Bài tổng quan
Người nam tuổi Thân, tuổi Dậu: thơ đoán vận và phụ giải
Người tuổi Quý Dậu giàu thì tột đỉnh, còn nghèo thì nghèo xác mồng tơi, không có lưng chừng như các tuổi khác. Người tuổi Giáp Thân nghe thơ nhắc đến cái giếng nước mà ai cũng đồn chẳng sai. Và có ai trong họ tự tay dựng nên nhà cửa?
Mục lục · 2 phần
Nam mạng tuổi Thân
Tuổi Thân theo sau tuổi Mùi trong phần nam mạng. Sách vẫn ghi mỗi tuổi theo thứ tự cũ: năm sinh, cung, trực, mạng, con nhà đế nào, xương, tướng tinh, vị thần độ mạng, rồi thơ đoán vận và đoạn phụ giải tổng quát. Năm tuổi Thân nam mạng được xếp theo thứ tự Nhâm, Mậu, Giáp, Bính, Canh.
Nhâm Thân
Sinh các năm 1932 đến 1992 và 2052. Cung Khôn, trực Nguy, mạng Kiếm phong Kim là vàng trong gươm, khắc Phúc đăng Hỏa. Con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con khỉ, tướng tinh con dê. Ông Tử Vi độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: tuổi cùng với mạng lắm lần gian nan. Tha hương, thân lập lấy thân, tổ tông sản nghiệp khó phần cậy trông. Thuận sinh thì có kẻ rước đưa, ăn trên ngồi trước, bẩm thưa đón chào. Lỗi sinh vất vả biết bao, tay bùn chân lấm, mắt nhòa mồ hôi. Duyên tình phải chịu lôi thôi; anh em phận nấy, khó mà giúp nhau. Có khi gặp hội tao phùng, nhiều phen đổi chất mới xong môn đình. Số này tuổi nhỏ tay không; lớn lên có của, vợ chồng làm nên.
Phụ giải: số các tuổi Nhâm Thân, nếu thuận sinh vào mùa thu và mùa đông, mà nhất là sinh nhằm ban ngày, thì số sang giàu phú quý; còn ai sinh nhằm ban đêm thì lúc nhỏ khó nuôi, về sau mới được thành gia thất. Số có tiểu tật lúc nhỏ, nếu không thì lúc lớn cũng gặp tai nạn rủi ro. Số phần đông trai thì hưởng phần thân giàu sang, mạng số phú quý. Tuổi này lúc nhỏ giàu có nhưng rồi cũng tan, chưa tụ tài được; phải ngoài 40 tuổi thì mới phát đạt.
Mậu Thân
Sinh các năm 1908 đến 1968 và 2028. Cung Khôn, trực Định, mạng Đại trạch Thổ là đất nhà lớn, khắc Thiên thượng Thủy. Con nhà Huỳnh Đế, quan lộc. Xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: số cùng với mạng lắm lần gian truân. Sinh vào các tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; sáu tháng Tỵ, Ngọ thì được thanh nhàn. Số người cốt nhục không hòa, tự tay lập nghiệp mà nên cửa nhà. Tuổi nhỏ chết hụt đôi lần, không thì bệnh tật khổ thân sau này. Đầu tiên có của chẳng yên, nhà cửa nhiều lớp rã tan đổi dời. Tuổi nhỏ cực trí lao tâm; trở về lớn tuổi mới mong thanh nhàn. Số người lại có biệt tài, làm ăn nên cửa bằng bàn tay không.
Phụ giải: tuổi Mậu Thân con người có tài trí giỏi, trước tuổi đã khôn hơn người, nhưng vì cao số nên phải chịu gian truân lúc nhỏ. Về cha mẹ anh em thì chẳng thuận hòa. Dựng cơ nghiệp bằng hai bàn tay trắng. Nếu thuận sinh ban đêm vào mùa thu và mùa đông thì sang quý. Tính nết hiền lương, vui vẻ, khôn ngoan. Số phải lập nghiệp phương xa thì mới khá, nhưng phải thay đổi vợ. Nếu lập gia đình trễ, muộn màng, thì về sau hay.
Giáp Thân
Sinh các năm 1944 đến 2004 và 2064. Cung Khôn, trực Định, mạng Tuyền trung Thủy là nước trong giếng, khắc Thiên thượng Hỏa. Con nhà Hắc Đế, từ tánh, phú quý. Xương con khỉ, tướng tinh con heo. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Giáp Thân mạng Thủy số này, nước ở trong giếng, họ đồn chẳng sai. Thu đông sinh thuận là trai, giàu nghèo cũng sướng, sinh thai được mùa. Xuân hạ là lỗi số sinh, bần cùng vất vả như cua gãy càng. Số này trắc trở nhiều bề; cung thê có khắc, chẳng hề sai ngoa. Tuổi nhỏ khắc mẹ khắc cha; anh em chẳng thuận, chẳng hòa cùng nhau. Nếu mà ăn ở thẳng ngay thì Phật Trời phò hộ, có ngày được yên. Tuổi nhỏ phải chịu gian nan, tưởng đâu chết hụt, chết oan đã rồi. Số này trung vận chẳng yên; hậu vận tiền của giàu sang hơn người.
Phụ giải: số người tuổi Giáp Thân phải là con người sung sướng, dù có nghèo khó nhưng thể xác không cực khổ. Số lúc nhỏ có bị tiểu tật, nếu không cũng bị chết hụt nhiều lần, nhưng nhờ cha mẹ có âm đức cho nên đều qua khỏi. Anh em chẳng hòa thuận. Lúc nhỏ giữ tiền chưa được; giàu có rồi cũng tan biến đi; tuổi ngoài bốn mươi mới tụ tài được. Nhân duyên buổi đầu không thành, về sau mới bền duyên giai ngẫu.
Bính Thân
Sinh các năm 1956 đến 2016 và 2076. Cung Khôn, trực Khai, mạng Sơn hạ Hỏa là lửa dưới núi, khắc Thích lịch Hỏa. Con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con khỉ, tướng tinh con quạ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: Bính Thân mạng Hỏa cung Khôn, rõ ràng. Tuổi sinh xuân hạ gặp thời, giàu nghèo cũng được an nơi thanh nhàn. Thu đông lỗi số chẳng yên; có của cũng cực, lưng mang quần đùi. Hạn xưa chưa được hanh thông, như thuyền trôi dạt không phương bến bờ. Số trời định những bao giờ, tài ba vận mạng chờ ngày phát sinh. Một đời tài sắc phong danh; đến khi vận giữa thì lần lần nối theo. Ra ngoài kẻ quý người yêu; đắc tài đắc lộc, còn nhiều hạn sau.
Phụ giải: tuổi Bính Thân là người có số cao hơn người, dẫu rằng giàu cũng như nghèo đều có cuộc sống an nhàn thảnh thơi. Nếu người nào sinh thuận mùa xuân và mùa thu thì sau này có vợ giàu sang, lại được nhờ bên vợ, cuộc đời phú quý vinh hoa. Trong đời, tuổi Bính Thân ít có bệnh tật hay gặp tai ương; nhờ có quý nhân phò trợ nên gặp nạn rồi cũng qua. Tuổi từ 40 trở đi giàu có lớn, gia đạo an hòa. Số có căn tu nên được hưởng thọ.
Canh Thân
Sinh các năm 1920 đến 1980 và 2040. Cung Cấn, mạng Thạch lựu Mộc là cây lựu đá, khắc Bích thượng Thổ. Con nhà Thanh Đế, cô quạnh. Xương con khỉ, tướng tinh con chó sói. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: bởi vì lỗi số sinh vào ban đêm. Nếu mà sinh được đông xuân, hai mùa vượng tướng, ung dung thanh nhàn. Tính người nhờ ở hiền lương; gia đạo dời đổi, lương duyên không bền. Số người duyên nợ đa đoan, đời sau mới được phỉ nguyền chim yến chim anh. Tuổi nhỏ chẳng được yên thân; trở về lớn tuổi mới mong thanh nhàn. Nếu mà niệm Phật tụng kinh thì ngày sau con cháu phước lành hưởng lâu. Tiền vận nhà cửa đổi thay; nhiều lúc làm khá rồi phải tan.
Phụ giải: số tuổi này tuy tính người hiền lương nhưng số vất vả và mạng có khắc cho nên cuộc đời thường gặp chuyện chẳng may. Lúc nhỏ có tiền của rồi cũng tan rã; gia đạo bất hòa, vợ chồng không hạp nhau, cãi vã luôn, khắc khẩu mà con lại đông, số xấu; về già mới an nhàn. Nếu sinh nhằm ban ngày thì tốt, có quý nhân phù trợ; còn sinh nhằm ban đêm thì lỗi số, không tốt, cuộc đời phải chịu lận đận lao đao. Về già mới được sung sướng.
Nam mạng tuổi Dậu
Tuổi Dậu theo sau tuổi Thân. Năm tuổi Dậu nam mạng được xếp theo thứ tự Tân, Quý, Ất, Đinh, Kỷ. Ở tuổi Ất Dậu, bài thơ trong sách được chép giống hệt bài thơ của tuổi Đinh Dậu, mở đầu bằng câu Đinh Dậu cung Tốn tuổi ta, nên ở hai tuổi này thuật theo đúng như in.
Tân Dậu
Sinh các năm 1921 đến 1981 và 2041. Cung Đoài, trực Mãn, mạng Thạch lựu Mộc là cây lựu đá, khắc Bích thượng Thổ. Con nhà Thanh Đế, cô quạnh. Xương con gà, tướng tinh con chó. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Tân Dậu số mạng như vầy: là cây lựu đá, cung Càn chẳng sai. Đông xuân sinh được thời may, suốt đời thong thả, gặp may tới hoài. Hạ thu lỗi số chơi vơi; dù cho giàu có cũng lo cũng buồn. Tính người vui vẻ dễ thương, hai bàn tay trắng tạo nên cơ đồ. Tân Dậu tâm tính thật thà, gặp người hung dữ thì ta nhịn liền. Nhiều lúc làm có của tiền cũng đều tan rã, chẳng yên, khó cầm. Tiền vận nhà cửa chẳng yên; hậu vận gia đạo mới yên, an hòa.
Phụ giải: số người tuổi Tân Dậu phần đông là người nhân hậu, có đạo đức, thật thà nhưng tâm trạng thường có những chuyện buồn vô cớ. Lúc nào cũng là người làm ra tiền của nhưng không giữ được, khiến phải tan theo thời vận mà hết. Tuổi này ngoài bốn mươi mới an cư lạc nghiệp. Số này bạch thủ thành gia, chứ không nhờ anh em họ hàng gì cả. Về sau có thể đi tu; số thọ đến 79 tuổi, nên thờ Phật và dùng trai lạt thì tốt.
Quý Dậu
Sinh các năm 1933 đến 1993 và 2053. Cung Chấn, trực Thành, mạng Kiếm phong Kim là vàng trong gươm, khắc Phúc đăng Hỏa. Con nhà Bạch Đế, cô quạnh. Xương con gà, tướng tinh con đười ươi. Ông Tử Vi độ mạng. Thơ nói luận xem số mạng con gà: mạng Kim cung Chấn, ráng tìm thì ra. Số này bất luận là ai, mùa thu sinh thuận thì ai dám sánh. Nhưng mà nhiều kẻ hiền lành, ít ai ở dữ, gian manh, bạo tàn. Hậu vận có của mới yên; tiền vận làm có của kho mà chẳng còn. Hai dòng cha mẹ mới yên, không thì chồng vợ khó toan một đời. Năm xưa tận khổ đã thường; vận sau bốn mươi chín, trời ban phước lành. Anh em xung khắc hay rầy; cô bác có của, ta đây chẳng màng.
Phụ giải: tuổi Quý Dậu phần đông giàu thì tột đỉnh, còn nghèo thì nghèo xác mồng tơi, không lưng chừng như các tuổi khác. Nếu ai thuận sinh nhằm mùa thu và mùa đông thì được phần giàu sang phú túc, có kẻ hầu người hạ. Nhưng số không nhờ cha mẹ họ hàng, tự tay làm nên sự nghiệp mới hay. Lập nghiệp phương xa thì mới tốt. Tiền vận khổ hơn; đến 49 tuổi trở đi thì nhờ phước lộc giàu to. Số trường thọ đến 83 tuổi.
