỵ, con người lại có giác quan thứ sáu, thường hay nghĩ đâu có đó, linh tính báo trước chuyện may rủi, hoặc ngờ chuyện gì thì trúng. Nếu người nào sinh vào ban đêm mà nhằm vào mùa thu và mùa hạ thì có số lấy vợ giàu có, giàu sang phú quý. Còn sinh ban ngày là lỗi số, lúc nhỏ gian lao cực khổ, thường hay thay đổi bạn. Tình duyên cũng trắc trở, phải hai lần mới yên gia thất; số ít tạo thành sự nghiệp, chứ không nhờ họ hàng. Số thọ đến 78 tuổi nếu có âm đức.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp