Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tả Hữu, Xương Khúc và các sao quý nhân phò trợ

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/20269 phút đọc5 lượt đọc
Tả Hữu, Xương Khúc và các sao quý nhân phò trợ

Đứng đầu các trung tinh là Tả Phụ Hữu Bật, kế đó là cặp Văn Khúc Văn Xương được tôn làm chuẩn mực khoa giáp. Sách gắn mỗi cặp sao quý nhân với một bộ phận cơ thể cụ thể, từ vầng trán, bả vai cho đến...


Bên cạnh mười bốn chính tinh là từng cặp sao phụ tá — mỗi cặp một vai trò riêng: kẻ phò tá quyền uy, người chủ khoa bảng văn chương, kẻ giữ ấn tín binh quyền. Tất cả đều được gắn hẳn vào một bộ phận thân thể để dễ nhận diện tướng mạo.

Tả – Phụ, Hữu – Bật

Tả Phụ thuộc Dương Thổ, ở đông vi tả phương vị, Tả Phụ là phụ trợ. Hữu Bật thuộc âm Thổ, ở tây vi hữu phương vị, Hữu Bật là trợ giúp. Miếu địa Thìn Tuất, Vượng địa Sửu Mùi.

Tả-phụ Hữu-bật là hai sao thuộc Đông Tây phương vị, chuyên đi theo để phò tá tất cả các cách, nhất là đối với bộ Tử Phủ phải cần thiết. Hội với cát tinh thì hóa cát. Gặp hung tinh lại hóa thành hung.

Tả-phụ nên đồng cung với Tử Phủ, Hữu-bật không nên đồng cung với Tử Phủ. Cư ở Thìn Tuất, Tả Phụ nên ở Mệnh, mà Hữu-bật nên ở đối cung, vì Hữu-bật là cô cách. Giáp biên cách phải đúng phương vị, không nên Tả sang Hữu, hay Hữu sang Tả. Cách giáp biên bất kể với chính tinh nào cũng cần đúng phương vị. Đồng cung thời nên ở cùng cát tinh, nếu hội với hung tinh, thời sẽ nhập đảng mà tác họa.

Hữu-bật hội với Thiên-tướng cũng như cách Ngưỡng Tường là hợp cách. Phụ bật cư Mệnh là người khắc khoan, khắc đỉnh nhưng phải xa quê hương đất tổ. Phụ-bật ở nơi miếu địa thời sức phù tá mạnh mẽ gần như chính tinh. Lâm Mệnh Thân là triệu chứng đấu tranh, một đời phúc hậu, cùng Hồng Đào Khôi Việt thời qúy hiển khôn lường.

Cư hay giáp biên ở Quan-lộc cũng hợp cách, là người được sống trong thịnh thời, ở đây Tả-Hữu ví như văn võ ở chốn triều đình. Lâm Tài Bạch hội với song Lộc, thì tiền của như nước triều, hội với Lộc-tồn là chôn vàng cất ngọc. Những vị bậc sĩ, giáo sư, cô mụ hoặc làm thầy tướng số, phù thủy, nếu không có Tả Hữu thì không thể là danh gia được.

Văn – Khúc, Văn – Xương

Còn được gọi là văn quế văn hoa, gọi tắt là quế hoa — bộ đôi văn tinh mà sách xem là chuẩn mực để định khoa giáp.

Văn-xương thuộc Kim là bắc đẩu tinh. Văn-khúc âm Thủy là bắc đẩu tinh. Văn-xương hội với Thái-dương, Thiên-lương, Hóa-lộc, là cách phú qúy song toàn. Cũng như Văn-khúc hội với Thái-âm là hợp cách. Khúc hội với Phá-quân ở cung Ngọ, thời hợp cách hơn hội với Phá-quân ở Tý, vì Tý thuộc thủy, Phá-quân thủy, mà Văn-khúc cũng thủy, nên quá nhiều thủy, không như ở Ngọ, vì Ngọ là thiên thượng hỏa, Văn-xương chủ căn tinh khoa giáp.

Văn-khúc chủ đàn nhạc, nghệ thuật, ca hát, tấu cử Xương-khúc phù tá cho Nhật Nguyệt là hợp cách nhất, dù Nhật Nguyệt hãm địa, với Khúc-xương cũng ví như được sáng ra, nên dù Nhật Nguyệt tuy hãm, nhưng cũng phong túc một đời. Không có sao nào hội với Nhật Nguyệt đắc cách như Khúc-xương, nên ở phú đoán là Âm dương hội Xương-khúc nhi đắc lực. Gia hợp Long Phượng là toàn mỹ.

Nên tùy Mệnh hội với sao nào mà luận, nếu hội với Khôi Việt, Khoa, Long Phượng, toàn văn tinh đoàn thời là bậc học uyên súc, có thể ngồi mà biết thiên hạ sự. Nếu không có Khôi Khoa, mà Khúc cư Mệnh hội với Vũ-khúc, và Phượng Long, Quan, Phúc, Tấu Riêu, là những nhà kiến trúc, nhạc sư, họa sư, hay những đào nương, thành danh thượng thặng, trở nên triệu phú nếu hội với song Lộc (vì song Lộc là phú tinh nhưng cũng là văn tinh).

Nếu Khúc-xương ở nơi lâm tuyền (hãm địa) hội Phượng Long, Tấu Vũ, Dương Đà lại là những thợ mộc, thợ khảm, thợ sơn, thợ rèn, hoặc hành nghề với đồ kim khí nhưng rất khéo tay. Văn-khúc đồng cung với Vũ khúc là cách lưỡng Khúc trùng phùng, thường thiên về võ nghiệp. Hội với Binh Hình, Tướng Ấn, Thái Phong là người bậc nguyên nhung, chấn vệ biên cương, Khúc-xương thủ Mệnh hội với Hỏa-kỵ thường hay bị yểu vong.

Văn-xương thủ Mệnh là người có cặp mắt sáng, về già thường hay phệ bụng. Cũng như Phụ Bật phò tá đắc lực cho người mệnh Thổ Hỏa. Khúc-xương rất hợp cho người Kim Thủy. Khúc-xương cũng như Tả Hữu là sao đứng đầu các trung tinh, ở nơi miếu địa sức phù trợ có thể ví như chính tinh.

Thiên – Khôi, Thiên – Việt

Được tôn là Thiên-ất qúy nhân, cặp sao này gắn liền với khoa trường thi cử — nhưng ứng vào từng bộ phận cơ thể theo một lối tượng hình khá cụ thể.

Thiên-khôi là nam đẩu tinh thuộc Hỏa đới Mộc. Thiên-việt là nam đẩu tinh thuộc Hỏa đới Kim. Miếu địa ở Ngọ Dần. Vượng địa ở Mão Tỵ. Hãm địa ở Hợi Tý Sửu.

Khôi-việt được tôn là Thiên-ất qúy nhân, chủ văn chương khoa giáp. Cư ở Mệnh Thân là cách tọa Qúy hưởng Qúy, thời tính tình thanh khiết, mô phạm, không ưa những điều thị phi bất chính. Hội với Khoa Xương Khúc thì văn tài siêu việt, thông kim bác cổ.

Miếu hay vượng địa rất kỵ sao Không, dù học vấn có khá, nhưng khoa trường cũng lận đận không thể đỗ cao được. Cư nơi hãm địa Hợi Tý Sửu lại cần gặp được Triệt Tuần khắc chế mới học thành, và thi cử đỗ đạt được.

Thủ Mệnh là cách ư gia quốc vi nhân trưởng, dù hãm địa cũng là cách trội vượt hơn những người lân cận. Thiên-khôi tượng ở thân thể là đầu. Ngộ Hình là đầu thường hay có tỳ vết, có sẹo. Thiên-việt là bả vai. Ngộ Hình hay bị so vai, hoặc vai cao vai thấp. Tượng văn, thời Khôi là bằng cấp, mà Việt là cái bút. Tượng đồ vật là búa, rìu, mai, cuốc, dao kéo. Việt thủ Mệnh hãm thời trong mặt đanh mà hơi đen.

Long – Trì, Phượng – Các

Long-trì thuộc Thủy. Phượng-các thuộc Mộc đới Kim. Miếu địa ở Sửu Mùi.

Long Phượng là đài các chi tinh, và cũng là văn diệu, 2 sao này phò tá bộ Nhật Nguyệt, Cơ Lương rất đắc lực. Người tuổi Mão Dậu, Phượng Long đồng cung, Sửu Mùi gặp Qúy Ân, Khôi Hồng là cách nam cận cửu trùng, nữ tác cung phi, khoa trường thời nhất cử thành danh.

Nhập Mệnh thì dáng người khôi ngô, tuấn tú mà vui tươi. Tượng ở người Long-Trì là cái vú. Nên ở nữ Mệnh là có bộ ngực nở nang tươi hồng. Long-trì ngộ Hình Kiếp là ngực lép, thường hay mắc chứng bệnh mụn nhọt, ung thư vú. Phượng-các tượng thân thể là tai. Phượng-các nhập Mệnh là tai to. Nếu ngộ Hình Kiếp là tai bị tỳ vết.