Ất Dậu
Sinh các năm 1945 đến 2005 và 2065. Cung Khảm, trực Chấp, mạng Tuyền trung Thủy là nước trong giếng, khắc Thiên thượng Hỏa. Con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con gà, tướng tinh con khỉ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Đinh Dậu cung Tốn tuổi ta, lửa ở dưới núi cháy hoài ngày đêm. Mùa xuân, mùa hạ sinh ra thì được sinh sung sướng, làm nên chức quyền. Thu đông lỗi số tự nhiên, Hỏa bị Thủy khắc, đảo điên cực hoài. Số này trung vận bôn ba, khá rồi tan rã khiến ta chưa cầm. Hậu vận mới được an tâm, dư ăn dư để, của cầm khỏi rơi. Số này vận mạng đổi dời, xa quê xa xứ ở thời mới yên. Bụng người cũng có tính linh, nghĩ đâu có đó, thiệt tình chẳng sai. Số tuổi lòng dạ thẳng ngay; của rơi không lượm, gặp người chỉ cho.
Phụ giải: tuổi này là số tuổi hiền lương, có tâm đạo, biết trọng lẽ phải, nên thường có quý nhân độ trì. Người lại có giác quan thứ sáu, thường hay nghĩ đâu có đó. Số này sinh nhằm xuân và hạ thì giàu có. Tuổi này tuy vậy mà phải chịu lao đao lúc nhỏ; người giỏi, có tài hơn người, có lòng quảng đại, lại có thiên tư giỏi. Người có căn tu, nên dùng trai lạt thì tốt.
Đinh Dậu
Sinh các năm 1957 đến 2017 và 2077. Cung Tốn, trực Bế, mạng Sơn hạ Hỏa là lửa dưới núi, khắc Thích lịch Hỏa. Con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con gà, tướng tinh con khỉ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Đinh Dậu cung Tốn tuổi ta, lửa ở dưới núi cháy hoài ngày đêm. Mùa xuân, mùa hạ sinh ra thì được sinh sung sướng, làm nên chức quyền. Thu đông lỗi số tự nhiên, Hỏa bị Thủy khắc, đảo điên cực hoài. Số này trung vận bôn ba, khá rồi tan rã khiến ta chưa cầm. Hậu vận mới được an tâm, dư ăn dư để, của cầm khỏi rơi. Số này vận mạng đổi dời, xa quê xa xứ ở thời mới yên. Bụng người cũng có tính linh, nghĩ đâu có đó, thiệt tình chẳng sai. Số tuổi lòng dạ thẳng ngay; của rơi không lượm, gặp người chỉ cho.
Phụ giải: tuổi này là số tuổi hiền lương, có tâm đạo, biết trọng lẽ phải, nên thường có quý nhân độ trì. Người lại có giác quan thứ sáu, thường hay nghĩ đâu có đó. Số nào sinh nhằm xuân và hạ thì giàu có. Tuổi này tuy vậy mà số phận phải chịu lao đao lúc nhỏ; người giỏi, có tài hơn người, có lòng quảng đại, lại có thiên tư giỏi. Người có căn tu, nên dùng trai lạt thì tốt.
Kỷ Dậu
Sinh các năm 1909 đến 1969 và 2029. Cung Khôn, trực Chấp, mạng Đại trạch Thổ là đất nhà lớn, khắc Thiên thượng Thủy. Con nhà Huỳnh Đế, quan lộc. Xương con gà, tướng tinh con thỏ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Kỷ Dậu mạng Thổ cung Khôn: Đại trạch, đất lớn, ở thì say mơ. Các tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi chẳng chê; sáu tháng Tỵ, Ngọ thì được bề an thân. Thu đông hưu tù, phân vân; hai mùa làm được công thần cũng lo. Số này lúc nhỏ lao đao; hậu vận sung sướng, phong lưu thanh nhàn. Tính tình ngay thẳng chẳng gian, lại thêm có số tu hành, thọ thân. Tha phương lập nghiệp mới nên; cửa nhà an ổn, gia môn thuận hòa. Số này hưởng lộc tuổi già, cũng như áo gấm lại càng thêm hoa.
Phụ giải: số tuổi Kỷ Dậu tuy giàu có nhưng phần tâm trí lúc nào cũng cực, lo lắng nhiều mà thụ hưởng chẳng được bao nhiêu. Nếu người nào sinh vào ban ngày thì cũng tốt. Tuổi này lúc nhỏ bôn ba, vẫy vùng mới đủ ăn, nhưng cũng chẳng được yên, số cực nhiều sướng ít. Tuổi từ bốn mươi trở đi thì mới được thanh nhàn, hậu vận được hiển đạt. Người thiệt thà, không dối trá, lại có căn tu nên trường thọ.
Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.
