Bài tổng quan
Bạch Hổ, sao bày tỏ và con thú trong lòng người
Người xưa treo bảng tên người đỗ đạt ở nơi cao nhất, phía sau bảng lại vẽ một con hổ; công đường cũng vẽ cọp cho oai. Con hổ trắng ấy vừa là ác thú vừa là điều ta nói ra trước người khác. Hai lớp nghĩa ấy kéo theo những hệ quả khác hẳn nhau...
Mục lục · 11 phần
- 01Vị trí và bộ ba lập trường
- 02Lập trường, đường lối và sự bày tỏ
- 03Màu trắng và những điều gắn với nó
- 04Con hổ, ác thú và con thú trong lòng người
- 05Bày tỏ có lợi hay có hại
- 06Những con hổ giỏi
- 07Long Hổ và các cặp khác
- 08Bộ Tứ Linh và Bạch Hổ qua chính tinh
- 09Bạch Hổ gặp sát tinh
- 10Bạch Hổ nằm trong mười hai cung
- 11Bạch Hổ nhập hạn: lưu Bạch Hổ ở đâu, ưu sầu ở đó
Người xưa treo bảng tên các thí sinh đỗ đạt ở nơi cao nhất, phía sau bảng lại vẽ một con hổ, nên mới có câu "bảng hổ đề tên". Công đường ngày trước cũng hay vẽ thêm con cọp trên tường cho oai nghiêm, để răn đe người đến. Tên của ngôi sao Bạch Hổ chưa chắc chỉ là con thú trên bức tranh ấy. Bạch Hổ mang hai lớp nghĩa: bên ngoài là con hổ trắng ăn thịt người, bên trong là điều ta nói ra, ta bày tỏ, ta bộc bạch trước người khác, và cả hai lớp nghĩa ấy đều dẫn tới những hệ quả rất khác nhau tùy ngôi sao đi cùng.
Vị trí và bộ ba lập trường
Bạch Hổ luôn có Tang Môn xung chiếu. Tam hợp bên trái có Thái Tuế, tam hợp bên phải có bộ Phù Trì (Quan Phù, Long Trì). Theo cách an sao, Bạch Hổ nằm trong chòm Thái Tuế.
Lập trường, đường lối và sự bày tỏ
Từ chỗ đứng trong chòm sao ấy, ta thấy ngay Bạch Hổ không đi một mình mà là phần giữa của bộ ba nói về thái độ.
Quan Phù chủ quan điểm, Bạch Hổ chủ bày tỏ rõ ràng, Thái Tuế chủ thái độ. Ba sao này luôn tam hợp nhau, thành bộ Tuế Hổ Phù, chủ lập trường, lý lẽ, đường lối, thái độ rất rõ ràng trước một vấn đề nào đó. Nhờ vậy nhóm này thường được bộ Phượng Các hoan nghênh. Người viết phân biệt ba nhóm người trong xã hội: chỗ nào ồn ào vui vẻ, nói và làm là nhóm Đào Hồng; đi lại thăm viếng hỏi han, tâm sự, ủng hộ là nhóm Tang Hư Khách; bàn bạc, luận bàn là nhóm Tuế Hổ Phù, thường bị xem như lạnh nhạt, có vẻ kiêu kỳ.
Ví dụ vui: trời xấu mây mù có nguy cơ bão, nhóm Tuế Hổ Phù bàn rằng cần đem con thuyền lên bờ cho an toàn; nhóm Tang Hư Khách tán thành; nhóm Hồng Đào hò dô ta kéo thuyền lên bờ. Bão không đến, thuyền mắc cạn, chủ thuyền kết tội: thằng Hồng Đào tội nặng nhất vì thực hiện, thằng Tuế Hổ Phù xúi bậy vì chỉ bàn chứ không chỉ đạo, bọn Tang Hư Khách can tội hùa theo. Từ đó thấy rằng muốn biết lập trường của một người thì xem chòm Thái Tuế kết hợp chòm Lộc Tồn cộng chính tinh.
Màu trắng và những điều gắn với nó
Cái tên "Bạch" đã mang một sắc màu, và sắc màu ấy kéo theo cả một họ hàng ý nghĩa.
Trong nhóm sao chỉ màu sắc, Lưu Hà là vàng, Bạch Hổ là trắng, Thanh Long là xanh, Hồng Loan là đỏ, Đại Hao là đen. Màu trắng chủ sự trong sạch cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng: bàn tay sạch nên dễ nghèo. Màu trắng cũng là màu tang, nhất là vì Tang Môn luôn xung chiếu nên dễ gặp Thiên Khốc. Trong cơ thể, màu trắng là xương cốt, phần thâm sâu nhất, thấy xương trắng là dấu hiệu nguy hiểm; vì vậy Mệnh, Thân, Tật có sao này mà bị hung tinh xâm phạm thì dễ đau nhức khớp xương. Màu trắng còn là mái tóc bạc, nên Bạch Hổ cũng là một sao thọ như Thái Tuế, sao của người cao tuổi. "Ngày xưa chàng nói áo em trắng quá nhìn không ra, nay nàng lại nói tóc anh trắng quá nhìn không ra" là câu chuyện của sao này.
Con hổ, ác thú và con thú trong lòng người
Màu trắng chỉ là bề mặt; bên dưới là con vật thật, và cũng là những con vật vô hình trong lòng ta.
Bạch Hổ thuộc nhóm sao biểu tượng con vật: con cọp trắng nói riêng, ác thú nói chung. Người xưa gọi là hổ, không gọi là thỏ trắng hay mèo trắng, vì hổ ăn thịt người, nên Bạch Hổ là hung tinh dễ gặp tai nạn do thú dữ cắn, đá. Nhìn hai con hổ tranh luận, con thắng coi như ăn thịt con thua; con hổ ngồi công đường thường ăn thịt con hổ dân đen. Trong lòng mỗi người luôn có nhiều con thú, điều ấy thấy rõ khi nghiên cứu Tử Vi. Thời phong kiến hay độc tài, khi hổ vương bày tỏ một nhận xét thì bầy hổ quần thần coi như khẩu lệnh. Ngày nay hổ hiếm nhưng biến dị của Bạch Hổ là chó, mèo, những con vật cào cắn; còn loài người biến dị thành hổ cũng không kém, với những gương mặt hùng hùng hổ hổ trước người yếu thế, rồi cụp râu thu vuốt trước thế lực mạnh hơn. Các cách Tham Hổ ở Dần Ngọ, Sát Hổ ở Dần Ngọ, Diêu Hổ dễ bị chó mèo cắn, có thể gây tử vong tùy hung tinh nhiều ít.
Bày tỏ có lợi hay có hại
Trở lại với nghĩa bên trong, ta thấy Bạch Hổ không phải sao đem niềm vui như nhiều người tưởng.
Bạch Hổ chủ bày tỏ, bộc bạch, thổ lộ, trình bày, tâm sự. Điều đáng nói là khi có việc phải bày tỏ tâm sự, thổ lộ nỗi lòng thì tất có vấn đề phiền toái, thường hàm chứa nỗi oan tình. Từ vị trí này rất dễ gặp Thiên Khốc thành bộ Hổ Khốc: bày tỏ trong nước mắt, nói lên nỗi oan. Được quyền bày tỏ trước đám đông có thể có lợi, nhưng nếu đằng sau có người dí súng buộc phải nói thì lại là họa; những điều nói ra thực chất lòng không muốn thuộc cách Hổ Sát Phá. Con ếch chết vì tiếng kêu, nếu không kêu thì ai biết nó ở đâu mà bắt, là cách Liêm Hổ. Trước mặt Bạch Hổ luôn có Tang Môn, là cả một tập thể có phe phái, luôn cho rằng có bằng chứng "không thể chối cãi", và Bạch Hổ phải chứng minh chính bằng chứng đó thành chứng cứ có lợi cho mình. Một Bạch Hổ giỏi rất hiếm; cái dễ gặp là "hùng hùng hổ hổ" gây mất cảm tình, dễ thành hổ ngươi, hổ thẹn, xấu hổ. Hạn Mệnh có sao này dễ gặp hung họa hơn may mắn.
Những con hổ giỏi
Dĩ nhiên cũng có những con hổ hay, và người viết gom lại thành một nhóm cho dễ nhớ.
Có sáu mươi loài hổ đại diện cho sáu mươi tuổi, và mỗi loài có mười bốn chủ nhân là các chính tinh cai quản, nên muốn nhớ hết thì choáng. Người viết chọn tập trung vào những con hổ tốt, xếp chúng vào một "trang web" tưởng tượng gọi là hổ tốt. Điều kiện đầu tiên là có đuôi Phượng Các. Phượng Các là ngưỡng mộ, ngẩng cao đầu; Bạch Hổ là bày tỏ; vậy bày tỏ điều mình nói được quần chúng ngưỡng mộ, không đắc địa thì gọi là gì. Theo ông, đắc địa thực chất là đắc ý, tức hợp lý hợp lẽ, chứ không phải ưa chỗ nào thì phong đắc địa rồi tìm ngũ hành sinh khắc để giải thích.
Bốn tuổi Sửu Mùi Thìn Tuất có Bạch Hổ đồng cung hoặc nằm trong bộ Tứ Linh: sự ngưỡng mộ, quý trọng, thần tượng, được tôn sùng mãi mãi. Thìn Tuất thì Phượng một nơi hổ một ngả, ngoài đánh giá chờ quần chúng, kém hơn Sửu Mùi tự tin ở điều mình nói. Con hổ Sửu hay nhất vì đồng cung Phượng Các, có Hoa Cái tam hợp, ở phương tây non Đoài, như hổ về núi rừng an toàn; gặp Thất Sát cũng vô hại. Hổ Phượng ở Mùi thì ở phương đông nơi biển cả, dễ gặp hung nguy không đường chạy. Mỗi tuổi có một cách hay khác nhau: Tý Ngọ có bộ Khốc Hư, Mão Dậu có Hỉ Hồng Đào và bộ Long Phượng, Dần Thân có Phượng Mã, Thìn Tuất có Tang Phượng. Quan trọng là Mệnh có nằm đúng vị trí không, chính tinh có phù hợp không, và có bị phá cách không.
Những hổ có đuôi hay hơn đắc địa
Hổ Tấu Thư là hổ đắc ý: Tấu Thư chủ biên tập, biên chép, viết, trình bày, khó hơn là nói. Hổ giỏi có thể viết văn, làm thơ, soạn nhạc, để lại cả kho tàng văn hóa. "Hổ mà gặp Tấu đồng cung, công danh thi cử nên công dễ dàng." Tấu Thư đồng cung hay tam hợp đều tốt, đừng để Tấu Thư xung vì khi ấy họ viết, ta đọc. Hổ Xương Khúc thì bày tỏ bằng văn chương nghệ thuật.
"Tuế Hổ Phù hợp Khúc Xương. Có tài hùng biện văn chương hơn người."
Người viết gọi đây là con hổ ngon lành nhất, chung quanh chỗ ở toàn sách vở, có khi ta gọi y là mọt sách. Hổ Khôi Việt thì vượt trội, có phần quý hiếm; Hổ Kỵ Khoa thì là con kỳ lân, ăn nói bày tỏ khác thường. Hổ Đà gặp thì giỏi bày tỏ và hướng dẫn, tốt như hổ về núi gầm thét, xấu thì hổ mắc lưới; dễ chịu hơn hổ Kình vì Đà mềm yếu thuận theo còn Kình cương cường chống đối. Hổ Tấu Thư còn được phê là "hổ đội hòm sắc", chủ phong tặng, lợi thi cử công danh.
Long Hổ và các cặp khác
Khi hai ngôi sao đứng cạnh nhau, sắc thái của Bạch Hổ lại đổi, và đây là chỗ cần xem kỹ từng cặp.
Thanh Long Bạch Hổ là hợp cách, hay nhất là hữu Bạch Hổ, tả Thanh Long. Xanh và trắng phối hợp dễ chịu. Bày tỏ có thể không bằng tiếng nói mà bằng thái độ, hành vi, cử chỉ: bỏ ra về, không đến họp, đọc báo khi họp; kịch câm là bày tỏ bằng cử chỉ. Nhưng tiếng nói vẫn dễ và đầy đủ nhất, nên cách Long Hổ được xem là hay. Thanh Long là thịnh vượng, danh tiếng, tiếng nói, trong sáng; Bạch Hổ là uy quyền, bày tỏ, trong sạch; kết hợp là danh tiếng trong sạch, được quyền bày tỏ bằng lời, danh giá và uy quyền. Long Hổ Cái còn là "xanh sạch đẹp" trong phong cách sống. Tướng Quân Bạch Hổ: "Bạch Hổ kiến Tướng Quân Đào Tiềm kiêm ấn": được thương yêu tin cậy nhờ biết bày tỏ, khéo nói.
Mặt trái: Hổ Thiên Khốc là bày tỏ bằng tiếng khóc, tính oan ức tang tóc, gặp ở tuổi Tỵ Hợi, như đoạn Kiều khóc mả Đạm Tiên. Bệnh Phù Bạch Hổ là hổ bệnh, hổ ngượng, xấu hổ, bày tỏ nỗi lo sợ, kỵ Diêu Y; có khi là sự giúp đỡ tai hại, chỉ Thiên Lương cứu giải nổi. Hổ Kình là bày tỏ sự chống đối, khó khăn; Hổ Tuần là hổ ngoan dễ dạy, bày tỏ đúng; Hổ Triệt là "tiết lộ cách", thổ lộ ra; Hổ Hóa Kỵ là "hổ bị đánh dấu": đừng nói thế, cấm bày tỏ, nghi ngờ lời nói, bày tỏ phạm vào chỗ cấm kỵ như xúc phạm tôn giáo, chính quyền, địa phương, gia tộc, mà báo chí không hiếm; thêm Thiên Hình là họa do bày tỏ. Hổ Thiên Hình còn gọi là "hổ hàm kiếm", oai nghi lợi cho nam, bất lợi cho nữ; đồng cung Tướng Ấn thì hợp cách.
Lộc Tồn Bác Sĩ Bạch Hổ thuộc nhóm thị phi tinh, một sao bài xích, một sao bày tỏ, chủ bài xích. Hao Hổ đóng Dậu như "sư tử hống" khiến thú khác khiếp sợ; các vị trí khác là hổ gầm, la hét, đang giận dữ; Đại Hao Bạch Hổ là hắc bạch phân minh, đen trắng rõ ràng, mực đen giấy trắng, bảng đen phấn trắng. Xấu là thay trắng đổi đen. Phi Liêm Bạch Hổ là Phi Hổ cách, lời nói sai trái theo gió bay ra không kịp giữ lại; "nói vậy mà không phải vậy"; bày tỏ sai trái, làm sai còn cho là đúng. Hỉ Thần Bạch Hổ thì vui mừng càng bất trắc; Phục Binh Bạch Hổ là tai họa ẩn tàng, áo trắng, tang tóc; Quan Phủ Bạch Hổ có tính quan sự, kỵ Liêm Trinh vì dẫn tới tù tội, cần Hóa Quyền. Bạch Hổ Đường Phù là bộ quan trọng nhất về quan sự: tốt là được quyền hành sử tại công đường, xấu là tai họa tại công đường, phải bày tỏ, bộc bạch trước công đường. Gặp Địa Võng là nạn nhân oan sai, bị vu oan; gặp Thiên Khốc là oán thấu trời, đáng sợ nhất; gặp Kỵ Hình, Không Kiếp, Kỵ Đà thì tránh đâu cho thoát; kỵ nhất chính tinh Cự Môn. Bạch Hổ Diêu Y là hổ mù quáng, dễ bị thú cắn; với nữ còn là mù quáng trong tình yêu, chạy theo mối tình vô vọng để ôm hận.
Bộ Tứ Linh và Bạch Hổ qua chính tinh
Khi Bạch Hổ đứng trong Tứ Linh thì nó là linh vật; khi đứng cạnh từng chính tinh thì mỗi cặp một số phận.
Tứ Linh gồm Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ, Hoa Cái, bốn linh vật đáng tôn thờ. Hoa Cái không phải con vật mà là cái lọng vẽ hoa che cho bậc đại quý, tức Thái Tuế. Long Trì chủ thịnh vượng lâu dài, Phượng Các chủ ngưỡng mộ tôn thờ, Bạch Hổ chủ uy nghi, Hoa Cái chủ cái thế hơn người. Kết hợp hài hòa là mẫu người xuất chúng, uy tín, đáng ngưỡng mộ lâu dài; những lá số xuất chúng thường có Thái Tuế tại Mệnh hoặc tam hợp với Mệnh, tức Mệnh có Quan Phù hoặc Bạch Hổ.
Còn với chính tinh: Tử Vi, Vũ Khúc kết hợp tốt với Bạch Hổ vì thiên về hành động gặp bộ Tuế Hổ Phù thiên về thái độ, tạo thành "động thái"; có động mà thiếu thái thì thành manh động. Liêm Trinh Bạch Hổ thì "hình ngục nan đào": bị dò xét, theo dõi vì bày tỏ, lập trường, tai ách hình ngục khó thoát (chứ không phải không thoát), kỵ Đường Phù. Thiên Tướng Bạch Hổ là bày tỏ yêu thương, trợ giúp. Thiên Phủ Bạch Hổ là bày tỏ và vỗ về, an ủi, nhưng Bạch Hổ khá thô vụng, nên có khi thành "lấp miệng em". Thất Sát Bạch Hổ bất lợi: khó bày tỏ, bày tỏ sự mất mát thất vọng, bị ép phải nói trái lòng, hoặc lỡ lời gây họa. Phú: "Tham Sát Ngọ Dần kiêm ngộ Hổ Tang, lôi thú nan đề", nghĩa là ở Dần Ngọ đề phòng sét đánh và thú dữ.
Phá Quân Bạch Hổ thiên về hao tán, bất lợi tài chính, hổ bị bắt, rất kỵ Kỵ Hình, mẫu người thường không thích nuôi thú. Tham Lang Bạch Hổ là "Lang Hổ tương phùng": xung đột mâu thuẫn giữa kẻ nhỏ mà mạnh với người lớn mà yếu. Thân Mệnh có bộ này thì xung đột với người trên, phần thắng nghiêng về ta, nhưng cũng dễ xung đột với kẻ dưới. Hình ảnh là một vị vua kém tài hơn tể tướng của mình. Cũng có người ưa lên bày tỏ trước đám đông dù không ai mời, nhất là Tham Lang ưa can dự, chen vào, và khiến người khác bực mình. Thiên Cơ Bạch Hổ là hình tượng con vật bằng đá như kỳ lân, sư tử trang trí cổng nhà vương giả, lợi công danh nhưng bất lợi tai nạn; trong nhà có cọp tức trong nhà có tai họa; cơ thể nằm trong miệng cọp, bệnh nhưng chưa bằng cách Cơ Tang chôn vùi; có cật vấn và bày tỏ dễ sinh thị phi, thêm Cự Kỵ càng cao. Thiên Đồng Bạch Hổ hóa giải được cả bộ Tứ Hung: "Tang Hổ Điếu Binh vị chi tứ hung, nhược ngộ Đồng tinh nhi hóa cát", vì chủ bày tỏ việc phúc thiện. Thiên Lương Bạch Hổ được kể là cách bày tỏ hay nhất vì Lương chủ phơi bày, Hổ chủ bày tỏ, Lương lành tính nói nhỏ nhẹ dễ được cảm thông. Thái Âm Bạch Hổ là âm thầm, kín đáo bày tỏ, bày tỏ với giới nữ, ban đêm, thường chuyện trai gái không minh bạch, không phải cách hay.
Thái Dương Bạch Hổ là bày tỏ công khai, nghe chừng minh bạch rõ ràng, thanh thiên bạch nhật. Cần kiểm tra tính minh bạch của bộ sao này, nếu không ngợi ca dễ bị hố: có kẻ miệng nói hòa bình mà tay rình chụp súng, cứ đòi ngưng chiến, hưu chiến, ngừng bắn để chuẩn bị cho tốt hơn.
Cự Môn Bạch Hổ chủ bày tỏ sự phản đối, bộ sao có tính thị phi cao, có vấn đề cần phải bày tỏ, kỵ gặp thêm nhiều thị phi tinh khác. Cự Môn còn có nghĩa là con chó, là chính tinh; Bạch Hổ là con cọp thuộc bàng tinh. Từ đó sinh mâu thuẫn giữa chính tinh kém thế, yếu, và bàng tinh mạnh thế, nhưng không gay gắt như cách Tham Hổ, vì con chó biết thua mà vạch đường chạy trước. Cự Môn phản đối cái này, chỗ này của tao; Bạch Hổ xông tới, Cự Môn ca bài cự ly, đến khi có khoảng cách an toàn lại phản đối. Còn chủ sờ mó và bày tỏ: tai họa do sự sờ mó, như sờ mó thú dữ, coi chừng sờ đuôi trâu, bò, ngựa, nó đá gãy giò. Từ vị trí Bạch Hổ mà thấy Cự Môn hội họp thì không nên sờ mó bậy bạ mà sinh chuyện thị phi, và tai họa nếu có Không Kiếp.
Bạch Hổ gặp sát tinh
Bộ Linh Hỏa là bộ sao tinh thần; đi với Hổ thì dễ đưa đến lúc nồng nàn, lúc lạnh nhạt, lúc nhiệt tình, lúc hờ hững. Kỵ thêm bộ Sát Phá có Hao tinh vì dễ nổi nóng làm điều xằng bậy. Còn Hổ gặp Không Kiếp chủ tai họa do chó mèo, thú dữ gây ra, và họa do bày tỏ không đúng nơi, đúng lúc.
Bạch Hổ nằm trong mười hai cung
Cùng một con hổ, ngồi ở cung nào thì gầm vào việc của cung ấy.
Ở cung Mệnh, các cách đã nêu ở trên cho phép tự đoán xấu hay tốt: ngoài một số chính tinh bất lợi cho Bạch Hổ, các hung tinh khác lại hỗ trợ hung tính cho Hổ. Cung an Thân có Bạch Hổ cũng bất lợi, vì Bạch Hổ là con cọp hung họa, Thân an tại đó ví như nằm chung với cọp. Nữ Mệnh có Bạch Hổ không phải điều hay vì nó nhăn nhó, nên cũng mau già; kỵ nhất là Hổ Diêu mù quáng sinh nhiều chuyện buồn.
Ở cung Phụ Mẫu, giữa cha mẹ với nhau, giữa con cái và cha mẹ dễ có chuyện bất hòa, mức độ tùy thuộc thị phi tinh, sát tinh và chính tinh có hợp với Hổ không; ngoại trừ Hổ Binh, Hổ Tướng, Hổ Tồn đồng cung thì thiên về hiếu thảo. Ở Phúc Đức, bất lợi, mất hòa khí, lại còn bị ly tán. Ở Điền Trạch, trong nhà thường có chuyện hung họa như người đau ốm, thương tật, không khí u buồn; người có cách này thường ưa đi ra ngoài hơn ở trong nhà. Phú nói:
Bạch Hổ Tang Môn bất nghi ư Điền Trạch.
Ở Quan Lộc, việc làm có liên quan đến bày tỏ. Ở Nô Bộc, ít hòa hợp với kẻ dưới. Ở Thiên Di, tức Mệnh bị Bạch Hổ xung, dễ thua thiệt về uy tín vì Mệnh có Tang Môn; trường hợp này rất cần Phượng Các hội họp, nếu không sẽ đem chuyện trong nhà rêu rao ngoài đường. Ở Tật Ách có câu:
Ách địa hiềm Thai phùng Bạch Hổ, Mệnh cung kị Nguyệt ngộ Đà La.
Nếu có cách ấy thì sinh nở khó khăn. Ngoài ra, do sự vui vẻ nên dễ bày tỏ điều sai lầm (vui nói tầm bậy), và dễ mắc chứng bệnh về xương cốt, nhất là khi có Kỵ Hình, Không Kiếp. Ở Tài Bạch, hưởng cách "bàn tay sạch", tức hưởng chữ nghèo.
Hổ nhập cung Tử Tức là điều không hay, nó liếm sạch con cái, đôi khi còn trong thai nghén. Đáng sợ nhất là Hổ Khốc Kình, Hổ Khốc Hình, hoặc Lộc Tồn Hổ:
Khốc Hình Kình Hổ Tử cung. Đến già chẳng thấy tay bồng con thơ.
Nhất là Hình Hổ, nếu áp dụng các phương pháp ngừa thai thái quá thì có thể gây vô sinh; ham vui tự do, sợ con cái vướng bận. Ở Phu Thê có câu:
Phá Quân duyên nợ ít toàn. Cô Quả Tang Hổ Khốc thường tóc tang.
Bạch Hổ vừa có tính tang tóc, vừa có tính gây họa để chia ly, chia rẽ, càng độc hơn khi có Cô Quả Khốc, bản thân dễ trở thành khách cô đơn. Ở Huynh Đệ, gây bất lợi cho cung này, dễ gây thị phi, tai họa cho nhau, tùy hung cát tinh để quyết đoán.
Bạch Hổ nhập hạn: lưu Bạch Hổ ở đâu, ưu sầu ở đó
Bạch Hổ vừa dễ gây họa thị phi vừa gây tai ách, và chỉ có lợi khi có Văn tinh. Đi với Kỵ Hình là thị phi; đi với sát tinh là tai họa do bày tỏ, hoặc tai họa do thú dữ; đi với nhóm sầu tinh (Cô Quả Khốc) thường có chuyện buồn trong tình cảm. Đại hạn có Bạch Hổ cố định mà Mệnh có bộ Đào Hồng là điều rất xấu.
Phải chú ý lưu Bạch Hổ. Mệnh có bộ Đào Hồng hay Thất Sát rất kỵ lưu Bạch Hổ nhập vào cung Mệnh: nhẹ nhàng nhất là tình cảm xấu. Cung an Thân cũng rất kỵ lưu Bạch Hổ nhập vào. Đại hạn có Bạch Hổ cố định lại có lưu Bạch Hổ hội họp cũng là điều xấu, càng xấu hơn khi lưu Bạch Hổ xung. Có những hạn đều không thấy Bạch Hổ, nhưng lưu Bạch Hổ chỉ cần nhập vào Điền cung thì trong gia đình cũng có điều phiền toái. Nói chung, để cho dễ nhớ:
Bạch Hổ lưu tại đâu ưu sầu tại đó.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Phụ Tinh.