Ở phú có câu: Phượng-Long Mão Dậu đôi miền, vượng thời kim bảng để tên ở đầu. Người tuổi Mão Dậu Phượng Long ở đồng cung Sửu Mùi, nếu gia hội văn tinh là cách đỗ thủ khoa đầu bảng. Không nên lầm mà tìm 2 sao Phượng Long ở cung Mão Dậu, vì Long-trì an thuận ở Thìn, mà Phượng-các an nghịch ở Tuất, không bao giờ ở cung Mão Dậu được, vậy Mão Dậu chính là người tuổi Mão Dậu.

Tam – Thai, Bát – Tọa

Hai sao Thai-Tọa đều thuộc Thổ cả. Miếu địa ở Thìn Tuất Sửu Mùi. Tam-thai là đài các tinh, chủ khoan hòa bệ vệ. Tam-thai là thượng-thai, trung-thai và hạ-thai. Diệc tác tam-năng, diệc xưng tam-giai, hữu xưng thái-giai. Chỉ 3 cấp: Thái-úy, trung Tư-đồ và hạ Tư-không.

Bát-tọa chỉ chiếc xe của 1 vị quan đứng đầu lục tào, ngồi để phân phát các hiệu lệnh, nên cư mệnh địa là tài kiêm văn võ. Thai-tọa ví như các phủ các sở, nên rất hợp với bộ Thai Cáo. Hội với Binh Tướng, là thiên về võ nghiệp.

Tam-thai là tượng nhà cửa gia ốc. Bát-tọa tượng môn hộ (cửa ngõ) và là xe hơi. Ở thân thể Tam-thai tượng trán, Bát-tọa tượng cằm. Cư Mệnh là người có trán vuông, bích lập, như bức tường dựng và cằm nở nang. Ở tướng học người có trán rộng và địa các nở nang, là người có nhiều nhà đất.

Ân – Quang, Thiên – Qúy

Ân-Quang thuộc dương Hỏa. Thiên-qúy dương Thổ. Qúy Ân miếu địa ở Sửu Mùi, chủ may mắn, gặp thời. Hai sao này đóng ở cung nào cũng được sự tốt lành. Được gọi là phúc thiện tinh, vì hội với sao hung cũng không có hại, nên gặp được Qúy Ân là có sự cứu khổn phò nguy.

Qúy Ân hội với Nhật Nguyệt là hợp cách, ví như tăng sức sáng rực rỡ cho Âm Dương. Hội với Cơ Lương, lại như văn diệu, nên người Mộc mệnh, Cơ Lương gặp Quang-Qúy là đắc lực hợp cách. Ở phú có câu: Qúy Ân Mùi Sửu hạn cầu, đường mây nhẹ bước danh cao cửu trùng. Thủ Mệnh thì dáng người cao, thanh tú, thường có bộ qúy mục (mắt qúy, trong sáng mà tâm hồn phúc thiện).

Thai – Phụ, Phong – Cáo

Thai-Phụ thuộc Thổ. Phong-Cáo thuộc Thổ. Hai sao này chỉ bằng sắc ấn tín. Hội với Binh Hình Tướng Ấn, là hợp cách, ví như rìu búa, cờ biển, ấn tín của 1 vị nguyên soái.

Tướng Cáo thủ Mệnh, gia hội Hồng-loan, Hoa-cái, thời thiếu niên tọa chí, là người sớm thành đạt, có uy quyền võ nghiệp, sẽ giữ các quyền chức chính vị, về văn là người quản đốc các nha sở, về lưu trữ thư tịch, hay những ngành chuyên về thăng thưởng, phong tặng huân công.

Thiên-Quan, Thiên-Phúc, Qúy-Nhân

Thiên-Quan thuộc Hỏa. Thiên-Phúc thuộc Thổ. Thục lệ người phương đông hay dán những tấm giấy đỏ, có 4 chữ Thiên Quan tứ phúc, là do tín ngưỡng, lưu truyền từ thời Giới-Tử-Thôi bị đốt cháy trong rừng.

Nên thường gọi là đạo gia chi thần, là thần chuyên ban phúc cho gia đình. Hai thần Thiên Quan qúy nhân (thần của Trời), Thiên Phúc qúy nhân (thần của đất). Thường giáng vào ngày 15 tháng giêng, tức là ngày tết Nguyên Tiêu, tết Giới Tử Thôi.

Nên hai sao Quan Phúc đi với các sao ác sát không có hại, cư ở cung nào là chế khắc giải trừ bớt được tai nạn, hội với sao nào cũng tốt cả, nên được gọi là phúc thiện tinh. Thủ Mệnh là người có lòng từ thiện, chỉ e nữ Mệnh ngộ Hình Kỵ, là người hay thay đổi tính tình, ưa thích đồng bóng không chán, nhất là hội với sao Thiên-Đồng hãm.

Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn