Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Bạch Hổ, tám hành tinh và những câu phú cổ mở đầu bộ Tử Vi Phú

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202615 phút đọc4 lượt đọc
Bạch Hổ, tám hành tinh và những câu phú cổ mở đầu bộ Tử Vi Phú

Một con hổ no bụng nằm im trong hang khác hẳn con hổ đói phải ra bìa rừng kiếm ăn — Bạch Hổ ở Dậu và Bạch Hổ ở Dần Mão vì thế mang hai số phận trái ngược. Rồi đến cả bầu trời tám hành tinh, và một kho câu phú cổ đang chờ được mở ra...


Đại Hao Tiểu Hao vừa đóng lại chuyện dòng nước bất tận nuôi Thiên Cơ. Bây giờ đến lượt một mãnh thú: Bạch Hổ, con hổ trắng phương Tây, và sau lưng nó là cả bầu trời tám vì hành tinh mà Hi Di tiên sinh đã đem gán cho từng vì sao trong lá số.

Bạch Hổ khiếu Tây phương cách

Bạch Hổ thuộc Kim, miếu địa ở Dậu. Bạch Hổ hãm địa chủ hình thương, tai nạn; cư ở Tật Ách chủ các bệnh về máu huyết, phong đàm, hội với Thiên Hình hãm chủ mổ xẻ, châm chích, tàn tật. Cư nơi miếu địa thời tính tình cương cường, anh hùng quả cảm, tài kiêm văn võ, là cách "tứ phương cũng phục anh hùng". Ở cung Thân thuộc Kim vượng địa, ví như cọp ra rừng đi kiếm ăn, còn có sự hiểm nguy, nhưng ở cung Dậu Âm Kim là như tận thâm sơn cùng cốc, hổ ở đây ví như đã ăn no về hang nằm nghỉ, nên Bạch Hổ miếu ở Dậu là nhập ý đó. Bạch Hổ cư Dần Mão là hổ xuất sơn lâm, hổ ở đây ví như đã ra ngoài bìa rừng, có thể gặp nhiều hiểm nguy, chẳng hạn như thợ săn.

Cách đồng gia của Bạch Hổ và một chính tinh

Mười bốn chính tinh khi hai sao cư ở một cung là có sự tương đồng về bản chất, nên thường hay trao đổi cho nhau về việc sinh hóa, tăng thêm sự rực rỡ tốt đẹp hoặc xấu xa là tùy theo các trung tiểu tinh đi theo phù tá. Nếu Bạch Hổ cư cùng một cung với chính tinh thời nên xét chính tinh thuộc hành nào để luận đoán xấu tốt. Thí dụ Bạch Hổ cư đồng cung với Tham Lang ở Mão là hai sao này cùng cư nơi vượng địa cả, Tham Lang cư Mão, Tử Vi thường cho là cách "hổ xuất lâm biên".

Muốn luận hai sao này phải căn cứ vào ngũ hành: nếu trong cung Mão có nhiều sao thuộc Mộc, lại có sao Hỏa nữa, là Mộc Tham Lang đủ sức họp thành đảng mà đoạt Bạch Hổ Kim, vì Hỏa sẽ giúp cho Mộc thêm rực rỡ, hay Hỏa là chất khắc chế Kim, như vậy là Bạch Hổ Kim kia sẽ bị cháy thiêu. Nhưng ngược lại Bạch Hổ Kim, nếu gặp thêm các sao thuộc Kim, thời Bạch Hổ có thêm vây cánh để tiêu diệt Tham Lang Mộc, như vậy là Tham Lang Mộc không sống được, vì lý Kim khắc Mộc. Cũng như nhất quốc không thể lưỡng vương được, nếu hai anh hùng cùng một nơi dụng võ, tất phải có một bị tiêu diệt, là lý của một chính tinh khi đồng cung với Bạch Hổ. Cần phải căn cứ vào ngũ hành của Mệnh để phân luận: nếu Mệnh Kim là hợp Bạch Hổ, gia thêm sao Kim là thắng Tham Lang đó; ngược lại thấy Mệnh Mộc hội với nhiều sao Mộc là Bạch Hổ sẽ chết. Nên ở Đẩu Số chỉ nhìn vào lá số mà biết người này bị cọp ăn, người thân phơi chiến địa là thế.

Thí dụ Bạch Hổ, Thiên Tướng cư Dần Mão cũng cùng chung một định luật cả, vì Thiên Tướng là tướng binh thiên về võ nghiệp mà Bạch Hổ có nhiều tính chất tướng, như vậy là hai ông chủ tướng lại càng không nên cư đồng gia, sự khắc chế lại càng tăng thêm lên.

Địa cầu chi tinh: tương quan bát đại hành tinh

Khoa Tử Vi liên quan mật thiết tới bát đại hành tinh, vì trong tám ngôi sao này, thì địa cầu của chúng ta cư ngụ là một đơn vị được Hi Di tiên sinh tượng bằng sao Địa Kiếp, để chỉ tất cả các kiếp số mà chúng ta phải gánh chịu, khi các hành tinh chịu chung sức hấp lực của vũ trụ phát ra ảnh hưởng tùy theo độ số của các tinh tú.

Bảng kê bát đại hành tinh: một là Thủy tinh, bát đại hành tinh chi đệ nhất tinh, còn gọi là Phòng, hay là Thìn tinh, xương long chi thế dã, Thủy tinh chi biệt danh Tân Ất. Hai là Kim tinh, bát đại hành tinh chi đệ nhị tinh, kỳ quỹ đạo tại Thủy tinh dữ địa cầu chi gian (vị trí đường quay của Kim tinh ở giữa Thủy tinh và địa cầu); Kim tinh tức là sao Thái Bạch, sao này rất sáng về đêm, thường để xem về giặc giã và tượng các tướng soái của một quốc gia; sao Thái Bạch phạm vào Đế tinh là trong nước xảy ra đảo chánh, nếu sao Thái Bạch bị phạm là triệu chứng thất trận, hay sẽ có một vị tướng soái lớn bị chết. Ba là địa cầu, tượng chi Địa Kiếp, bát đại hành tinh chi đệ ngũ tinh, kỳ phân tuyến đạo khởi ư Dần, ước thập nhị tuế nhi nhất chu thiên. Thái Tuế tại Giáp viết "quan phòng", hữu tại Dần viết "nhiếp đề cách"; thuật số gia rằng Thái Tuế sở tại vi hung phương, kỵ quật thổ, kiến tạo gia trang; Thái Tuế vi hung phương là thuyết đã có từ thời Hán sơ. Sáu là Thổ tinh, bát đại hành tinh chi đệ lục tinh, kỳ quỹ đạo tại Mộc tinh dữ Thiên Vương tinh chi gian. Bảy là Thiên Vương tinh, bát đại hành tinh chi đệ thất, sao này Đông phương đã tìm ra từ thời thượng cổ mãi tới tháng ba năm một nghìn bảy trăm tám mốt Tây phương mới tìm thấy. Tám là Hải Vương tinh, bát đại hành tinh chi đệ bát, sao này do người Anh và Pháp đã tìm thấy từ năm một nghìn tám trăm bốn mươi lăm.

Thái Tuế mộc tinh

Thái Tuế là một đơn vị hành tinh của bát đại hành tinh trong Thái Dương hệ chúng ta. Các thuật số gia đã khám phá từ thời Hán sơ, biết Thái Tuế vận hành theo đường Hoàng Đạo Dần Thân (tức là đông bắc tây nam) và một vòng chu thiên là mười hai năm mới trở về giáp vòng quỹ đạo ở Dần, mà địa cầu chịu trực tiếp xạ ảnh ở cung Dần, nên Tử Vi mới có định luật sinh năm nào an Thái Tuế ở cung ấy là theo chu độ số của Mộc tinh (Thái Tuế). Sở dĩ có thuyết kiêng cữ khai, thổ, kiến tạo gia trang, sợ phòng năm Giáp và tối kỵ năm Dần, vì Dần là cung đã chịu ảnh hưởng Thái Tuế bao trùm, đè nén, như ta gọi là ma đè, ma ám, coi Thái Tuế ở cung sở tại (Dần) là hung phương, và có nhiếp đề cách là ý nghĩa ấy. Nếu nói Thái Tuế Hỏa là lầm lẫn lớn vậy.

Văn Khúc Nam Mệnh ca

Văn Khúc thủ Mệnh tối vi lương
Tướng mạo đường đường chí khí ngang
Sĩ thứ phùng chi ưng phúc hậu
Trượng phu đắc thử phụ kim chương.

Phú cổ không xếp theo cung theo sao mà theo từng câu, mỗi câu một cách cục, mỗi cách cục một số phận được đem ra làm gương.

Tử Vi phú

Mệnh hảo, Thân hảo, Hạn hảo đáo lão vinh xương. Mệnh suy, Thân suy, Hạn suy chung thân khất cái. Cung Mệnh cung Thân có sao Tràng Sinh, Đế Vượng đắc vị, bản cung (tức cung mình chú trọng, như xem về công danh tất phải coi cung Quan Lộc là bản cung) cũng được cát tinh miếu vượng, đại tiểu hạn cũng có cát tinh và đều tương sinh với nhau thì bất cứ mưu tính việc gì cũng thành đạt mỹ mãn. Nếu Mệnh Thân ở vào hãm địa (tứ tuyệt chi hương) bản cung không có cát tinh, lại hội với hung sát tinh tai hại, cung Đại Hạn và Tiểu Hạn tất quyết định là bần tiện, đến mức bị gậy sinh nhai.

Giáp Quyền, giáp Lộc thiếu nhân trí
Giáp Quyền giáp Khoa thế sở nghi.

Thông thường người ta chỉ biết cách giáp Quyền, Lộc, hoặc giáp Khoa Quyền, chớ ít ai biết cách giáp Quý, giáp Lộc. Người tuổi Bính, Đinh, Nhâm, Quý, Mệnh viên an tại cung Thìn hoặc Tuất, tất được giáp Khôi Việt. Nếu lại gặp Tử, Phủ, Nhật, Nguyệt, Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc hoặc giáp Mệnh, hoặc giáp Thân, đều là cách giáp Quý, được hưởng phú quý song toàn. Và cách giáp Quý giáp Lộc là: người tuổi Giáp, tuổi Thân, Mệnh viên tại Mão hoặc Sửu, cung Dần có Lộc đóng, chính là cách "sinh thành chi Lộc", thượng cách. Ngoài ra, tuổi Giáp cung Dần, tuổi Ất cung Mão, tuổi Canh cung Thân, tuổi Thân cung Dậu đều cũng đồng được cách "sinh thành chi Lộc" vậy.

Giáp Nhật giáp Nguyệt thùy năng ngộ?
Giáp Xương giáp Khúc chủ quý hề
Giáp Không giáp Kiếp chủ bần tiện
Giáp Kình giáp Đà vi khất cái.

Thân hoặc Mệnh có Thái Dương, lại có Thái Âm giáp biên, cũng như Thân Mệnh cung được Xương Khúc giáp hai bên, đều chỉ sự quý hiển. Cung Thân hoặc Mệnh có hai sao Không, Kiếp giáp biên, tất là số nghèo hèn; nếu lại giáp Kình Dương, Đà La là số phải bôn ba đây đó kiếm ăn vậy.

Phúc vô chính diệu, tu cần Không tú, kỵ ngộ Triệt tính. Nhược phùng Sinh Kình Kỵ Việt, vi nhân tiều trưởng. Cung Phúc Đức không có chính tinh, rất cần sao Tuần Không án ngữ, nhưng lại rất kỵ sao Triệt. Nếu Phúc cung có các sao Sinh Hình Kỵ Việt sẽ là người tiều phu, thợ rừng, hay các người hành nghề khai thác lâm sản.

Phúc tại Tý cung, Đồng Âm Kiếp Tử (sao Tử) Triệt Tuần xâm, hữu học vô lương, tiện yểu cách. Cung Phúc Đức cư Tý có các sao Đồng Âm Kiếp Tử gặp Triệt Tuần, chủ người có học nhưng bất thành danh và bất chính, thường là người đa hư thiểu thực, nghèo hèn và chết non.

Liêm Trinh Thất Sát phản vi tích phú chi nhân, Thiên Lương Thái Âm khước tác phiêu bồng chi khách. Liêm, Sát là hai sao hung dữ, gặp nhau một cung lại phản thành cách giàu có tiền kho bạc đụn, bởi vì Liêm thuộc Kim, tất thị Hỏa năng chế Kim vi quyền (lửa luyện sắt thành quyền lực). Thiên Lương Thái Âm là hai cát tinh chủ quý hiển, nhưng hội nhau lại bị chiết giảm thành cách "phiêu bạt lang thang", vì lẽ Thái Âm cư Mão Thìn Tỵ Ngọ là hãm địa, và sao Thiên Lương thủ Mệnh hoặc Thân tại cung Tỵ, Hợi chủ cơ hàn, hoặc phiêu đãng tha lương, đắm luyến tửu sắc, nay quán này mai tiệm khác. Lại có lời rằng: Lương cư Tỵ, Ngọ là hãm địa, nhưng cũng "bất tác đôn hậu chi nhân" (không là người đầy đặn).

Liêm Trinh chủ hạ tiện chi cơ hàn, Thái Âm chủ nhất thân chi khoái lạc. Thân Mệnh an Tỵ Hợi cung, ngộ Liêm Trinh là hãm địa, tam phương và tiền hậu đều không có cát tinh củng chiếu hoặc giáp, tất thị mang nghiệp nghèo cố định. Sao Thái Âm thủ Thân Mệnh từ cung Mùi đến cung Tý chỉ sự phú quý, nếu lại hội được nhiều cát tinh sự phú quý quyết chẳng nhỏ, và nếu chỉ hội được cát tinh thời cũng thành kẻ "đao bút công danh".

Tiền bần hậu phú, Vũ Tham đồng Thân Mệnh chi cung; tiền phú hậu bần chỉ vi vận phùng Kiếp Sát. Tham Lang Vũ Khúc thủ Mệnh tại cung Sửu hoặc Mùi tất trước nghèo sau giàu, vì Vũ thuộc Kim khắc với Tham thuộc Mộc, và Mộc nhờ có sự chế hóa tất trở thành hữu dụng. Mệnh hoặc Thân có một hai chính diệu, lúc vào đời gặp được hạn tốt, cho tới trung niên hạn làm tuyệt địa, lại ngộ Kiếp Không Hao Sát, thành thử những tốt đẹp ở Thân Mệnh trước bị vô hiệu hóa, dĩ nhiên hậu vận phải nghèo hèn không thể lẩn tránh được.

Xuất thế vinh hoa, Quyền Lộc thủ Tài Quan chi vị; sinh lai bần tiện, Kiếp Không lâm Tài Phúc chi hương. Quyền và Lộc tọa thủ miếu địa tại cung Tài Bạch hoặc cung Quan Lộc, gia hội nhiều cát tinh, nhất định là đắc cách phú quý vinh hoa. Địa Không và Địa Kiếp đóng vào cung Phúc Đức hoặc cung Tài Bạch là số của những người vận kiếp nghèo hèn.

Văn Khúc, Vũ Khúc vi nhân đa học, đa năng; Tả Phụ, Hữu Bật bỉnh tính khắc khoan khắc hậu. Hai sao Văn Khúc, Vũ Khúc thủ Mệnh tại các cung Thìn Tuất Tỵ Hợi Mão Dậu, ngộ được cát tinh nữa, tất chủ bậc học rộng, tài cao hơn đời. Tả Phụ và Hữu Bật tọa thủ cung Mệnh dù có hội với các sao cát hoặc hung nhiều ít, cũng vẫn là người có độ lượng bao dung và cách đối xử đầy đặn với mọi người.

Hỏa Khốc nhập cung, thiết đồng dị thành chân nghiệp. Mệnh viên có Hỏa tinh và Thiên Khốc, đó là số những người chuyên về nghề làm đồ bằng đồng, bằng sắt.

Thân cư Phúc hương vô chính diệu, tối kỵ Kiếp Dương Triệt Sát; Cái ngộ Đà Không, thị vi cứu cánh chi tinh; Nhược Kình miếu Phúc Trạch, tu cần Tướng, Hình, Ấn, Mã, thị vi võ hiển thanh dương. Nếu Thân cư Phúc Đức, không có chính tinh mà lại gặp các sao Kiếp Kình Triệt Sát là sự rất e ngại. Nhưng Phúc cung vô chính diệu, lại gặp được Đà La, Tuần Không, ví như hai vị cứu khổn phò nguy, giải tỏa được các tai biến. Cung Phúc gặp Kình Dương nhập miếu, và hội được với các sao Tướng Hình Ấn Mã tất được võ nghiệp hiển hách, danh tiếng lẫy lừng và chắc chắn được phú quý song toàn.

Mệnh Không, Thân Kiếp lai hội song Hao, vô chính diệu, thiểu học đa thành. Cung Mệnh lập tại Mão có song Hao đồng cung với Địa Không, Thân cư Quan Lộc đồng cung tại Mùi với Địa Kiếp, người tuổi Tân Quý hay Thủy Mệnh là người rất thông minh, học ít hiểu nhiều và tất thành đạt quý hiển.

Mệnh Thân đồng cung Tỵ, Ngọ hoặc cư Tuyệt xứ, vô chính tinh, khủng kiến Mã Linh Hình Kiếp, chung thân như hoa khai ngộ vũ mãn thế, phi yểu triết nhi hình thương. Nếu Mệnh Thân đồng cung tại Tỵ hoặc Ngọ, hoặc Hợi cung, vô chính tinh, hội Mã Linh Hình, Kiếp Không cũng chiếu, ví như hoa nở gặp mưa to gió lớn, tất chung thân tần khổ, bằng chẳng vậy sẽ bị hình thương hoặc yểu vong.

Thiên Phủ Thiên Tướng nãi vị y lộc chi thần, vị sĩ vị quan định chủ hanh thông chí triệu. Mệnh an tại cung Sửu có Thiên Phủ Thiên Tướng ở Tỵ Dậu lai triều; hoặc Mệnh ở cung Mùi được Thiên Phủ, Thiên Tướng ở Hợi và Mão triều lại, là cách phú quý trên gấm dưới nhung. Sĩ tử và quan chức, hạn gặp hai sao Phủ, Tướng là điềm triệu hanh thông, người đỗ đạt, người thăng quan tiến chức.

Miêu nhi bất tú, khoa danh hãm ư hung thần; phát bát chủ Tài, Lộc chủ triền ư nhược địa. Sao Hóa Khoa bị hãm với Không, Kiếp hoặc Dương hay Đà một cung, hoặc Thái Dương tại Tuất, Khoa Nguyệt lại Mão, thì tuy bản chất tam Hóa là "cát hóa" nhưng Khoa Quyền Lộc ở cách này "diệt bất vi mỹ dã". Cho nên "lúa mạ không tươi tốt" hàm nghĩa tài hoa yểu tử, do Khoa bị hãm với hung sát vậy. Hóa Lộc mà không làm vượng được tài lộc, vì Hóa Lộc bị hãm nhược địa, tức là trường hợp Lộc bị hãm với Kiếp Không hoặc Lộc làm Tý Ngọ Mão Dậu cung cũng vậy, chẳng những Lộc bị vô dụng mà còn chủ cô đơn, bần hàn nữa.

Thất Sát triều đẩu, tước lộc vinh xương
Tử Phủ đồng cung chung thân phúc hậu.

Thất Sát thủ Mệnh tại Dần Thân Tý Ngọ là được cách trên, hoặc cách Tả Hữu Khôi Việt Xương Khúc tọa chiếu hay tương hội chủ một đời phú quý vinh hoa. Tử Vi Thiên Phủ đồng thủ Mệnh tại Dần hoặc Thân, tam phương Tả Hữu Khôi Việt cũng chiếu, chỉ sự phú quý chung thân phúc hậu, người tuổi Giáp gặp cách này là cực mỹ.

Tử Vi cư Ngọ vô sát, tấu vị chí công khanh
Thiên Phủ lâm Tuất, hữu tinh phù, yêu kim ý tử.

Cung Mệnh có Tử Vi tại cung Ngọ, không gặp Kình Đà Không Kiếp là đắc cách trên, tất được đại quý; nếu là các cung khác, chủ được giàu có, sung túc, hoặc quý hiển trung bình thôi. Sao Thiên Phủ cư Mệnh tại Tuất, có Tả Hữu phù chiếu, chủ sự quý hiển gấm vóc, vàng đeo ngọc dát. Nếu gặp hung sát tinh, không được trúng cách như trên, nhưng nếu hội Khôi, Việt, Tả Hữu, Lộc Quyền cũng chủ sự phú quý vậy.

Khoa Quyền Lộc củng danh dự chiêu chương, Vũ Khúc miếu viên uy danh hách dịch. Mệnh có một Hóa, Quan Lộc và Tài Bạch mỗi cung một Hóa là cách "Tam Hóa cùng Mệnh" chủ vị đến bậc Tam Công.

Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn