Bài tổng quan
Mệnh và vận: vì sao cùng tổ hợp sao mà khác đời
Người sinh cùng giờ có chung một khúc tuyến mừng giận buồn vui, còn người chỉ giống nhau ở tổ hợp sao thì mỗi người một ngả, bởi tứ hóa năm sinh rơi vào những cung khác nhau. Bắc phái Tứ Hóa lấy bốn nhóm giả định cùng mệnh bàn của một thương nhân sinh năm Quý để chỉ ra điều ấy. Vì đâu ông huy hoàng hai ba mươi năm rồi vẫn quay về số không?
Mục lục · 6 phần
NGƯỜI SINH CÙNG NĂM, CÙNG THÁNG, CÙNG NGÀY, CÙNG GIỜ, CÙNG GIỚI TÍNH, CÓ CHUNG MỘT MỆNH VẬN HAY KHÔNG? Rất nhiều người ngờ vực điều này, kể cả những nhà nghiên cứu mệnh lí lâu năm. Có người tìm cách bổ sung rằng diện tướng khác nhau, bối cảnh trưởng thành khác nhau, nơi sinh khác nhau, cho nên tuy cùng giờ sinh mà mệnh vận vẫn khác. Đáp án của Bắc phái Tứ Hóa thì dứt khoát: họ có mệnh vận giống nhau.
Mệnh Vận Là Khúc Tuyến Của Lịch Trình Tâm Lộ
Tứ Trụ Tử Bình hay Tử Vi Đẩu Số, lúc luận mệnh đều chỉ cần năm, tháng, ngày, giờ sinh cho chính xác; các nhân tố khác rất ít ai hỏi đến. Ấy là vì mục đích chủ yếu của việc đoán mệnh là tìm ra các khúc tuyến của lịch trình tâm lộ, điều mà cổ nhân gọi là "mệnh vận".
Người có cùng năm tháng ngày giờ sinh thì các khúc tuyến mừng, giận, buồn, vui trong đời ắt không khác nhau. Họ có thể làm việc ở những lãnh vực khác nhau, sống trong những bối cảnh khác nhau, tài sản nhiều ít cũng khác nhau; nhưng trong quá trình tâm lộ, độ cảm thụ, mức thỏa mãn hay bất mãn về cuộc sống đều đi theo cùng một dạng khúc tuyến. Hiểu như vậy thì họ có cùng một mệnh vận.
Cùng Một Tổ Hợp Sao, Khác Nhau Ở Tứ Hóa Năm Sinh
Xem nhiều mệnh bàn Đẩu Số sẽ thấy có những người sinh khác năm mà mệnh bàn gần như giống hệt nhau về tính chất, chỗ khác chỉ là tứ hóa năm sinh. Chính chỗ khác ấy cấu thành những xu hướng cuộc đời khác nhau. Gặp hai mệnh bàn như vậy, nhiều người vội cho rằng hai đương số sẽ có mệnh vận giống nhau; đó là kết luận của người nghiên cứu Đẩu Số chưa chuyên sâu. Người thật có tâm với mệnh lí học sẽ phân biệt được hai trường hợp, chứ không chỉ dựa vào tính chất các sao mà giảng chung chung.
Hai người ấy tuy có "phần cứng" cùng một dạng, tức tổ hợp sao giống nhau, nhưng hướng nỗ lực trong đời vẫn có thể khác nhau hoàn toàn. Đó đều là do tác động của tứ hóa. Cung có tứ hóa năm sinh tọa thủ sẽ định đoạt những câu hỏi lớn của một đời người: Có vui vẻ, hạnh phúc hay không? Có thỏa mãn với thành tựu của bản thân hay không? Lúc bị xung kích, thành quả của sự nỗ lực có tan thành mây khói hay không? Bản thân có được hưởng đầy đủ thành quả do mình làm ra hay không?
Nhóm A và nhóm B: Lộc Kị đổi chỗ giữa cung mệnh và cung phu thê
Chỉ lấy Hóa Lộc, Hóa Kị năm sinh để thuyết minh. Giả thiết nhóm A có Hóa Kị ở cung mệnh, Hóa Lộc ở cung phu thê; nhóm B có Hóa Lộc ở cung mệnh, Hóa Kị ở cung phu thê; còn các sao ở cung mệnh và cung phu thê của hai nhóm đều giống nhau. Vậy luận hôn nhân của họ ra sao, có giống nhau chăng?
Rõ ràng vận thế tiên thiên của hai người khác nhau. Người nhóm A sẽ vì hôn nhân mà trả giá mọi thứ; để gia đạo êm ấm, họ nuốt giận nín nhịn, nhưng cuối cùng vẫn li hôn. Người nhóm B tuy đa tình, đầy cảm tính, nhưng lại khó gặp đối tượng để phối đôi; trước khi kết hôn thấy khó khăn trùng trùng, gặp nhiều trở lực; sau khi kết hôn còn có thể vì người phối ngẫu mà ôm nặng ngờ vực, trước sau không cách nào buông bỏ. Cảnh ngộ trong tình trường của hai nhóm hoàn toàn khác nhau. Kết luận tuy đều là hôn nhân bất hạnh, nhưng lịch trình tâm lộ thì mỗi người một ngả.
Nhóm C và nhóm D: Vị trí Hóa Khoa quyết định nguy ách
Lại ví dụ, vào một đại vận nào đó, can cung đại vận khiến Hóa Kị rơi vào cung phụ mẫu của địa bàn, còn Hóa Khoa vào cung quan lộc của địa bàn; gọi người này là nhóm C. Một người khác, can cung đại vận cũng khiến Hóa Kị rơi vào cung phụ mẫu của địa bàn, nhưng Hóa Khoa lại vào cung tài bạch của địa bàn; gọi người này là nhóm D. Giả thiết các sao ở địa bàn của hai người đều giống nhau, chỉ khác tứ hóa.
Trong đại vận ấy, người nhóm C dễ sinh bệnh nhưng không đến nỗi nghiêm trọng, dù bệnh nặng cũng chóng khỏi. Người nhóm D thì không được lạc quan như vậy, có thể lâm trọng bệnh. Vị trí của sao Hóa Khoa lúc này đóng vai trò then chốt trong chuyện có nguy ách hay không. Đó là nguyên nhân khiến hai người có tổ hợp sao đồng dạng mà vận trình vẫn khác nhau.
Tử Vi Đẩu Số đoán mệnh thoạt nhìn có vẻ phức tạp; thực ra trọng điểm của nó chỉ là tính toán tình hình tứ hóa đi qua các cung, nơi các sao xảy ra biến hóa mà thôi.
Bốn Hóa Diệu Trong Đời Sống Thường Nhật
Hóa Lộc là suối nguồn của dục vọng, là động lực của sinh mệnh. Hóa Quyền là năng lực thực hiện, là phương cách đạt thành mục tiêu. Hóa Khoa dựa vào tính chất của sao hành hóa để loại trừ chướng ngại, để bù đắp, trang hoàng, mĩ hóa. Hóa Kị thì dựa vào tính chất của sao hành hóa và cung nó tọa thủ để luận tình hình cát hung thành bại, đánh giá họa phúc sau khi Hóa Lộc đã động tâm khởi niệm. Đem bốn ý tượng ấy liên tưởng rộng ra, sẽ thấy đó chính là những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.
Mệnh Bàn Của Ông A: Tứ Hóa Vẽ Nên Quỹ Tích Một Đời
Lấy mệnh bàn của ông A làm ví dụ để thấy rõ tác động của tứ hóa; khi đọc, xin tạm gác những quan niệm đã học trước đây về Tử Vi Đẩu Số. Ông A sinh năm Quý. Cung mệnh ở Sửu, có Thái Dương và Thái Âm Hóa Khoa đồng cung. Cung huynh đệ ở Tí có Vũ Khúc, Thiên Phủ; cung phu thê ở Hợi có Thiên Đồng. Cung tử nữ ở Tuất có Phá Quân Hóa Lộc. Cung tài bạch ở Dậu vô chính diệu; cung tật ách ở Thân có Liêm Trinh; cung thiên di ở Mùi vô chính diệu; cung nô bộc ở Ngọ có Thất Sát; cung quan lộc ở Tị có Thiên Lương; cung điền trạch ở Thìn có Tử Vi, Thiên Tướng. Cung phúc đức ở Mão có Thiên Cơ và Cự Môn Hóa Quyền. Cung phụ mẫu ở Dần có Tham Lang Hóa Kị.
Cần lưu ý: trong mệnh bàn này, Hóa Lộc ở "tha cung" (cung tử nữ), Hóa Kị cũng ở "tha cung" (cung phụ mẫu). Những lời giải thích dưới đây nói về "thùy tượng", tức ý tượng cơ bản trước khi mệnh bàn chuyển động, là mệnh bàn lúc mới sinh ra. Các cung có tứ hóa năm sinh là đầu mối của tình hình cát hung họa phúc suốt cuộc đời ông A, cũng là kết quả luận định tạm thời về cuộc đời mệnh tạo.
Phá Quân Hóa Lộc ở cung tử nữ
Cung tử nữ thuộc "tha cung". Trong Tứ Hóa phái, cung tử nữ chủ về tác động giữa mệnh tạo với con cái, chuyện hợp tác làm ăn, giao tế thù tạc, tình yêu và tính dục ở bên ngoài; quan trọng hơn cả, nó chủ về "tiêu xài và trả giá".
Phá Quân Hóa Lộc ở cung tử nữ tại Tuất mang ý tượng như sau. Ông A đối đãi với con cái rất tốt, kì vọng nhiều ở con (vì ảnh hưởng của quan niệm hạn chế sinh đẻ nên không luận số con); nhưng con cái có tính ngỗ nghịch, biểu hiện rất trái với kì vọng của cha, sau khi trưởng thành sẽ không ở chung với ông. Mong muốn trong đời của ông A là hợp tác làm ăn để dựng sự nghiệp; nhờ dục vọng thúc đẩy, mô thức lập nghiệp ấy được thành hình. Ông rất biết giao tế, quan niệm rằng giao tế, trả giá và tiêu xài có thể giúp mình sáng lập và củng cố sự nghiệp. Cũng vì khát vọng theo lối này, không loại trừ việc ông dùng thù tạc tửu sắc và hối lộ làm con đường tiến thân. Ông nồng nhiệt trong chuyện ân ái nam nữ, có đào hoa ở bên ngoài nhưng mang tính chất "mua bán". Ông có nhiều cơ hội ra ngoài bàn chuyện làm ăn; những lúc ở nhà cũng không chịu ngồi không, mà liên tục dùng điện thoại, mạng để liên hệ với bên ngoài; là mẫu người không cách nào ngồi yên trong nhà.
Trên đây chỉ là căn cứ vào cung tử nữ của thiên bàn ở Tuất có Phá Quân Hóa Lộc mà luận sơ lược; muốn luận tường tận phải đem toàn mệnh bàn ra phân tích.
Thiên Cơ, Cự Môn Hóa Quyền ở cung phúc đức
Cung phúc đức của ông A ở Mão, có Thiên Cơ và Cự Môn Hóa Quyền tọa thủ. Cung phúc đức như vậy rất tinh tế, có thể nói hết thái độ xử sự và biểu hiện của ông. Cung tài bạch đối diện là vô chính diệu. Gặp cung vô chính diệu, không phải mượn sao của đối cung làm "dụng"; tự nó đã có ý nghĩa và tượng trưng riêng. Trong mệnh bàn, huyền nghĩa của cung tài bạch là "cửa ngõ giao dịch"; tài bạch vô chính diệu chủ về lời nói, hành động cử chỉ của mệnh tạo thường không tỏ rõ thái độ. Còn Thiên Cơ và Cự Môn Hóa Quyền chủ về tính toán kĩ lưỡng, rõ ràng, lại có sức thuyết phục và lực tạo tác mang tính quyền uy.
Ông A tiêu tiền dè xẻn, rất chú trọng thực tiễn. Phong cách của ông trên thương trường thuộc phái thực dụng: không xuất chiêu thì thôi, một khi ra tay đều chuyên tâm vạch sẵn một kế hoạch chu đáo. Khí thế oai phong của ông trên thương trường hoàn toàn nhờ uy thế của Thiên Cơ và Cự Môn Hóa Quyền ở cung phúc đức.
Tham Lang Hóa Kị ở cung phụ mẫu
Hóa Lộc ở cung tử nữ là "tha cung", Hóa Kị ở cung phụ mẫu cũng là "tha cung". Hóa Lộc là dục vọng; còn Hóa Kị ở "tha cung" thì sẽ quay đầu, thu về nhập "ngã cung". Hóa Kị ở cung phụ mẫu, thế ắt phải thu về đối cung là cung tật ách. Đó là nơi đóng vai trò then chốt để xem suốt đời mệnh tạo có thành tựu hay không. Kết thúc là xung kích bản thân; cho nên lúc ông A ở vào vận xấu, tất có thị phi về văn thư và quan phi. Xung kích cung tật ách còn chủ về trong đời này ông ắt có một lần mắc bệnh nghiêm trọng. Hóa Kị ở cung phụ mẫu lại chủ về giữa ông A và cha mẹ có sự ngăn cách, tuy ông vẫn là người con có hiếu; vì một số nguyên nhân, sau khi thành gia thất ông sẽ không ở chung với cha mẹ.
Thái Âm Hóa Khoa ở cung mệnh: liều thuốc cứu mạng
Ông A là người thông minh lanh lợi, điển trai, rất có sức quyến rũ đối với phụ nữ; tính tình thay đổi thất thường, trong lòng rất tự phụ nhưng không biểu lộ, phong thái đạo mạo, hiên ngang. Đó tuy là tượng của Thái Âm Hóa Khoa và Thái Dương ở cung mệnh, nhưng nhân tố tối quan trọng là sao Hóa Khoa ở cung mệnh: nó còn là liều thuốc "cứu mạng" lúc ông ở vào vận thế xấu. Đến trung niên và vãn niên, ông A làm ăn thất bại, công ti sụp đổ, kiện tụng liên miên, nhưng may mà thoát được nạn. Dù đã từng huy hoàng hai ba mươi năm, rốt cuộc ông cũng quay về số không.
Tính toán quỹ tích của cuộc đời có thể giúp người ta suy nghĩ, tự kiểm điểm về cuộc sống, có cái nhìn xa để lập kế hoạch cho đời mình. Đó cũng là chuyện có ý nghĩa nhất của việc đoán mệnh cho bản thân.
Mệnh Bàn Cơ Bản Chỉ Là Phương Thức Kết Cấu
Mỗi người đều có mệnh và vận của riêng mình, đó là điều mà mệnh bàn biểu thị. Tổ hợp sao ở các cung khác nhau cấu trúc thành những "mệnh" khác nhau. Tổ sư Trần Hi Di vận dụng trí tuệ của mình, lấy năm, tháng, ngày, giờ sinh làm y cứ, lập nên mệnh bàn để dự đoán tình hình cát hung họa phúc trong cuộc đời mỗi cá nhân.
Bày xong mệnh bàn sẽ thấy việc bài bố các tổ hợp của 14 chính tinh sinh ra 144 phương thức mệnh bàn khác nhau; đó là những mệnh bàn cơ bản. Giả thiết kết cấu mệnh bàn cơ bản của một người giống với mệnh bàn của nhà đại tỉ phú Vương Vĩnh Khánh, tức "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh ở cung Tuất; nếu luận về tài phú, e rằng người ấy khó mà sánh với họ Vương. Cho nên mệnh bàn cơ bản chỉ là phương thức kết cấu mệnh bàn. Lấy phương thức "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh để luận mệnh lí của Vương Vĩnh Khánh, rồi cũng lấy phương thức ấy để luận cả cuộc đời của một người khác, thì không thể coi là đoán mệnh, mà chỉ là quy nạp sơ bộ. Hai người về cá tính sẽ có điểm tương đồng, nhưng lực tạo tác thì có chỗ khác nhau. Nếu chính tinh giống nhau mà mệnh vận giống nhau, thì cứ mỗi một ngàn người ắt phải có bảy, tám nhà tỉ phú; hẳn tổ sư Hi Di sáng lập Tử Vi Đẩu Số đâu đến nỗi thô thiển như vậy.
Cũng là "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh ở cung Tuất, ít nhất có 10 loại hoàn toàn khác nhau, vì can năm sinh khác nhau có thể diễn ra 10 hình thức, ứng với 10 thiên can. Còn y cứ quan trọng để quyết định cách cục lớn nhỏ là cục số ngũ hành lúc bài bố mệnh bàn: thủy nhị cục, mộc tam cục, kim tứ cục, thổ ngũ cục, hỏa lục cục. Bởi vậy hai người tuy cùng "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ mệnh mà mệnh vận lại hoàn toàn khác nhau. Đây là quan niệm rất quan trọng, cần xác lập ngay từ lúc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số Tứ Hóa phái.
Tứ Hóa Là Mật Mã Khơi Động Nguồn Lực Của Sinh Mệnh
Lực tác động của Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị nhập vào sẽ khiến toàn bộ các tổ hợp sao trong mệnh bàn nảy sinh hiện tượng "quá khích", tạo ra phản ứng dây chuyền. Giống như địa chấn dưới đáy biển tạo ra sóng thần, như gió bão tạo ra lốc xoáy: chỉ cần nổi lên một cơn sóng thì không thể dừng ngay lại được, mà sẽ sinh ra một chuỗi sóng gió dồn dập, sóng sau đẩy sóng trước.
Tứ hóa chính là mật mã biểu thị hiện tượng khơi động nguồn động lực của sinh mệnh. Nói cách khác, không có tứ hóa thì toàn bộ mệnh bàn chỉ là một mệnh bàn cứng ngắc, không thể diễn tả được sự biến động thay đổi vốn rất phức tạp của cuộc sống.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 9 "Nguyên tắc luận đoán vận hạn của Tứ Hóa phái", mục "Mệnh và vận".
