Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Nết gian qua từng sao và cách ghen tuông trong lá số

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn30/09/202615 phút đọc3 lượt đọc
Nết gian qua từng sao và cách ghen tuông trong lá số

Tham Lang hãm địa ở đúng bốn vị trí thì mang nghĩa trộm cắp, gian giảo — một quy tắc hiếm nơi nào ghi rõ đến vậy. Cùng lúc, khoa Tử Vi cũng gọi tên được cơn ghen của con người, và Cự Môn với Hóa Kỵ, mỗi sao lại ghen theo một kiểu khác hẳn nhau…


Cách gian phi qua các sao

Cung đã cho biết nết gian rơi vào lãnh vực nào của đời người. Đến lượt các sao, cũng phải xét chung nhiều loại mới mong xác định được cá tính và hành vi gian phi cụ thể ra sao.

Đối với sao, cũng phải tổng hợp nhiều cách mới dám xác định. Thông thường, phải lưu tâm cứu xét chung các loại dưới đây.

Các hãm tinh

Dù là chính hay phụ tinh, các hãm tinh là dấu hiệu đầu tiên để phát hiện cách gian phi. Những hãm tinh thường tiêu biểu cho cá tính xấu và quá khích, thiên về táo bạo, liều lĩnh với những hậu quả bất lợi đi kèm. Ví dụ như Kình Dương đắc địa chỉ sự can đảm, mưu lược, nhưng khi hãm địa thì chỉ sự xuẩn động, cuồng tín, mưu hại, ác tâm.

Hãm tinh đi với hãm tinh đồng cung hay xung chiếu càng xấu thêm lên. Đó là cách hãm tinh hội tụ, hung đồ kết đảng. Cá tính xấu càng mạnh hơn, tổ chức mưu hại càng rộng lớn hơn, hình thái càng tinh xảo, cường độ càng mạnh hơn, hậu quả càng dữ dằn hơn.

Đặc biệt hãm tinh là võ tinh, kiểu như Sát, Phá, Liêm, Tham cũng nguy hiểm như trên. Bốn sao này thuộc sao võ, thiên về vũ phu, võ lực, nóng nảy, bất nhẫn, thô bạo, dễ xung động.

Càng dữ dằn hơn là hãm tinh đi chung với hãm tinh và võ tinh khác. Nết hung trong cách này là khó lường, thường hành động đại sự và quyết liệt.

Sát tinh

Sát tinh hãm địa thường chỉ tính chất và hình thái của hành động vũ phu, cụ thể như trộm cắp, giết người, lường gạt, hiếp dâm, hay tham nhũng.

Sự hội tụ nhiều ít đôi khi cũng giúp đoán được mức độ thực hiện. Có khi chỉ là dự mưu, có khi là thi hành thủ đoạn, có khi thi hành nửa chừng, có khi thực hiện đến nơi đến chốn.

Mặt khác, sát tinh hãm địa cũng giúp tiên đoán ít nhiều hậu quả của hành động, hậu quả đối với đương sự cũng như hậu quả đối với nạn nhân.

Quyền tinh

Hành động gian phi của kẻ có quyền thế thường ác độc và sâu rộng hơn người thường. Họ có thể sử dụng tiền bạc, quyền hành, vây cánh của tổ chức vào hành động gian ác. Đối tượng của họ thường là những kẻ có máu mặt và thế lực.

Sao trợ hung

Các sao này cho thấy vây cánh của chính phạm, cũng như giúp tiên đoán ít nhiều về cơ hội hoạt động. Càng có nhiều sao trợ, hành động càng có thêm tòng phạm và càng dễ thi hành, càng có nhiều cơ hội thuận lợi.

Bốn loại sao nói trên cần được gom góp để tiên đoán. Càng có nhiều yếu tố về số lượng, bản chất, vị trí, tái hiện, càng dễ kết luận.

Dưới đây là những sao và bộ sao mà sách Tử-Vi thường ghi nhận. Sao và bộ sao này có thể đứng riêng hoặc kết hợp với nhiều sao hay bộ sao khác.

Chính tinh hãm địa

Ý nghĩa của chính tinh hãm địa đơn thủ đã được diễn giải trong quyển Tử-Vi Hàm Số, tưởng không cần nhắc lại ở đây. Ta chỉ chú ý đến vào sự kết hợp điển hình mà thôi.

Tham Lang hãm địa

Tham Lang hãm địa tượng trưng cho nhiều tật xấu, nết hư, nam cũng như nữ. Sao này chỉ sự ham muốn quá độ, cuồng vọng thực hiện ý muốn của mình, thường khi không kể đến đạo đức, liêm sỉ. Đây lại là sao của người ích kỷ và bất nhẫn, hành động theo dục vọng và bản năng hơn là lý trí. Tác giả Thái Thứ Lang đã ghi nhận 4 vị trí xấu của Tham Lang cho các tuổi như sau:

TuổiCung Mệnh có Tham Lang tại
Thân, Tý, ThìnTý
Dần, Ngọ, TuấtNgọ
Hợi, Mão, MùiMão
Tỵ, Dậu, SửuDậu

Ở 4 vị trí này, tác giả trên cho rằng Tham Lang có nghĩa là trộm cắp, gian giảo. Đi chung với sát tinh, ý nghĩa này càng gia tăng.

Riêng phụ nữ, Mệnh có Tham Lang và Đào Hoa còn bị cho là độc ác, thâm hiểm và dâm đãng, trừ phi được Tuần, Triệt khắc chế.

Phá Quân hãm địa

Nết của Phá Quân hãm địa là hung tợn, nham hiểm và bất nhân, báo hiệu nhiều điềm dữ. Những vị trí hãm địa này ở Mão, Dậu, Tỵ, Hợi, Dần, Thân.

Duy Thái Thứ Lang có ghi nhận vài biệt lệ cho Phá Quân hãm địa như sau:

TuổiCung Mệnh có Phá Quân tại
Ất, Tân, QuíMão, Dậu
Giáp, Canh, ĐinhDần, Thân
Kỷ, DậuTỵ, Hợi

Gặp các vị trí này, Phá Quân đỡ xấu về tai họa. Tuy nhiên, tính nết xấu kể trên xem ra không mất: đây vẫn là những hạng người vô hạnh.

Có người cho Phá Quân ở Thìn, Tuất có nghĩa bất nhân, gian ác. Nhưng có lẽ điều này chỉ đúng cho một lá số xấu nói chung, trong đó Phá là yếu tố làm xấu thêm.

Gặp sát tinh hay gặp Đại Tiểu Hao, Hổ Kỵ, Phá Quân hãm địa càng làm tăng tính nết gian phi, dù có được sao giàu, sao quí hỗ trợ cũng không mất nghĩa xấu. Đó là những kẻ bất lương làm giàu hay những người có quyền mà bất nhân, bất nghĩa. Tiền bạc và quyền hành thường thủ đắc bằng thủ đoạn hèn hạ, phi nghĩa, xét ra còn nguy hiểm hơn hạng người bất lương mà nghèo hèn.

Phá Quân, Liêm Trinh ở Mão, Dậu

Bộ sao này có nghĩa độc ác, hay hại người, xuống tay không nể tình. Nam thì tàn bạo, phá hoại, nổi loạn, nữ thì đa thật, hung dữ, chưa kể lẳng loàn.

Đi chung với Hỏa, Linh hay Tả Hữu, nết dữ càng mạnh thêm, con người chẳng khác gì thú dữ.

Phá Quân, Vũ Khúc ở Tỵ, Hợi

Đây là bộ sao tham lận, bất lương, hay có thói lường gạt, ăn gian, biển lận chỉ vì ham tiền (Vũ Khúc là sao tài).

Tham Lang, Liêm Trinh ở Tỵ, Hợi

Bộ sao này chỉ tính nết dâm đãng của nam số và tính giang hồ của nữ số. Những hành động gian phi thường bắt nguồn từ động lực tình dục.

Về mặt hoạ, đây là bộ sao chỉ ngục hình.

Vũ Khúc, Thất Sát hãm địa

Bộ sao này có nghĩa tương tự như Vũ, Phá đồng cung.

Trên đây là các bộ sao chính, điển hình. Đối với các chính tinh khác đi chung với sát tinh, ý nghĩa gian phi cũng tiềm tàng. Đó là trường hợp sát tinh lãm địa đi với Nhật, Nguyệt hãm, hoặc với Cơ dù miếu hay hãm địa, hoặc cả với Tử, Phủ hãm địa.

Những phụ tinh hãm địa

Địa không, Địa Kiếp hãm địa

Hai sao này đại diện cho loại gian phi cực hung, có mưu lược giảo quyệt và cao thâm lại có hành động độc ác và bất ngờ. Đi chung với các sao xấu khác hoặc với chính tinh hãm địa, tính nết và hành vi gian phi của Không Kiếp càng mạnh thêm, thiên về bá đạo, cực đoan, cuồng tín. Trong bối cảnh bất hảo như thế, Không Kiếp bao giờ cũng là sao gây họa cho người khác và rước họa cho mình. Tai họa này thường là khủng khiếp, tàn bạo, thảm khốc.

Đi chung với sao tốt, nết và việc làm gian ác cũng không giảm bao nhiêu, duy ở vị thế tiềm tàng, lúc bộc phát thì không lường trước được, Không Kiếp lúc nào cũng mang họa hay bất lợi cho sao tốt.

Tuy nhiên, cần lưu ý chỗ dụng của Không Kiếp. Ở trong cách võ của một quân nhân tác chiến, Không Kiếp lại hữu dụng, nhờ ở mưu lược, sự can đảm liều mạng với địch. Ở trong thời loạn, 2 sao này lại đắc dụng hơn trong thời bình. Do đó, 2 sao này cần phải được xét trong khuôn khổ của hoàn cảnh hoạt động của đương số, chớ không thể xét riêng, không thể tách khỏi chỗ dụng của nó, chỗ đứng của nó trong bối cảnh toàn thể lá số. Nếu xét riêng rẽ, 2 sao này không có ý nghĩa gì rõ rệt để xác định riêng cách gian phi.

Phục Binh hay Thiên Không

Xét về sao gian phi, 2 sao này đồng nghĩa, chỉ thủ đoạn, sự tráo trở, lật lọng, gài bẫy để mưu lợi riêng cho mình, bất chấp quyền lợi kẻ khác. Trong bối cảnh lá số xấu, Phục Binh chỉ người ăn cắp, ăn gian, thủ đoạn hoặc là kẻ gièm pha, ám hại, a tòng với gian phi làm chuyện bất chính, bất nghĩa. Đi với sao Tài, Phục Binh chỉ sự lường gạt tiền bạc, ăn chận, đục khoét, làm tiền kẻ khác. Đi với sao tình thì đây là sự dụ dỗ, gạt tình làm cho người kia sa vào nghiệp chướng của ái tình, của sa đoạ. Đi với sao Quyền, Phục Binh chỉ sự sử dụng quyền hành để hiếp đáp, khống chế người khác.

Hai sao này còn có ý nghĩa chính mình là nạn nhân của kẻ khác nếu lá số xấu: đó là những người bị lừa, bị cắp, bị gạt tình hay gạt tiền, bị chèn ép, phục kích, phỉ báng.

Lẽ dĩ nhiên, Phục Binh hay Thiên Không đều có nghĩa là thông minh, cái thông minh của hạng gian xảo, quỷ quyệt, nhẹ hơn là liếng thoáng, các cớ, trêu chọc, phá phách, đùa dai. Tuỳ theo ứng dụng trong lãnh vực nào, sẽ có hình thái tương ứng. Đi với Tả Phù, Hữu Bật, 2 sao trên càng xấu thêm vì có sự kết bè họp đảng với nhau hành động bất chính. Lúc bấy giờ sẽ là cả một tổ chức có đủ vây cánh nhập cuộc chớ không còn đơn thương độc mã. Tác dụng và hiểm họa vì vậy càng thêm nặng nề.

