Bài tổng quan
Mệnh, vận, hạn Bạch Hổ và nghiệp chướng trong chuyện bệnh tật
Người bắt rắn nổi tiếng một vùng Phúc Châu đặt sẵn thuốc giải trên nón lá, vậy mà một cơn gió thổi bay chiếc nón chỉ cách bảy tám bước chân. Còn bà họ Ngô chạy chữa đủ Đông Tây y suốt bảy tám năm, mệnh không hề ghi số thương chân, mà chân vẫn đau…
Tử Vi hai nghìn năm trước và Tử Vi hôm nay: không gian, thời gian, quan niệm
Phan Tử Ngư mở đầu bằng một nhận xét: Tử Vi Đẩu Số do bậc thánh hiền đặt ra từ hơn hai nghìn năm trước, còn người nghiên cứu hôm nay đứng cách đó hai nghìn năm. Trong khoảng ấy thời đại đổi thay, văn hóa tiến lên, phong tục xã hội cải đổi, quan niệm và tư tưởng cũng khác. Vì vậy người học Tử Vi phải đi theo nhịp thời đại, không thể giữ nguyên cách nhìn của người xưa.
Điều thứ nhất ông bàn là "thời không", tức là sự gộp lại của thời gian và không gian. Theo ông, Tử Vi khá khoa học, không phải mê tín, và là một cấu trúc lập thể chứ không phẳng. Khi nhìn một lá số, nên coi nó như "không gian bốn chiều" mà Einstein nói tới. Trong khoảng không ấy có Thái Dương, Thái Âm, rất nhiều tinh tú, và cả những con người: cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, cấp trên, thuộc hạ, cùng sự nghiệp, nhà cửa, tiền của. Tinh tú mỗi người mỗi khác, hay nói cách khác là thời không của mỗi người khác nhau, nên mới thành ra số phận và cơ hội mỗi người một vẻ.
Về thời gian, ông nhắc rằng hàng nghìn năm trước một ngày cũng hai mươi bốn giờ, hôm nay vẫn vậy. Nhưng giao thông phát triển, thông tin thuận tiện đã làm không gian và thời gian co ngắn lại. Ông kể một người buôn ngày xưa chở bốn bao gạo hay muối từ Đài Bắc xuống Tân Trúc: đi ngựa mất hai ngày, đi xe mất bốn ngày, lãi được năm trăm đồng. Nay có máy bay, tàu hỏa, ô tô, thời gian rút ngắn, kiếm tiền dễ hơn. Đổi lại, giàu nhanh thì lỗ vốn cũng nhanh, người làm ăn thành công nhiều thì người thất bại càng nhiều, tạo nên cảnh phất lên rồi rơi xuống rất gấp.
Từ đó ông rút ra: luận mệnh ngày nay không chỉ trọng mệnh mà phải trọng vận. Vận là cơ hội theo từng thời điểm. Vận tốt tức là cơ hội tốt, và nếu biết dùng cơ hội ấy thì có thể hô phong hoán vũ. Ông từng tính cho một nhân vật được gọi là "Tứ đại thiên vương", mệnh không tốt nhưng gặp vận tốt, nên suốt mười năm ấy đạt tới mức không ai sánh kịp. Nhưng mười năm qua đi, người ấy như sao băng, lóe lên một cái rồi tắt.
Điều thứ hai là quan niệm. Thời xưa, đàn ông đàn bà, già trẻ đều thấm nhuần nền giáo dục và quan niệm trung, hiếu, đễ, cung. Người con gái lấy chồng theo kiểu gả gà theo gà, gả chó theo chó, theo một người cho trọn đời. Người chồng bất mãn với vợ cũng không cần hủy dung, sát hại như ngày nay, chỉ cần viết một tờ "hưu thư" đưa vợ về nhà mẹ; còn người vợ đương nhiên không có quyền viết "hưu phu thư". Hôm nay thì khác. Từ khi phong khí Âu Mỹ tràn vào đất nước phương Đông cổ xưa, lại thêm nam nữ được học hành bình đẳng, địa vị xã hội của phụ nữ ngày một lên, họ cũng có khả năng kiếm tiền, không phải chịu cái khí của chồng nữa. Vợ chồng bất hòa là ly hôn ngay, mà hai chữ "ly hôn" thì sách cổ chưa từng có.
Giao tế ngày nay lại công khai và thường xuyên, nam nữ có quá nhiều dịp tiếp xúc, nên đào hoa ứng vận mà sinh. Câu "lên xe trước, bù vé sau" cũng là điều sách cổ chưa từng nói. Vì thế ông đặc biệt coi trọng tiểu hạn khi luận mệnh, và đó chính là lý do.
Đầu óc người ngày nay cũng thông minh hơn người xưa nhiều, nhất là những kẻ giỏi lách kẽ hở pháp luật. Xã hội phồn vinh, ngũ quang thập sắc làm người ta say mê, ai định lực không đủ thì dễ bốc đồng, dám lấy thân thử pháp, cam chịu nguy hiểm để hưởng thụ nhất thời. Vì thế số người phạm pháp ngày nay nhiều hơn người xưa. Theo thống kê và nghiên cứu của ông, hễ trên mệnh bàn có Liêm Trinh đồng cung với tứ sát (Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La), gặp lưu niên Bạch Hổ thì ắt có tai họa lao ngục, hoặc dính tới quan phi.
Hạn Bạch Hổ quan theo Mộng Khê bút đàm
Bạch Hổ đã được nhắc tới, nhưng Bạch Hổ trong lưu niên chưa phải là Bạch Hổ quan, hai thứ này là hai chuyện khác nhau.
Theo cổ thư Mộng Khê bút đàm, người sinh năm có nạp âm nào đó, mệnh tọa ở một địa chi nào đó, mà gặp lưu niên Bạch Hổ thì gọi là phạm "Bạch Hổ quan", ắt có hung hiểm, tai họa. Phan Tử Ngư lấy chính mình làm ví dụ: ông sinh năm Dân Quốc thứ mười chín, can chi Canh Ngọ, tra nạp âm là Lộ Bàng Thổ, nếu mệnh tọa ở cung Ngọ mà gặp lưu niên Bạch Hổ thì kể là phạm Bạch Hổ quan. May thay mệnh cung của ông lại ở Tý.
Ca quyết ghi lại như sau:
Hỏa nhập Bạch Hổ kỵ tại Tý
Kim nhân Bạch Hổ Mão địa cư
Thủy Thổ sinh nhân hổ tọa Ngọ
Mộc nhân Bạch Hổ Dậu trung ngọa
Theo ca quyết ấy, người mệnh Hỏa kỵ mệnh tọa Tý, người mệnh Kim kỵ Mão, người mệnh Thủy và Thổ kỵ Ngọ, người mệnh Mộc kỵ Dậu. Bảng đối chiếu năm sinh, nạp âm và cung mệnh phạm quan như sau:
| Hành nạp âm | Nạp âm và can chi năm sinh | Mệnh cung phạm quan |
|---|---|---|
| Hỏa | Lư Trung Hỏa (Bính Dần, Đinh Mão); Sơn Đầu Hỏa (Giáp Tuất, Ất Hợi); Phích Lịch Hỏa (Mậu Tý, Kỷ Sửu); Sơn Hạ Hỏa (Bính Thân, Đinh Dậu); Phúc Đăng Hỏa (Giáp Thìn, Ất Tỵ); Thiên Thượng Hỏa (Mậu Ngọ, Kỷ Mùi) | Tý |
| Kim | Hải Trung Kim (Giáp Tý, Ất Sửu); Kiếm Phong Kim (Nhâm Thân, Quý Dậu); Bạch Lạp Kim (Canh Thìn, Tân Tỵ); Kim Bạc Kim (Nhâm Dần, Quý Mão); Thoa Xuyến Kim (Canh Tuất, Tân Hợi); Sa Trung Kim (Giáp Ngọ, Ất Mùi) | Mão |
| Thủy | Giản Hạ Thủy (Bính Tý, Đinh Sửu); Tỉnh Tuyền Thủy (Giáp Thân, Ất Dậu); Trường Lưu Thủy (Nhâm Thìn, Quý Tỵ); Thiên Hà Thủy (Bính Ngọ, Đinh Mùi); Đại Khê Thủy (Giáp Dần, Ất Mão); Đại Hải Thủy (Nhâm Tuất, Quý Hợi) | Ngọ |
| Thổ | Lộ Bàng Thổ (Canh Ngọ, Tân Mùi); Thành Đầu Thổ (Mậu Dần, Kỷ Mão); Ốc Thượng Thổ (Bính Tuất, Đinh Hợi); Bích Thượng Thổ (Canh Tý, Tân Sửu); Đại Dịch Thổ (Mậu Thân, Kỷ Dậu); Sa Trung Thổ (Bính Thìn, Đinh Tỵ) | Ngọ |
| Mộc | Thạch Lựu Mộc (Canh Thân, Tân Dậu); Đại Lâm Mộc (Mậu Thìn, Kỷ Tỵ); Dương Liễu Mộc (Nhâm Ngọ, Quý Mùi); Tùng Bách Mộc (Canh Dần, Tân Mão); Bình Địa Mộc (Mậu Tuất, Kỷ Hợi); Tang Giá Mộc (Nhâm Tý, Quý Sửu) | Dậu |
Ông dặn rõ rằng "Bạch Hổ quan" khác với "lưu niên Bạch Hổ", người đọc đừng lẫn. Lưu niên Bạch Hổ là vị trí của sao Bạch Hổ theo từng năm: năm Giáp Tý Bạch Hổ ở Thân, năm Ất Sửu Bạch Hổ ở Dậu, cứ thế mà đi. Còn Bạch Hổ quan là trường hợp sinh năm có nạp âm kể trên, mệnh lại tọa đúng cung kể trên, và gặp năm lưu niên Bạch Hổ xung thẳng vào mệnh cung. Ví dụ người sinh năm Kỷ Sửu, nạp âm Hải Trung Kim, mệnh tọa Mão, gặp lưu niên Bạch Hổ xung đúng mệnh cung, thì phải cẩn thận giữ mình: coi chừng quan phi đeo thân, ác bệnh nằm giường, hay phá tài.
Đào hoa gặp Dương Nhẫn: nghiệt duyên đến đó thì dừng
Bạch Hổ là hung tinh thuần túy, còn đào hoa thì không dễ gọi là hung hay cát. Chuyện của đào hoa rơi vào đúng chỗ giao giữa hai sao ấy.
Phan Tử Ngư nói Bạch Hổ là hung tinh trăm phần trăm, còn đào hoa không thể coi là hung tinh trăm phần trăm. Dương Nhẫn thì là ác tinh: hạn đi tới đó, việc gì cũng không cát, không lợi, không thuận, không hòa. Nếu người có đào hoa gặp Dương Nhẫn, thì nghiệt duyên có thể dừng ở đó. Kết cục có thể là khiến người ta đau lòng thương cảm, hoặc người đẹp ôm đàn tỳ bà sang với người khác, hoặc gậy đánh uyên ương chia hai ngả.
Ông kể hai ví dụ ấn chứng. Một là ông Giáp, sáu mươi tuổi đi hạn đào hoa, sáu mươi ba tuổi gặp Dương Nhẫn, người đào hoa ấy gả sang người khác, khiến ông Giáp khóc cạn nước mắt. Hai là chính Phan Tử Ngư: bốn mươi tám tuổi đi hạn đào hoa, năm mươi bốn tuổi tiểu hạn gặp Dương Nhẫn, năm đó đào hoa đổi sắc, ông đau lòng như muốn chết.
Người ta vẫn nói thiên hạ không có bữa tiệc nào không tan. Ngay cả vợ chồng một đời cũng có hồi kết, huống chi là đào hoa không chính đáng. Nhưng con người là loài có tình cảm. Đào hoa giống như sóng biển đập vào ghềnh đá, bắn lên những bọt hoa rực rỡ, đẹp đẽ, rồi tiếc thay chỉ trong chớp mắt đã tan, để lại hận và tiếc.
Nghiệp chướng là gì và cách xem nghiệp chướng trên lá số
Còn một câu hỏi khó hơn chuyện hạn và tai họa: có những bệnh, mệnh không hề ghi, vì sao vẫn tới?
Trước hết phải giải thích "nghiệp chướng". Đây là từ nhà Phật, chỉ ác nghiệp ngăn trở chính đạo. Kinh Niết Bàn nói nghiệp chướng là bệnh nặng của tội ngũ vô gián. Câu Xá Luận kể năm tội: hại mẹ, hại cha, hại A La Hán, phá hòa hợp tăng, và ác tâm làm chảy máu thân Phật. Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm nói nếu chúng sinh thấy một vị Phật thì tất được tịnh trừ các nghiệp chướng. Ngày nay người ta thường gọi là "nghiệt chướng", phần nhiều chỉ những ác nghiệp làm lúc còn sống, thành ra chướng ngại cho đời này, mà kinh Phật cũng không giới hạn ở chuyện kiếp trước.
Nói theo cách thông thường, hễ đời trước hay đời này làm điều trái với quy luật tự nhiên, trái thiên lý lương tâm, hoặc tổn hại đức tốt trời sinh cho, thì phải chịu báo ứng, đều gọi là nghiệp chướng hay nghiệt chướng. Ví dụ có người đánh chết một con chuột trong nhà; hôm sau, hoặc vài hôm sau, chính ở chỗ đánh chuột lại đánh trúng vợ hoặc con mình.
Ông kể chuyện hồi nhỏ đi học ở Phúc Châu, một vùng nổi tiếng nhiều rắn, đủ loại rắn đủ màu. Ở đó có một chuyên gia bắt rắn đời đời nối nghiệp, tên Lâm lão thủ. Ông ta tin có bí phương tổ truyền, không sợ rắn độc nào, hễ ra tay là con rắn khó thoát. Mỗi lần ra ngoài ông đội nón lá, thuốc giải đặt ngay trên nón. Một hôm ông thò tay vào hang bắt rắn, bị rắn cắn, liền đi lấy thuốc giải, không ngờ lúc ấy gió lớn thổi bay nón, chỉ cách bảy tám bước. Ông chạy đi nhặt nhưng không kịp, độc công tâm, ông chết. Người bắt rắn chết vì rắn, cũng giống như những người chết đuối đều là người biết bơi.
Chuyện như vậy nhiều không kể hết, và người đọc chắc cũng đã gặp nhiều trên sách báo hay nghe bạn bè nói chuyện. Ông lấy một ví dụ ông trực tiếp gặp để ấn chứng.
Có một ngày, một cặp vợ chồng từ Gia Nghĩa chuyên đến Đài Bắc tìm ông xem mệnh. Bà Ngô bảy tám năm trước, không rõ vì sao, bị đau ở chân. Bà đã khám không biết bao nhiêu thầy Đông y, Tây y, khoa xương, nhưng không khỏi, kéo dài bảy tám năm, đau khổ khôn xiết. Điều lạ nhất là mọi thầy thuốc, Đông lẫn Tây, đều không nói ra được bà bị bệnh gì. Nhờ người thân giới thiệu, hai vợ chồng chuyên đến xin ông chỉ điểm, xem trong mệnh có phải có số thương chân không. Ông tính kỹ, thấy mệnh bà không có số thương chân. Vậy tại sao bà đau chân suốt bảy tám năm? Nghĩ mãi không ra, ông nghĩ tới "nghiệt chướng".
Ông nói ông không thích xem nghiệt chướng cho người, vì rất mệt, nhưng trước lời van xin tha thiết của vợ chồng họ Ngô, đành nhận lời. Ông nhắm mắt ngồi ngay ngắn, thành tâm tụng Thái Thượng Cảm Ứng Thiên. Đến lần tụng thứ ba, trong óc mơ hồ hiện ra một con heo, chân con heo bị thương, và ông hiểu ra.
Ông hỏi bà Ngô trước đây có nuôi hay giết heo không. Bà đáp từng nuôi heo, từ khi chân bị bệnh thì thôi không nuôi nữa. Ông hỏi tiếp có con heo nào bị thương chân không, bà nói có, vì có lần lùa heo, heo chen nhau, một con bị chen thương chân. Ông bảo bà: bệnh chân của bà chính là "báo ứng" của con heo ấy. Bà Ngô hỏi có cách hóa giải không. Ông đáp có, nhưng không biết bà có bằng lòng không. Bà nói chỉ cần chân khỏi, làm gì cũng bằng lòng. Ông dặn từ nay bà ăn chay, không sát sinh. Cuối cùng bà nghe lời, hai vợ chồng cùng ăn chay, mỗi ngày tụng Thái Thượng Cảm Ứng Thiên. Bà kể lúc mới ăn chay, khi tụng Cảm Ứng Thiên bà cũng mơ hồ thấy hình dáng một con heo, nhưng sau vài ngày thì không còn thấy nữa, và bệnh chân cũng khỏi.
Phan Tử Ngư nhấn mạnh rằng đây tuyệt không phải thần thoại, rồi tha thiết nhắn độc giả cũng như con cháu họ mười điều:
- Đừng đánh đập động vật bừa bãi.
- Tập thói quen yêu thương động vật.
- Hết sức tránh ăn thịt, máu động vật.
- Nếu hoàn cảnh thuận tiện hoặc cho phép thì chuyển sang ăn chay.
- Giữ tấm lòng thương trời xót người.
- Tuyệt đối không cậy thế hiếp người, hay bắt nạt kẻ yếu nhỏ.
- Đừng giữ lòng oán hận, báo thù với bất cứ ai, bất cứ việc gì.
- Tin nhân quả, báo ứng, luân hồi.
- Mỗi ngày tụng Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, hoặc kinh Phật khác như Đại Bi Chú.
- Việc gì cũng đừng cưỡng cầu.
Theo ông, học xem nghiệt chướng không khó, chỉ cần tâm chính ý thành, lòng không tà niệm, không làm việc khuất tâm, chuyên tâm tụng kinh hoặc Cảm Ứng Thiên. Ông lưu ý rằng xã hội nay có nhiều người thông linh, có âm dương nhãn, nhưng "xem nghiệt chướng" mà ông nói tuyệt không phải thông linh, xin đừng lẫn lộn; nếu biết thông linh thì chỉ cần liếc mắt là thấy nghiệt chướng, cần gì phải thành tâm tụng kinh. Lý ấy rất rõ.
Tóm lại, chỉ cần đối với người giữ lòng nhân hậu, không tùy tiện mắng người để giữ khẩu đức, không tùy tiện gây thị phi để giữ đạo đức, không tùy tiện hại sinh linh để giữ âm đức, thì tuy chúng ta không phải thánh hiền, nhưng có thể noi việc làm của thánh hiền, và như thế là gần với đạo. Ông cũng nhắc tới một bộ phim Mỹ từng chiếu ở Đài Loan, và bài báo của ông Bá Dương về một "người tê tê" từng sang Đài Loan chữa trị, cho rằng đó đều là chứng cứ cho thuyết động vật có oan oan tương báo.
Quê ông có một câu: "cùng thử mạc truy", nghĩa là đừng đuổi con chuột đã cùng đường. Nếu bạn đuổi giết chuột, khi chuột hết lối chạy, nó quay lại cắn bạn. Cú cắn ấy chứa cả sự phẫn nộ, oán hận của toàn thân nó, nên trong răng sinh ra độc tố, và độc ấy có thể làm người ta chết.
Mệnh vận học đang từng bước thành hình
Từ chuyện chuột cắn người, tới chuyện ngày sinh có liên quan tới bệnh mà y học cũng đã bắt đầu thừa nhận.
Phan Tử Ngư nhận định các nước hiện nay chưa khẳng định mệnh vận học, nhưng nó đang dần thai nghén và lớn lên, rồi sẽ có ngày chín muồi, chắc chắn không còn gì phải nghi ngờ. Ví dụ, dù là Tử Bình Tứ Trụ, Tử Vi Đẩu Số, Thất Chính Tứ Dư, hay lý thuyết chòm sao phương Tây, đều có thể suy đoán và đoán định người sinh vào năm tháng ngày giờ nào thì tính cách ra sao. Nhất là nay giới y học cũng khẳng định rằng người sinh vào thời điểm nào thì dễ mắc loại bệnh nào. Theo giới khoa học và y học, các loại vi khuẩn gây bệnh liên quan tới khí hậu khi lây nhiễm, nên người sinh vào thời điểm nào sẽ đặc biệt dễ bị nhiễm một loại vi khuẩn nào đó mà sinh bệnh.
Từ đó ông cho rằng, vì sức khỏe của thế hệ sau, làm cha mẹ nên biết chọn thời điểm cho việc giao hòa vợ chồng. Ông tin điểm này về sau chắc chắn sẽ được giới học thuật coi trọng.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số dự trắc tật bệnh (bản chữ Hán, Hương Cảng)