Hóa kỵ, Thái Tuế

Vốn chỉ ngôn ngữ, nên Kỵ và Tuế trong bối cảnh các sao lưu manh khác chỉ hình thức hại người bằng lời nói ví dụ như vu cáo, vu khống, xuyên tạc, thêm bớt với ác ý, dã tâm. Động lực hầu như vì đố kỵ, cạnh tranh, tự ái lớn hoặc vì bị chỉ trích, bị tố cáo.

Lẽ dĩ nhiên, khi đi chung với gian tinh thì Kỵ, Tuế mới có nghĩa cáo gian. Bằng không thì chỉ là gièm xiểm, chê bai, ngồi lê đôi mách thông thường mà thôi.

Thiên Hình, Kiếp Sát

Đứng riêng rẽ, Hình và Kiếp Sát không có nghĩa gian phi mà chỉ tai họa do kiện tụng và ẩu đả. Nhưng nếu đi chung với nhiều gian tinh khác thì 2 sao này vừa chỉ hình thái của hành động, vừa chỉ dụng cụ sử dụng.

Về hình thái, nết gian của 2 sao này là đả thương, cố ý gây thương tích cho đối thủ, tạo tàn tật, bệnh hoạn, kiểu như tạt a-xít, rạch mặt lấy theọ, xin tí huyết, bắt giam (Thiên Hình) bắt cóc, đầy ải, tra tấn, tóm lại giải quyết cuộc tranh chấp bằng bạo lực vũ phu.

Về dụng cụ, vì Hình và Kiếp Sát là vật nhọn thì dao găm, búa rìu được dùng làm vũ khí. Còn ngày nay có thể dùng lựu đạn hay súng để đả thương.

Thiên Hình, Lực sỹ

Trong một lá số xấu, Hình, Lực ở Mệnh có nghĩa là ăn trộm, đạo tặc.

Kình Dương, Đà la hãm địa

Nếu hãm địa, 4 sao này có nghĩa hung bạo, liều lĩnh, độc ác, hay giết chóc, phá hoại, gây tai họa. Vì Kình Đà đều chỉ chân tay cho nên có nghĩa đánh đập, gây thương tích ở tứ chi, dùng tay giết hại người.

Lẽ dĩ nhiên, 2 sao này phải đi chung với gian tinh khác thì hành động côn đồ mới thể hiện rõ rệt, chẳng hạn như đi với Thất Sát hãm, Phá Quân hãm, Không, Kiếp hãm v.v…

Hỏa tinh, Linh tinh hãm địa

Cũng gần đồng nghĩa với Kình, Đà hãm địa, nhưng mạnh hơn về hậu quả. Hỏa, Linh hãm địa được mệnh danh là đoản thọ sát tinh cho nên việc trả thù có thể nguy hiểm cho tính mạng đối thủ.

Vì là 2 sao hỏa nên phương tiện sử dụng có thể là lửa, điện, lựu đạn, đốt nhà, chất nổ……

Lưu hà

Đứng riêng, sao này chỉ có ý nghĩa gian hiểm, độc ác sát phạt, gây tai họa. Vì vậy cần đi chung với gian tinh khác mới rõ thêm hành động gian phi. Vì Lưu Hà là Thủy, nên hình thái hại người có thể liên quan đến nước (ví dụ như dìm xuống nước, trấn nước, cho mò tôm…). Đi với Kiếp Sát, Lưu Hà trở nên nguy hiểm, có thể giết người.

Những sao trợ gian

Nếu gặp những sao dưới đây, hành động gian phi sẽ có tòng phạm hay thế lực hỗ trợ.

Tả Phù, Hữu Bật

Hai sao này chỉ tòng phạm hay đồng phạm. Tòng phạm là giúp đỡ phương tiện, dịch vụ hay giúp sức. Đồng phạm là ngoài việc giúp đỡ còn có nhúng tay vào hành động gian phi. Có Tả, Hữu, gian phi sẽ có bè cánh, có chi nhánh, có hệ thống, kiểu như tham nhũng có dây chuyền, có chia chác ăn chia để khỏa lấp, kiểu như bề hội đồng thì có kẻ giúp đỡ xí phần. Thông thường có Tả, Hữu có tổ chức, có đoàn thể, có bè nhóm, chớ không riêng rẽ đơn độc.

Có người cho 2 sao Phục Binh và Thiên Mã (Binh, Mã) đồng nghĩa với Tả, Hữu trong trường hợp này.

Hóa quyền

Đi với sao hung, Quyền sẽ trợ hung. Trong bối cảnh đó Quyền tượng trưng cho sự lạm quyền, việc dùng thế lực để yểm trợ gian phi, dùng quyền hành chi phối cộng sự để cưỡng chế họ hoạt động cho mình. Đây là một hệ số, một sao trợ hung nếu đi với sao hung.

Đẩu quân, Lưu Hà, Lực sỹ; Thiên la, Địa võng; Tướng quân, Phục Binh, Quan đới

Những sao này đều có tác dụng làm tăng thêm hung tính cho các gian tinh.

Vài cá tính đặc biệt khác

Ngoài tình dục, ăn nhậu, hùng biện, gian phi, đời người còn muôn vàn nét tính khác, rải rác qua một số sao lẻ tẻ, chưa được hệ thống hóa đầy đủ: ghen tuông, nóng nảy, tự ái, ích kỷ, đa ngôn.

Các tính con người có nhiều khía cạnh. Đề cập hết tính nết con người trong sách này thì không cùng. Trong những chương trên ta có dịp bàn đến vài cá tính như tình dục, ăn nhậu, hùng biện, gian phi, phần lớn được khoa Tử-Vi nói đến khá nhiều.

Duy còn rất nhiều cá tính khác, ít thấy liệt kê, chỉ xuất hiện rải rác qua một số sao lẻ tẻ, không được hệ thống hóa đầy đủ. Để giúp cho việc phong phú hóa cá tính con người, ta thử bổ túc vài cá tính đặc biệt thường gặp như ghen tuông, nóng nảy, tự ái, ích kỷ, đa ngôn mà phần lớn có thể được suy diễn từ nhiều sao.

Dù được bổ túc, những cá tính trên cũng chưa có thể gọi là đầy đủ để biết tường tận con người. Muốn đoán số, ta cần phải tự mình tìm hiểu và phong phú hóa thêm.

Cách ghen

Cá tính này rất thông dụng nơi phái nữ và nhiều lúc ở phái nam.

Có rất nhiều hình thái và mức độ của sự ghen tuông, tuỳ theo tính nết mỗi người, từ cái ghen tuông bóng gió cho đến cái ghen bằng hành động, bằng lời nói, thậm chí bằng cả sự bất động. Những cung biểu lộ tính nết này thường là cung Mệnh, cung Thân, những cung chiếu Mệnh và Thân, đối với nam số, thêm cung Phu, cung Phúc đối với nữ số.

Cự Môn

Cự chỉ đám mây, nói lên sự nghi ngờ, sự thắc mắc, sự bất mãn đưa đến sự dò xét, theo dõi cử chỉ, lời nói và hành động của người bị tình nghi.

Nếu hãm địa, xu hướng quá khích sẽ rõ ràng hơn. Đối tượng bị bao vây chặt chẽ, bị theo bén gót, bị điều tra từng bước, bị hạch sách từ cử chỉ. Nếu chỉ có sao Cự Môn nết ghen còn ở giai đoạn sưu tầm bằng cớ, chưa đi đến sự đối phó, trả đũa. Nhưng mối đa nghi như thường trực, trò chơi "cút bắt" rất tích cực.

Hóa kỵ

Chỉ đám mây nhỏ, cũng ngụ ý nghi ngờ, thắc mắc như Cự Môn, nhưng lại thêm tính đố kỵ, sợ người khác lấn lướt hoặc thay chân mình. Thường nông nổi và dục động, dễ bị xao xuyến vì những chỉ dấu nhỏ nhặt, nhưng cũng dễ nguôi, dễ quên để rồi dễ nhớ, dễ ghen trở lại. Nết ghen này xét ra linh động và vô chừng hơn Cự Môn. Vốn chỉ cái lưỡi, nên hình thái điều tra của Hóa Kỵ là thẩm vấn, dò hỏi, gợi chuyện chận đầu.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp - Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn